VỪA BẮT ĐẦU LÀ ĐẦY ĐỦ TẤT CẢ - (Thiền sư Taizan Maezumi Diệu Hạnh dịch)

            Phải tọa thiền như thế nào mới đúng? Khi tọa thiền thân thể cần phải thoải mái mới đúng.

          Tọa thiền là đang tu hành “thân là Bồ-đề(1) (khai ngộ)”, cũng là thể chứng Bồ-đề; vì nếu chúng ta thực sự đang Tọa thiền thì sẽ không có phân biệt giữa tu hành và thể chứng. Đó là trí tuệ “Như thị” (as, is), là trí tuệ “sự vật thế nào thì chính là thế ấy”. Tọa thiền là đang tu Phật đạo, cho nên cũng là đang tu sinh mệnh chính mình.

 

          Tu hành giỏi nhất chính là quên chính mình còn một cách giải thích khác, đó là quan hệ vượt qua chủ thể - khách thể (subjective – objective relationship), hay quan hệ vượt qua nhân – ngã ( I – Other relationship). Chúng ta vượt qua Nhị nguyên đối lập.

 

          Ngồi thiền chính xác nhất là phải ngồi như thế nào?

          Trước hết, phải chú ý đến tư thế của thân và tâm. Tư thế của tay hay còn gọi là thủ ấn (mudra), là tượng trưng cho sự thống nhất của những sự vật vốn đối lập, là phản ánh sự hòa hợp, hoàn chỉnh hay viên mãn. Theo tông Tào Động, thủ ấn mà chúng ta hành trì là thủ ấn của Phật Tỳ Lô Giá Na(2). Phật Tỳ Lô Giá Na là hóa thân “vô sắc vô tướng”.

 

          Thủ ấn Phật Tỳ Lô Giá Na có hai loại. Theo thiền sư Oánh Sơn Thiệu Cần (Keizan Shokin, 1268 – 1235) và thiền sư Đạo Nguyên tông Tào Động thì cho rằng thủ ấn Phật Tỳ Lô Giá Na là bàn tay trái đặt lên bàn tay phải. Thủ ấn này có rất nhiều cách giải thích, một thuyết cho rằng tay phải đại diện cho “dương” là chủ động; tay trái đại diện cho “âm” là tĩnh, bị động; cho nên, khi ngồi thiền bàn tay trái đặt lên trên bàn tay phải là biểu thị rằng lấy âm chế phục dương, lấy tĩnh chế phục cái động của thân tâm. Nhưng nếu nhìn trên tượng Phật Tỳ Lô Giá Na thì bạn thấy bàn tay phải của Ngài đặt lên trên bàn tay trái. Vì lẽ đó mà thủ ấn Phật Tỳ Lô Giá Na có hai hình thức như vậy.

 

          Hai ngón tay cái đặt ngang nhau, đầu ngón tay chạm nhẹ. Có người khi Tọa thiền mà tay không đặt ngang nhau thì sẽ không có cảm giác. Hai tay đặt ngang nhau giống như mặt nước yên tĩnh, yên bình nhưng không căng thẳng. Tư thế ngồi quá căng thẳng hay quá buông lỏng đều biểu hiện trên thủ ấn: nếu ngón tay cái quá căng cứng hay hai ngón tay quá áp sát nhau, hoặc là quá rời xa đến mức không thể chạm nhau thì đều phản ánh tư thế ngồi của bạn chưa đúng.

 

          Nếu ngồi bán già thì bạn phải đặt hai tay lên trên chân, thủ ấn cũng phải nằm ở vị trí cân đối. Có khi bạn cho rằng tư thế ngồi của mình là đúng, nhưng thực ra phải giữ cho vị trí thủ ấn chính xác là việc không hề đơn giản. Bạn nên ngồi trước tấm gương soi để có thể điều chỉnh tư thế ngồi, hoặc cũng có thể nhờ người khác kiểm tra tư thế ngồi giúp mình.

 

          Tư thế của chân cũng cần phải chú ý. Khi ngồi kiết già(3) hay bán già thì đăt mu bàn chân lên trên bắp đùi. Tôi biết nơi bàn chân có một huyệt (gọi là huyệt vũng tuyền) có liên quan đến hơn bảy trăm huyệt châm cứu và mười sáu mạch kinh lạc. Do đó, khi chúng ta ngồi kiết già hay bán già thì bàn chân sẽ được kích thích rất nhiều. Thân thể an định rồi thì khi ngồi bạn sẽ cảm thấy rất dễ chịu.

 

          Nếu ngồi trên ghế dựa thì bạn vẫn phải nhớ những nguyên tắc này, nhưng bàn chân cần phải đặt ngang bằng trên mặt đất. Khi đó, bàn chân giống như rễ cây vươn dài đâm xuyên vào đất -  không phải cưỡng ép xuyên vào mà là “phát triển” một cách tự nhiên. Thân thể chúng ta cũng giống như vậy, yên ổn vững vàng tiếp xúc với mặt đất. Như thế, chúng ta không những trở nên rất vững chãi, mà còn có thể hòa hợp thành một với mặt đất.

 

          Sau khi thân thể an định, bạn bắt đầu lay động nửa thân hình trên của mình qua phải, qua trái theo đường cong lớn rồi nhỏ dần, nhưng phải giữ cột sống cho ngay thẳng. Thu cằm lại, mắt hé mở, tầm nhìn hướng về phía trước chừng một mét, góc nhìn bốn mươi lăm độ. Bạn bắt đầu ngồi thiền. Khi kết thúc, bạn cũng phải lay động nhẹ nửa thân hình trên. Nhưng ngược lại, bạn sẽ lay động từ đường cong nhỏ rồi lớn dần, góc nhìn tăng dần. Không chỉ thân thể phải lay động, lay chuyển dần dần cho đến khi đứng dậy và đi.

 

          Sự lay động chầm chậm này là một trình tự rất tự nhiên. Nếu sau khi ngồi thiền, với Tam-ma-địa(4) rất mạnh mà bạn đứng dậy ngay thì sẽ rất khó. Nếu có thể đứng dậy rất nhanh thì chứng tỏ sức định của bạn tương đối yếu. Vì thế, nhờ vào sự lay động để cho thân thể từ từ ra khỏi tư thế ngồi sẽ giúp bạn khả năng tập trung, chú ý.

 

          Bắt đầu Tọa thiền, trước tiên bạn phải hít thở sâu vài lần. Hít thở trong tiếng anh gọi là “inhale” và “exhale”, trong tiếng Nhật gọi là “kokyũ” (hô hấp), trong đó “ko” (hô) là thở ra, “kyũ” (hấp) là hít vào. Theo logic thì phải “hit vào” trước mới đúng, chẳng qua là sau khi thân thể đã ngồi yên nên phải thở ra trước vậy.

 

          Khi thở ra phải cố gắng thở ra bằng miệng, không nên thở ra bằng mũi. Thông thường, hơi thở ra của chúng ta vẫ luôn quá ít so với hơi thở vào; do vậy khi ngồi thiền, hơi thở ra nên để miệng hở, đẩy hết toàn bộ không khí trong buồng phổi ra, cảm giác buồng phổi bị bóp ép đến ngừng lại. Lúc này, nửa thân trên của bạn có thể hơi nghiêng về phía trước.

 

          Khi thở ra bằng miệng thì bạn sẽ cảm giác mình đã đẩy ra được những độc tố trong cơ thể, chứ không chỉ thở không khí mà thôi. Tiếp đến, khi hít vào thì không khí đi vào rất nhanh. Buồng phổi trương phồng lên hết mức để hít thật sâu. Cứ như thế mà thở ra, hít vào. Khi thở ra, bắp thịt ở mông co lại; khi hít vào thì buông lỏng. Sau khi kết thúc Tọa thiền, hãy để cho sự hít thở của bạn trở lại bình thường, thoải mái.

 

          Nói đến thở ra hít vào, tôi chợt nhớ đến câu nói rất vui của sư phụ tôi – thiền sư Ninh Phản (Osaka). Sư phụ nói: “Khi hít vào thì phải đưa toàn bộ vũ trụ đi vào; khi thở ra thì phải đẩy toàn bộ vũ trụ đi ra. Thở ra, hít vào. Thở ra, hít vào. Cuối cùng bạn sẽ quên luôn sự khác biệt giữa hít vào và thở ra, thậm chí quên cả sự việc hít thở này. Bạn chỉ đang ngồi đó trong cảm giác thống nhất”.

 

          Chúng ta tập trung sức chú ý vào đan điền. Đan điền ở vị trí dưới rốn khoảng 5 cm, là nơi sinh ra khí – năng lượng cơ thể. Khi ngồi kiết già hay bán già, bàn chân nằm trên bắp đùi rất gần đan điền, tiếp nhận khá nhiều sự kích thích; cho nên có thể cải thiện công năng toàn thân.

 

          Thân thể và hơi thở đã ổn định rồi thì bắt đầu điều tâm. Trong Phổ khuyến tọa thiền nghi (5), thiền sư Đạo Nguyên nói: “Tâm suy nghĩ đến cái không suy nghĩ. Không suy nghĩ là phải suy nghĩ như thế nào? Tức là chẳng suy nghĩ. Đây là yếu tố cơ bản của Tọa thiền.”

 

          Nói cách khác, đó là phải tập trung vào một điểm, tập trung vào trạng thái Bất nhị.

 

          Khi Tọa thiền có thể hiểu được cách “quán” (observing). Quán thì có người quán và vật được quán, đó là Nhị nguyên đối lập. Còn nhị nguyên đối lập thì chúng ta sẽ không thể nghiệm được sự tồn tại, thấy, nghe, ngửi, xúc chạm. Còn sự phân biệt giữa bạn và sự vật thì sẽ có sự tách rời.

          Bạn có thể nỗ lực được bảy mươi, tám mươi, thậm chí chín mươi trăm để bù đắp chỗ tách rời này, nhưng mười phần trăm sau cùng đó là quan trọng nhất.

 

 

          Muốn thể chứng một trăm phần trăm thì phải đi vào Định (Tam-ma-địa), tức là trạng thái không suy nghĩ. Chỉ cần còn có tâm suy nghĩ thì sẽ không cách nào thể chứng được trạng thái không suy nghĩ. Không cách nào thể chứng trạng thái không suy nghĩ thì sẽ không hiểu chính xác sinh mệnh là việc như thế nào. Vì thế, xin quý vị nhất định phải thể chứng điều này. Chỉ quản đả tọa!(6)

 

 

          Chỉ quản đả tọa có thể là việc khó nhất. Bạn nhất định phải quên chính mình thì mới có thể Chỉ quản đả tọa được. Đó là ý gì? Có nghĩa là không có cá nhân ấy đang suy nghĩ, thì sẽ không có những ý niệm ấy. Chúng ta đều trở thành chính ý niệm lởn vởn hiện ra ấy. Có tiếng côn trùng kêu, tiếng chim hót là vì có khái niệm “côn trùng kêu, chim hót”. Vì thế, không có khái niệm này thì chính chúng ta liền trở thành những âm thanh ấy. Cũng vậy, chúng ta đều là những hạt mưa, tiếng sấm, tia chớp. Hễ Tọa thiền thì toàn thể vũ trụ liền hiển bày ra.

 

          Khi Tọa thiền, chúng ta không hề mong đợi đạt được kết quả gì. Tọa thiền không phải là kỹ xảo nhằm đạt được cái gì, mà là một việc rất tự nhiên. Song, nhưng sự việc tự nhiên thì phần lớn đều rất khó. Vì sao vậy? Vì chúng ta biết suy nghĩ.

 

          Suy nghĩ là việc rất tự nhiên, tự nó không có gì sai. Nhưng chúng ta lại rất dễ bị trói buộc vào suy nghĩ, và quá xem trọng suy nghĩ. Chúng ta mượn suy nghĩ để quán chiếu chính mình, quán chiếu kết quả của tự ngã. Suy nghĩ là cái trừu tượng, là cái tồn tại của suy nghĩ, mà không phải là chính sự tồn tại. Thế nhưng, mỗi giây chúng ta đều sinh tử bảy chục ngàn lần, cho nên khi chúng ta vẫn đang suy nghĩ thì cái mà chúng ta suy nghĩ đã trở thành quá khứ lâu rồi. Vì thế, cái mà chúng ta suy nghĩ thực ra chỉ là cái bóng, mà không phải là chính sinh mệnh.

 

          Có một công án nói về tâm rất nổi tiếng, đó là “Liễu bất khả mịch” (hoàn toàn không thể tìm được tâm). Nhưng vì thân và tâm là không hai, cho nên thân cũng không thể tìm. Song, tuy là không thể tìm những vẫn có thể lãnh hội. Lãnh hội như thế nào? Tức là trở thành chính cái đó. Hiển hiện thành cái toàn thể hoàn chỉnh như vậy. Tất cả sự vật không cái nào là không ở ngay đây, lúc này.

 

          Niết-bàn cũng ở ngay đây. Nhưng chúng ta không thấy được sự thật này vì chúng ta mãi tìm kiếm con đường nào khác, sở cầu nào khác. Những sự mong đợi này đều không cần thiết; ngoài ra, mong cầu điều gì mà lần lượt có được những thành tựu cao, thu hoạch lớn đều là việc không cần thiết, vì tất cả sự vật đã đầy đủ từ lâu rồi.

 

          Đời sống chính là Tọa thiền, đời sống chính là Phật đạo, là đang tu Phật pháp. Thiền sư Đạo Nguyên nói: “Học Phật đạo là học chính mình, học chính mình là quên chính mình, quên chính mình thì thấu hiểu vạn pháp”.

 

          Luyện tập đời sống, quên chính mình là ý nói rằng trở thành tự thân của “Đạo” một cách chân chính. Đạo này không phải con đường phương hướng; tất cả sự vật đều là Đạo. Mỗi cá nhân đều là Đạo. Tất cả sự vật mọi lúc đều đã giải thoát, đều hiển hiện thành thể hoàn chỉnh. Đó không phải là hành vi cá nhân, mà là hành vi của tất cả Phật; vì khi Tọa thiền, mình có thể tan biến và không thấy. Tất cả hiện tượng trong vũ trụ đều sẽ hợp thành một với hành vi cá nhân. Chúng ta nhất định phải hiểu Tọa thiền như thế.

 

          Kinh nghiệm về thân tâm như vậy là sự thật phổ biến mà chư Tổ, Cổ đức đã thể chứng được. Thể chứng này là thể chứng được rằng “Đạo” là hoàn chỉnh. Tất sự vật đều ở “chỗ này”, không cần người nào tạo ra. Nhưng vì cái tâm bị ràng buộc ấy của chúng ta có thể ngăn cách Đại ngã (the Oneself) và Tiểu ngã (the oneself), cho nên chúng ta rất khó thể chứng “Đạo” này. Chỉ cần chúng ta vẫn luôn đang suy nghĩ, vẫn luôn dùng quan điểm Nhị nguyên để đối xử với sinh mệnh thì không cách nào quên được chính mình.

 

          Do đó, có những phương pháp do con người tạo ra đôi khi có hiệu quả. Những phương pháp ấy như là: điều trị bằng phẫu thuật ngoại khoa, điều trị bằng thảo dược. Dùng phương pháp phẫu thuật để cắt đi ổ bệnh, tuy có hiệu quả nhưng đôi khi lại có tác dụng phụ. Dùng phương pháp thảo dược thì cũng có hiệu quả như vậy nhưng tương đối chậm hơn. Nhưng cho dù như vậy, việc thể chứng “Đạo” không có chuyện gọi là nhanh hay chậm. Thế thì, Đạo này phải thể chứng ra sao?

 

          Đời sống và tu hành đều có rất nhiều cấp độ. Tôi khuyến khích quí vị hãy nắm lấy mọi cơ hội, lợi dụng mọi phương pháp để khế hợp vào trong đời sống. Nếu cảm thấy cần thiết thì có thể dùng nhiều phương án, phương pháp. Tuy nhiên, đừng bao giờ quên một sự thực rằng từ khởi thủy tất cả đã đầy đủ. Khi tọa thiền, phải tự nhắc nhở mình một tư thế Tọa thiền thật chính xác.

 

          Tất cả chư Phật, chư Tổ đều có thể đảm bảo phương pháp hành trì chính xác cho chúng ta. Hãy tin tưởng chính mình - chính mình đây không phải là chính mình trong suy nghĩ của bạn, mà là chính mình trong toàn thể sinh mệnh của vũ trụ này (the One).

 

 

Chú thích:

 

 

(1)Bồ-đề: S: Bodhi, giác ngộ. Theo Thiền Tông, Bồ-đề là trí tuệ đã giác ngộ tính không cơ bản hoặc chân tính của vạn vật.

 

 

(2)Tỳ Lô Giá Na Phật: S: Mahã vairocana Buddha, một trong năm vị Phật ở năm phương. (“Ngũ phương Phật” còn gọi là “Ngũ Trí Phật”, “Ngũ Trí Như Lai”, đó là: 1. Đại Nhật Như Lai (Tỳ Lô Giá Na Phật) ở chính giữa, cụ túc Pháp giới thể tánh trí; 2. A Súc Như Lai ở phương Đông, cụ túc Đại viên cảnh trí; 3. Bảo Sanh Như Lai ở phương Nam, cụ túc  Bình đẳng tánh trí; 4. A Di Đà Như Lai ở phương Tây, cụ túc Diệu quan sát trí; 5. Bất Không Thành Tựu  Như Lai ở phương Bắc, cụ túc Thành sở tác trí). Thủ ấn của Ngài là thủ ấn Đại quán đảnh quang chân ngôn (đại biểu không trí tuệ); rất nhiều người tu thiền khi ngồi thiền đều hành trì thủ ấn này.

 

 

(3) Liên hoa tọa: Còn gọi là Già phu tọa, nghĩa là ngồi kiết già. Khi ngồi kiết già, bàn chân phải đặt trên đùi trái và bàn chân trái đặt trên đùi phải hai đầu gối chạm nệm và thẳng đường với nhau, bụng thư giản và hơi nhô ra một chút, tai thẳng hàng với vai, chót mũi thẳng hàng với rốn. Cằm hơi rút vào một tí, mông đưa ra sau với lưng thẳng đứng. Hai bàn tay nằm yên trên hai gót chân, hai ngón tay cái chạm nhẹ. Khi ngồi bán già, chân phải đặt dưới bắp đùi trái, chân trái đặt trên bắp đùi phải.

 

 

(4) Tam-ma-địa: S: Samãdhi, trạng thái định tâm. Cũng là trạng thái tri giác Bất nhị, đặc trưng của Định là khiến cho bất cứ việc gì cũng hoàn toàn tập trung mà quên Ngã.

 

 

(5) Phổ khuyến tọa thiền nghi: Được Norman Waddell và Masao Abe dịch ra tiếng Anh là Fukanzazengi, xem Luận thiền nhị của Taizan Maezumi và Bernard Glassman [On Zen Practise II: Body, Breath, Mind (Los Angeles:  Zen Center of Los Angeles)].

 

 

(6) Chỉ quản đả tọa: Có nghĩa “chính là ngồi thiền” hay “chỉ có ngồi thiền, không làm gì khác”. Thuần túy ngồi thiền, không dựa vào sự trợ giúp của những phương pháp: đếm hơi thở, tham công án..v.v.. Đặc điểm là cảm giác chuyên chú, nhất tâm không tán loạn. Chỉ quản đả tọa là “ngồi thiền và ngồi thiền”.

 

 

 

 

Nhà xuất bản Hồng Đức.

 

  • Bằng cách dần dần trở nên quen biết với bản tánh này, sẽ có được quán chiếu đích thực, nó đạt đến tột đỉnh với sự có được tự tin. Một khi đã có tự tin này, bạn chỉ đơn giản ở trong trạng thái đó và giữ gìn sự tự tin đó mà không thêm vào bất kỳ tạo tác nào. Bản tánh tối vi tế này không nhiễm ô bởi những lỗi lầm của sanh tử, thế nên chớ trộn lẫn nó với bất kỳ cái gì khác. Chớ cố gắng tìm kiếm cái gì khác để làm ; chỉ đơn giản ở trong sự tự tin đã đạt được. Hãy an trụ thường hằng trong trạng thái này và thỏa mãn với sự nhận biết đó.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.468
  • Không có gì như tình thương của bậc cha mẹ đối với con cái. Khi ta suy xét về lòng tốt mà cha mẹ ta đã biểu lộ với ta thì chúng ta nên suy tưởng rằng tất cả chúng sinh chịu đau khổ trong vòng sinh tử đã có lúc này hay lúc khác từng là những cha mẹ tốt lành và từ ái của chúng ta. Đây quả nhiên là nguyên nhân để sự phát khởi tự nhiên của lòng bi mẫn, là Bồ đề tâm, tràn trề trong chúng ta, Bồ đề tâm dâng tràn đối với tất cả chúng sinh, thậm chí đối với một con côn trùng bé xíu, con muỗi nhỏ bé nhất.Là các Phật tử, những hành giả Dzogchen, các bạn phải từ bỏ mọi hành vi làm hại bởi các bạn phải nhận ra rằng tất cả chúng sinh đã từng là những cha mẹ của các bạn. Nhận thức đó phải hiện diện trong tâm các bạn. Các bạn cần cảm nhận lòng thương yêu hơn nữa đối với chúng sinh đang ở trong tình huống khó khăn và kém may mắn hơn các bạn và nỗ lực trong khả năng tốt nhất của các bạn để làm lợi lạc cho họ.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.263
  • ss

    Đây là một cái nhìn sơ lược tổng quát về Bốn Yoga. Tính chất định nghĩa của yoga thứ nhất, nhất tâm, là nhận biết bản tánh của tâm bạn. Hơn nữa, bạn chứng ngộ rằng những xuất hiện không là gì khác hơn bản tánh của tâm bạn, và bản tánh ấy giống như sự trống không của không gian. Yoga thứ hai thoát khỏi tạo tác ý niệm, gồm nhận biết rằng mọi xuất hiện là giả hợp ; bạn chứng ngộ rằng bản tánh thật sự của tâm là trống không và thoát khỏi mọi tạo tác ý niệm. Thứ ba, trong yoga của một vị, bạn nhận biết rằng sanh tử và niết bàn đồng một bản tánh, nó là chìa khóa để đạt đến giác ngộ. Trong yoga thứ tư, yoga của không-thiền định, bạn nhận biết rằng toàn bộ sanh tử và niết bàn vốn là không sanh, không trụ và không diệt. Nhị nguyên căn bản nhất của chủ thể và đối tượng vốn là không có nền tảng và là một bản tánh, Pháp thân.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.862
  •  

     

    Nói đến tâm này, Padmasambhava nói rằng bản tánh vốn có của nó, tánh giác nội tại, đã hiện hữu từ nguyên thủy, nghĩa là nó không được tạo ra ở một điểm nào đó trong thời gian. Nhưng nó đã không được nhận biết vì vô minh hay không giác của chúng ta trong mọi đời trước. Nó giống như một viên ngọc quý tự tỏa sáng mà trải qua vô số thế kỷ đã bị bọc thêm nhiều lớp tạp chất. Những lớp che chướng này là phiền não chướng và sở tri chướng. Những phiền não chướng chủ yếu là những phiền não tiêu cực và ích kỷ của chúng ta, như giận dữ, tham lam, ghen tỵ, kiêu căng... Những sở tri chướng là những ý niệm tri giác sai và lầm lẫn về thực tại.

    Ngay lúc này, dù cho sự hiện diện sáng rõ hay tánh giác vẫn không ngừng dứt, nhưng chúng ta không trực tiếp gặp nó mặt đối mặt. Và dù sự hiện hữu của nó thì không chỗ nào bị che ám chướng ngại hay đứt đoạn, chúng ta vẫn không nắm hiểu hay nhận ra nó. Ba dòng ở trên của bản văn ám chỉ bản tánh của tâm theo Tinh Túy của nó, đó là tánh Không, Bản Tánh của nó là sự sáng tỏ quang minh, và Năng Lực của nó thì không bị chướng ngại hay đứt đoạn và thấm nhuần khắp.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.122
  • canh-dep-que-lam      Cần phải ngộ mới được! Sau khi ngộ rồi, cần phải gặp thiện tri thức. Nhà ngươi nói: Ngộ rồi là xong, đâu cần gặp thiện tri thức. Nếu ngộ rồi lại gặp thiện tri thức thì đương lúc ra tay làm phương tiện hằn tự có đường xuất thân, chẳng làm mù mắt người học. Còn nếu chỉ ngộ được đầu cây cải khô thì chẳng những làm mù mắt người học mà khi chính mình cử động trước tiên phạm nhằm mũi nhọn bị thương tay.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.161
  •     Có nhiều phương diện của tâm, nhưng có hai phương diện nổi bật hơn cả. Đầu tiên là cái tâm thông thường mà người Tây Tạng gọi là Sem. Một bậc thầy đã định nghĩa: “ Đó là cái tâm có khả năng phân biệt, có ý thức về nhị nguyên( hoặc lấy hoặc bỏ một đối tượng bên ngoài) đó là tâm”. Đó là thứ có thể giao thiệp với một thứ gì khác, bất cứ thứ gì khác, vốn được xem là điều lĩnh hội, khác với năng lực lĩnh hội. Sem là cái tâm suy nghĩ, tâm nhị nguyên, phân biệt, chỉ có thể vận hành tương quan với một điểm quy chiếu ở ngoài, bị nhận lầm và chỉ là một cái bóng được chiếu ra.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 2.007
  • Tám Tỉnh Giác của bậc Đại Nhân
    (Hachidaininkaku) 

     

    Rốt ráo, Phật giáo được cho là thực tiễn, và sự dè dặt truyền thống của nó về triết học là do bởi trong sự kích thích tập luyện trí thức có khuynh hướng quên đi rằng những giáo lý là để áp dụng. Một vị thầy vĩ đại của Phật giáo Trung Hoa đã nêu điều đó trong những lời này : trước hết là hiểu, không có nó hành động sẽ mù lòa ; rồi đến hành động, không có nó hiểu sẽ không có hiệu lực ; cuối cùng hiểu và hành động thành một.  

    “Chớ làm điều xấu, hãy làm điều tốt, hãy làm trong sạch tâm – đây là lời dạy của chư Phật”. Công thức cổ này của Phật giáo tóm tắt thông điệp của ba chương cuối của Chánh Pháp Nhãn Tạng như được trình bày trong cuốn sách này. Chúng cùng làm rõ ba giai đoạn hay ba yếu tố căn bản của Thiền được tìm thấy khắp toàn bộ giáo lý Phật giáo : xa lìa, hòa nhập và sự hòa hợp giữa xa lìa và hòa nhập.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.451
  • say me voi nhung phong canh thien nhien binh yen 4 Say Mê Với Những Phong Cảnh Thiên Nhiên Bình Yên           Phải tọa thiền như thế nào mới đúng? Khi tọa thiền thân thể cần phải thoải mái mới đúng.

              Tọa thiền là đang tu hành “thân là Bồ-đề(1) (khai ngộ)”, cũng là thể chứng Bồ-đề; vì nếu chúng ta thực sự đang Tọa thiền thì sẽ không có phân biệt giữa tu hành và thể chứng. Đó là trí tuệ “Như thị” (as, is), là trí tuệ “sự vật thế nào thì chính là thế ấy”. Tọa thiền là đang tu Phật đạo, cho nên cũng là đang tu sinh mệnh chính mình.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 821
  •  

    Ngồi yên - hay thiền định - chẳng phải là nhất định phải ngồi. Ngồi yên thực sự là chẳng hiện thân ý trong ba cõi, đó là tâm thiền định. Tâm thiền định này là tâm Không, không trụ vào đâu cả và tâm thiền định ấy đạt đến pháp tánh. Tâm thiền định ấy chính là pháp tánh. Theo ngài Duy Ma Cật, thiền định không phải là một hình tướng ngồi hay đứng, mà thiền định là tương ưng với pháp tánh, và pháp tánh này thì không sanh không diệt, không đến không đi, không nằm không ngồi. Pháp tánh này xưa nay thường định. Và thiền định là ngộ nhập pháp tánh ấy, không cứ gì ngồi hay nằm. Thấu đạt pháp tánh tức là ngồi yên, dù thân có đang làm gì.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 804
  •    I. THỰC TẠI THẾ NÀO ?

    Lâu nay bao người cứ bàn về thực tại, nói về thực tại, luận về thực tại và cãi về thực tại rất nhiều, song thế nào là thực? Thực tại có hay không? Ở đâu ? Dường như câu hỏi vẫn còn đang…! Bởi lẽ, thực tại là cái luôn luôn hằng hữu chưa từng thiếu vắng mà luận về nó, bàn về nó thì sao? Có thực tại chưa ?

    Chính đây là điểm lầm lẫn mà người không hay biết. khi chúng ta nói về nó, tức đã gián tiếp với nó rồi. Thí dụ có người hỏi về anh A, ta trả lời: Anh A cao lớn, mắt to, da trắng, tiếng nói sang sảng v.v… thì lúc đó có mặt anh A ở đó chăng? Nếu lúc đó đang có mặt anh A thì ta chỉ cần trỏ ngay anh, bảo: Đây này! là xong, khỏi diễn tả dài dòng.

     

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.003
  •  

          Vấn đề lớn này, Đạo, mọi người đều sở hữu nó từ đầu. Đạo luôn luôn ở cạnh chư vị. Điều khó khăn là từ vô thủy đến giờ Diệu Giác vẫn bị che khuất bởi các hạt giống của tham ái, các dòng tư tưởng, sự lưu xuất của tư lương phân biện, và lề lối suy tưởng tập tục đã ăn sâu. Vì thế chúng ta chưa bao giờ nắm giữ được Chính giác, thay vì thế chỉ lẩn quẩn giữa những chiếc bóng vọng tưởng về tâm, thân và thế gian. Chính vì thế mà trôi lăn mãi trong Luân Hồi. Xưa chư Phật Tổ hiện thân trong thế giới này, sử dụng hàng vạn lời lẽ và nhiều phương pháp dạy, hoặc Giáo hoặc Thiền(1). Tất cả lời dạy của chư Phật Tổ chẳng là gì khác hơn những dụng cụ để đập tan sự “chấp trước” quen thói thâm nhiễm tư tưởng chúng sinh.

     

          

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 961
  • Giải thoát hay Tánh Không thì không chỗ nào không có,nên bất cứ ở đâu chúng ta cũng có thể gặp nó. Tánh không, vô tự tánh của cái tôi và tất cả sự vật thì có thể tìm thấy nơi sự vật cũng như chính nơi tâm thức này. Bởi vì tánh không là bản tánh của sự vật và của tâm thức.

    Trong bài này, chúng ta tìm hiểu và thể nghiệm tánh không nơi tâm thức hiện có của chúng ta, nơi không có tư tưởng và nơi đang có tư tưởng. Tánh không nằm giữa hai tư tưởng thường được nói đến trong hai truyền thống phật giáo Tây Tạng và Trung Hoa, mà Thiền tông , Đại Toàn Thiện (Dzogchen), và Đại Ấn (Mahamudra) là những đại diện tiêu biểu.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 852
  •  

    Hỏi: Nếu nói Phật tánh hiện ở thân này, đã ở trong thân không lìa phàm phu. Cớ sao nay tôi chẳng thấy Phật tánh? Xin giải rõ khiến được khai ngộ.

     

     

    Ðáp: Ở tại thân ông mà tự ông chẳng thấy. Suốt mười hai giờ ông biết đói biết khát, biết lạnh, biết nóng, hoặc vui, hoặc giận,v.v... Trọn là vật gì? Lại sắc thân là địa thủy hỏa phong bốn duyên hội hợp, cái chất của nó là vô tình, đâu hay thấy nghe hiểu biết? Cái thấy nghe hiểu biết nhất định là Phật tánh của ông. Tổ Lâm Tế nói rằng: “Bốn đại chẳng biết nói pháp, chẳng nghe pháp. Hư không chẳng biết nói pháp, chẳng nghe pháp. Chỉ cái rõ ràng riêng sáng ở trước mẳt của ông, cũng chớ phân tích nó, cái ấy mới biết nói pháp và nghe pháp”.
    Ba chữ “Chớ phân tích” là pháp ấn của chư Phật và cũng là tâm bổn lai của ông. Thế thì Phật tánh ở tại thân ông, đâu có nhờ cầu bên ngoài? Ông nếu chẳng tin, tôi sẽ nêu lên nhơn duyên nhập đạo của các bậc thánh xưa, để cho ông trừ hết nghi hoặc. Ông sẽ tin là chơn thật.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 950
  • một số người băn khoăn vì không biết có cần thiết phải có một vị đạo sư tâm linh hay không? Chúng ta có thể tự học đạo được hay không? Để học được những kỹ năng như đọc sách, nghề mộc, giải phẫu hay ngay cả lái một chiếc xe chúng ta cần phải có người dạy. Tự học là một việc khó khăn đôi khi rất nguy hiểm. Thử hình dung ra cảnh chúng ta cố gắng tự học lái một chiếc máy bay! Rõ ràng là có nhiều hiểm họa không lường được. Để học những nghề nghiệp thông thường chúng ta còn phải có thầy dạy đàng hoàng mới nên thì chắc chắn rằng để học đạo chúng ta phải cần sự hướng dẫn của những bậc đạo sư có phẩm hạnh. Chúng ta không thể xem nhẹ và bất cẩn trong những vấn đề tâm linh, những vấn đề cao sâu có ảnh hưởng lâu dài trong đời này và trong những đời sau.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 911

  • Với sự tin hiểu, ở đâu người ta cũng thấy Diệu Pháp Liên Hoa, thời gian nào cũng là sự hiển xuất của Diệu Pháp Liên Hoa. Không gian và thời gian đã ngấm đầy Phật chất để chuyển hóa thành một cách thế biểu hiện của Phật lực, một sự diễn xuất của Phật tánh và do đó không còn ngăn ngại, không còn ta người, không còn đây kia, sống chết, khổ đau…

    Sống trong Pháp Hoa, nói theo kinh Lăng Nghiêm, là chuyển năm ấm, sáu nhập, mười hai xứ, mười tám giới và bảy đại, nghĩa là toàn bộ thế giới, chúng sanh về bản tánh của chúng là Như Lai tạng. Khi người ta lặn đến đáy cùng của tâm thức rồi đi ngược ra trở lại, bấy giờ thế giới và chúng sanh chính là sự “lộn trái” của tâm, là sự bùng vỡ thành muôn ngàn hình tướng của tâm, bởi thế tất cả chỉ là sự ứng hiện của tâm, tất cả chỉ là tâm.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 771
  •   Trong ngoài lặng lẽ chẳng vin đâu   

    Sáng suốt, hồn nhiên khỏi vọng cầu   

    Buông hết một phen đừng luyến tiếc

    Mới hay ngay đó thấy đạo mầu!

                (Viên Minh)

     Ngày nay, nhân loại đã tiến bộ rất xa về mặt khoa học, kỹ thuật, đã làm thay đổi bộ mặt thế giới từng ngày, từng giờ và thậm chí từng phút, từng giây, nên đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội v.v… đều được nâng cao một cách đáng kể.

    Nhờ phương tiện giao thông vận tải, phương tiện truyền thanh, truyền hình, mạng internet, vô tuyến viễn thông mà thế giới đã và đang hội nhập thành một cộng đồng quốc tế với qui mô toàn cầu hóa. Điều này đem đến biết bao phúc lợi xã hội, tiện nghi đời sống đủ để đáp ứng nhu cầu hưởng thụ ngày càng đa diện và phong phú của con người.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 810
  • Mục đích của tham thiền là minh tâm kiến tánh, tức quét trừ tự tâm ô nhiễm, để chân thật thấy rõ bổn lai diện mục của tự tánh. Ô nhiễm tức là vọng tưởng chấp trước. Tự tánh tức là trí huệ đức tướng của Như Lai. Đối với đức tướng trí huệ của Như Lai, Phật và chúng sanh đều đồng có đầy đủ, không hai không khác. Nếu xa rời được vọng tưởng chấp trước thì tự mình sẽ đắc được trí huệ đức tướng của Như Lai, tức là Phật. Ngược lại thì làm chúng sanh. Chỉ vì chúng ta từ vô lượng kiếp cho đến nay, mê mờ lưu lạc trong vòng sanh tử và bị nhiễm ô đã lâu, nên không thể thoát khỏi được vọng tưởng chấp trước mau chóng được. Muốn thấy rõ bổn tánh chân thật, phải nên tham thiền. Vì thế, điều kiện tiên quyết nhất khi tham thiền là phải dẹp trừ vọng tưởng. Làm sao dẹp trừ vọng tưởng ? Phật Thích Ca thuyết pháp rất nhiều, nhưng đơn giản không ngoài chữ "ngưng". "Ngưng tức Bồ Đề".

    Thiền tông do Đạt Ma Tổ Sư từ bên Ấn Độ truyền qua Đông Độ; đến đời Lục Tổ thì gió thiền lan rộng khắp nơi, chấn động chiếu sáng cổ kim. Những điều tối quan trọng mà Đạt Ma Tổ Sư cùng Lục Tổ thường dạy là "dẹp hết muôn duyên, chẳng sanh một niệm".

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 899
  • http://bndosomething.files.wordpress.com/2013/07/page3_1.jpg

    Linh nguyên minh hạo khiết

    Chi phái ám lưu chú

    Chấp sự nguyên thị mê

    Khế lý diệc phi ngộ

    Nguồn linh sáng trong veo

    Chi phái thầm tuôn trào

    Chấp sự vốn mê muội

    Khế lý đã ngộ đâu

    Mạch nguồn là một cái gì đó tuyệt diệu, không thể mô tả bằng lời, không ngôn ngữ nào có thể chạm đến. Điều Đức Phật nói đến là mạch nguồn của giáo lý, siêu việt mọi so sánh xấu tốt. Điều này rất quan trọng. Những gì mà tâm quý vị có thể nắm bắt và hình thành khái niệm đều không phải là mạch nguồn. Mạch nguồn là điều mà chỉ một vị Phật mới biết được.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 940
  •  

    Tâm đến từ tánh Không và tan hòa trở lại vào tánh Không, giống như nước đông lại thành băng và lại tan chảy ra.  

    Tượng Đức Milarepa trong Tu viện Drirapuk, Núi Kailash, Tây Tạng 

    Vào mùa thu Milarepa đi tới một địa điểm được gọi là Gepa Lesum, nơi người dân đang thu hoạch mùa màng. Ngài đang khất thực thì một thiếu nữ tên là Nyama Paldarbum nói: “Ông đi tới căn nhà ở đằng kia, con sẽ gặp ông và tặng ông thực phẩm.”  

    Milarepa tới trước căn nhà và dùng gậy gõ nhẹ vào cửa. Không có tiếng trả lời. Ngài gõ lại lần nữa, một bà lão bước ra và nói: “Những người được gọi là hành giả như các ông xin ăn rất nhiều và khi không có người ở nhà thì các ông xông vào và trộm cắp, đó chính là những gì ông đang dự định làm!”

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 998
  •  

    VÔ NIỆM CỦA LỤC TỔ HUỆ NĂNG
    Nguyễn Thế Đăng

     

    1. Tâm vô niệm

    Luận Đại thừa Khởi tín của ngài Mã Minh nói:

    “Thể của tâm lìa tất cả niệm, nghĩa là vốn vô niệm. Nó như hư không, không chỗ nào mà chẳng toàn khắp. Pháp giới Một tướng này tức là Pháp thân bình đẳng của chư Như Lai. Pháp thân này tất cả chúng sanh vốn có, nên gọi là Bản giác”.

    Luận nói tiếp:

    “Thế nên chúng sanh nào quán sát vô niệm thì chúng sanh đó đã hướng về Trí Phật”.

    Kinh Thắng Man, chương Tự tánh Thanh tịnh nói: “Như Lai tạng không có sanh không có tử. Như Lai tạng không có tướng hữu vi. Như Lai tạng thường trụ bất biến… Như Lai tạng là pháp giới tạng, là pháp thân tạng, là xuất thế gian thượng thượng tạng, là tự tánh thanh tịnh tạng. Như Lai tạng tự tánh vốn thanh tịnh, vọng tưởng phiền não chẳng thể nhiễm ô vì chúng chẳng thể xúc chạm”.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.223

Top Bài Viết

Top Music

Top Book Mp3

Top Music Album

 
© Copyright 2013 - 2019 PHATAM.ORG - Chịu trách nhiệm nội dung: Thị Đức bienman0811@yahoo.com - Hỗ trợ kỹ thuật votamthoai@gmail.com