Về cái đẹp, tình yêu và cái chết - Krishnamurti . Mộc Nhiên

Krishnamurti

Không có phẩm chất của cái đẹp, của sự nhạy cảm thì sẽ không có chân lý. Vẻ đẹp không phải là trạng thái đa cảm hay sự lãng mạn do cảm xúc đem đến. Chỉ có cái đẹp khi không có bản ngã, không còn lòng tư lợi, không còn cái tôi thường xuyên nghĩ về mình.  

 

Thứ tư, 17 tháng 7 năm 1985

Tôi xin bắt đầu buổi nói chuyện, và xin các ngài cũng cùng chia sẻ trong buổi nói chuyện. Đây không phải là buổi độc thoại, nhưng là hội thoại, người nói không hướng dẫn các ngài, giúp đỡ hay cố thuyết phục các ngài, nhưng cùng với nhau – từ ngữ này rất quan trọng – chúng ta cùng nhau dự một cuộc hành trình rất dài. Đó là một định hướng khó khăn - ồ, tôi không muốn dùng từ ngữ này nữa vì nó nguy hiểm – đó là con đường khá phức tạp vì chúng ta sẽ nói về sự tư lợi, sự giản dị, hành vi, và liệu xem trong đời sống thường ngày chúng ta có thể chấm dứt tất cả sầu muộn, nỗi đau buồn hay không. Đây là câu hỏi rất hệ trọng: Tại sao con người sau nhiều ngàn năm đã chưa bao giờ giải thoát khỏi nỗi sầu muộn, không chỉ nỗi sầu muộn của riêng từng người, cùng với đau khổ, lo âu, cô đơn bao hàm trong nỗi sầu muộn đó, mà còn liên đới đến nỗi sầu muộn của cả nhân loại. Chúng ta sẽ nói về điều đó. Và nếu có thì chúng ta sẽ nói về niềm vui, và cả cái chết.

Buổi sáng hôm nay rất đẹp, rất đáng yêu, bầu trời xanh trong, những ngọn đồi im vắng có các vệt tối hằn sâu, dòng nước chảy quanh co, cánh đồng, lùm cây và bãi cỏ xanh xanh trải dài, vậy chúng ta có nên nói về buổi sáng xinh đẹp này vì đó là một vấn đề rất quan trọng? Không phải nói về vẻ đẹp của thiên nhiên hay sự sinh động phi thường cùng với sức mạnh vô song của một con hổ. Có lẽ các ngài chỉ thấy hổ trong thảo cầm viên nơi chúng bị nhốt để mua vui cho ngài. Vài nơi trên thế giới mà người nói đã đến, ông ta từng đến sát bên một con hổ hoang dã, cách nhau chưa đầy một mét.

Chúng ta nên đi vào vấn đề này vì không có vẻ đẹp và tình yêu thì sẽ không có chân lý. Chúng ta sẽ khảo sát kỹ từ ngữ vẻ đẹp. Vẻ đẹp là gì? Mong ngài cũng hỏi câu này như người nói đang hỏi; cả hai chúng ta cùng xem với nhau, không chỉ qua từ ngữ, nhưng ẩn nghĩa của vẻ đẹp, xem sự sâu thẳm bao la, khôn dò của vẻ đẹp. Chúng ta có thể nói về nó, nhưng lời nói, giải thích, mô tả không phải là cái đẹp. Từ ngữ đẹp không phải là cái đẹp. Đẹp là cái hoàn toàn khác hẳn. Vì thế cần cảnh giác với chữ nghĩa vì trí não chúng ta hành xử, hoạt động trong động thái của ngôn từ. Từ ngữ truyền đạt điều mình cảm thấy, điều mình nghĩ, và trí não chấp nhận các giải thích, mô tả vì hầu hết cơ cấu não của chúng ta chứa từ ngữ. Vì thế mình phải cẩn trọng xem xét, không chỉ với vẻ đẹp mà với cả sự giản dị và tư lợi. Sáng nay chúng ta sẽ đi vào các vấn đề này.

Chúng ta đang tự hỏi: Vẻ đẹp là gì? Có phải vẻ đẹp trong dáng người, trên khuôn mặt? Có phải vẻ đẹp trong viện bảo tàng, trong hội họa cổ điển hay hiện đại? Có phải vẻ đẹp trong âm nhạc, của Beethoven, Mozart, của Bach và những tiếng ồn ào mà người ta gọi là âm nhạc hiện đại? Có phải vẻ đẹp trong thi ca, trong văn chương, trong khiêu vũ? Có phải tất cả những thứ như vậy là vẻ đẹp, hay vẻ đẹp là cái gì đó hoàn toàn khác hẳn? Chúng ta đang cùng nhau tìm hiểu. Xin đừng chấp nhận ngôn từ, đừng hài lòng với sự mô tả và giải thích, mà chúng ta hãy bỏ qua hết mọi sự đồng ý hay không đồng ý trong trí não và ngắm nhìn nó kỹ lưỡng, trụ lại với nó để xuyên thấu ngôn từ.

Như đã nói, nếu không có phẩm chất của cái đẹp, của sự nhạy cảm, thì sẽ không có chân lý. Phẩm chất đó không chỉ gồm của vẻ đẹp của thiên nhiên – sa mạc, những cánh rừng, sông suối và những dãy núi trùng trùng to lớn cùng với vẻ hùng vĩ, uy nghi mênh mang của chúng, nhưng vẻ đẹp còn gồm cảm xúc về chúng, không phải là các hình ảnh lãng mạn và trạng thái đa cảm do cảm giác đem đến. Vậy vẻ đẹp có phải do cảm giác? Vì chúng ta sống dựa vào cảm giác, như cảm giác tình dục đem đến khoái lạc, nhưng cũng kèm theo đau khổ vì cảm thấy không được trọn vẹn, vân vân. Vậy có thể nào sáng nay chúng ta bỏ ra khỏi trí não mình tất cả những từ ngữ đó để đi vào vấn đề rất mênh mang, hết sức tinh tế này: Bản chất của cái đẹp là gì? Chúng ta không làm thơ đâu.

Khi ngài ngắm nhìn dãy núi kia với những mõm đá lao vút vào bầu trời – nếu ngài ngắm nhìn chúng một cách lặng lẽ, ngài sẽ cảm thấy sự bao la của nó, vẻ uy nghi mênh mang của nó, và ngay trong giây phút đó, sự hùng vĩ, vững chãi vô cùng của nó sẽ xua tan mọi suy nghĩ của ngài, xua tan các vấn đề của ngài; và ngài nói, ‘Quang cảnh thật là kỳ diệu!’ Vậy cái gì đã xảy ra? Sự hùng vĩ của dãy núi, sự bao la của bầu trời xanh, tuyết phủ đỉnh núi đã xua tan mọi vấn đề của ngài trong giây lát. Nó khiến ngài quên đi chính mình trong giây lát. Ngài bị mê hoặc bởi nó, ngài bị sửng sốt, giống như một đứa bé cả ngày nghịch ngợm, bây giờ được cho một món đồ chơi tinh xảo. Nó bị món đồ chơi lôi cuốn cho đến khi nó tháo bung ra hết. Món đồ chơi đã chế ngự nó và nó im lặng, nó thưởng thức món đồ chơi. Nó đã quên gia đình nó, quên các lời dặn ‘phải làm điều này, không được làm điều nó’, món đồ chơi trở nên một vật hứng thú làm nó say mê.

Cũng giống vậy, núi non, sông suối, những cánh đồng, bụi cây đã lôi cuốn ngài, ngài quên đi chính mình đi. Có phải đó là vẻ đẹp? Bị thu hút bởi núi non, bởi sông suối, cánh đồng xanh, có nghĩa là ngài giống như đứa trẻ bị đồ chơi lôi cuốn, ngài sẽ im lặng trong giây lát, bị chế ngự, lạc hồn vào cái gì đó. Như vậy có phải là vẻ đẹp không khi ngài bị chế ngự, khi thả hồn vào một điều vĩ đại nào đó và điều đó khiến ngài đã quên chính mình trong giây lát? Rồi ngài lệ thuộc, như đứa bé lệ thuộc vào món đồ chơi, ngài lệ thuộc vào phim ảnh hay truyền hình, ngài tự đồng hóa mình với vai diễn trong giây lát. Xin các ngài hãy xem xét trạng thái đó – bị chế ngự, bị chi phối, bị lôi cuốn – phải chăng ngài thấy giây phút lặng lẽ đó là vẻ đẹp? Khi ngài đi nhà thờ, đền, chùa nghe thấy tiếng tụng niệm, giọng xướng ngân nga, thấy nghi lễ uy nghi, là các thứ được tính toán kỹ lưỡng sao cho tạo được một cảm giác nhất định trong lòng ngài mà các ngài gọi là lòng tôn kính, các ngài gọi là cảm xúc thiêng liêng. Đó có phải là vẻ đẹp? Hay cái đẹp là điều gì đó hoàn toàn khác hẳn? Chúng ta có cùng thấy được vấn đề này không? Có vẻ đẹp không khi ngài có nỗ lực đầy ý thức về mình? Hay vẻ đẹp chỉ có khi tự ngã không hiện diện – khi cái tôi, chủ thể quan sát không có? Vậy có thể nào không bị lôi cuốn, không bị chế ngự, không bị chi phối, mà hiện thể trong trạng thái không có tự ngã, không có bản ngã, không có cái tôi luôn luôn nghĩ ngợi về chính nó? Có thể nào sống trong thế giới hiện đại này với tất cả sự chuyên môn hóa của nó – không kể tiếng dòng suối chảy, tiếng chim hót? Có thể nào sống trong thế giới này mà không có tự ngã, cái tôi, bản ngã, cá tính, sự khẳng định cá nhân mình? Trong trạng thái đó, khi thực sự giải thoát khỏi mọi thứ này, chỉ khi đó mới có cái đẹp. Có thể ngài nói, ‘Điều đó quá khó, điều đó không thể được’.

Nhưng tôi đang hỏi: Có thể nào sống trong thế giới này mà không có tư lợi? Tư lợi nghĩa là gì? Từ ngữ đó có ngụ nghĩa gì? Chúng ta sẽ ra sao khi không có tư lợi để sống ở đây, trong cái nơi đầy huyên náo, tiếng ồn, sự trơ trẽn, tranh giành, tham vọng cá nhân, vân vân và vân vân? Chúng ta hãy cùng nhau tìm ra xem.

Lòng tư lợi ẩn kín trong nhiều hình thức, trong nhiều ngõ ngách, trong mọi hành động - ẩn kín trong lời cầu nguyện, trong sự thờ phượng, trong sự thành công nghề nghiệp, trong tri thức uyên bác, trong danh tiếng vang lừng, giống như người nói đây. Khi có một đạo sư nói, ‘Ta biết hết chuyện này. Ta sẽ nói cho ngươi nghe’ – nói vậy không có lòng tư lợi trong đó sao? Mầm mống của lòng tư lợi đã có trong chúng ta hằng triệu năm qua. Trí não chúng ta bị khuôn định vào tư lợi. Nếu như mình nhận ra điều đó, chỉ nhận ra thôi, không cần nói rằng, ‘Tôi không cần sống vì tư lợi đâu’, hay ‘Làm sao sống mà không vì tư lợi cho được’? mà chỉ nhận ra nó. Rồi mình có thể tìm hiểu đến mức nào, mình có thể tra hỏi chính mình đến mức nào để tìm ra cho mình, cho mỗi người chúng ta, trong hành động, trong sinh hoạt hằng ngày, trong hành vi mỗi người, mình có thể sống sâu lắng đến mức nào nếu như không có lòng tư lợi?

Vậy chúng ta hãy xem xét mọi điều này. Tư lợi là phân rẽ, tư lợi là sự suy đồi ghê gớm nhất, và ở đâu có tư lợi thì ở đó có phân hóa – như quyền lợi của ngài đối nghịch với quyền lợi của tôi, mong ước của tôi đối nghịch với mong ước của ngài, sự háo hức leo lên nấc thang thành công của tôi đối nghịch với sự háo hức của ngài. Chỉ cần quan sát điều này, ngài không thể làm gì vì nó - ngài thấy chứ? – mà chỉ quan sát nó, trụ lại với nó rồi xem điều gì xảy ra. Nếu ngài từng tháo tung một chiếc xe hơi ra, như người nói đã làm, ngài sẽ biết các bộ phận, ngài thấy được cách hoạt động của xe. (Tôi chỉ nói về những chiếc xe vào năm 1925; vào thời đó xe hơi rất giản dị, rõ ràng, mạnh và đẹp.) Và khi ngài biết hết về các bộ phận, ngài cảm thấy dễ chịu khi điều khiển xe chạy nhanh hay chậm. Vậy chúng ta biết gì về lòng tư lợi của chính mình, chúng ta bắt đầu tìm hiểu nó. Ngài không cần nói: Tôi phải chống lại nó, hay theo nó, hay làm sao sống mà không có nó, hay ai sẽ nói cho tôi nghe về chính tôi đây?

Khi ngài bắt đầu tình cờ nhận ra lòng tự lợi của mình, hãy trụ lại đó, nghiên cứu nó, tìm hiểu nó, quan sát mọi rắc rối của nó, rồi ngài sẽ tìm ra khi nào nó cần và khi nào hoàn toàn không cần nó. Nó cần thiết cho cuộc sống hằng ngày trong những việc như tìm thức ăn, quần áo, chỗ ở và các thứ vật chất khác, nhưng về mặt tinh thần bên trong, có cần tư lợi các loại để làm gì không? Để biết được, chúng ta hãy xem xét các mối quan hệ. Trong quan hệ của chúng ta với nhau có quyền lợi hỗ tương. Ngài làm hài lòng tôi và tôi làm hài lòng ngài; ngài dùng tôi và tôi dùng ngài, ở đâu có tư lợi thì ở đó có phân hóa. Tôi khác với ngài là cũng do tư lợi.

Tương quan, quan hệ là gì? Tương quan với trái đất, với mọi vẻ đẹp của thế giới, của thiên nhiên, của những người khác, với vợ mình, chồng mình, bạn gái hay bạn trai, vân vân. Sự ràng buộc đó là gì? Xin hãy cùng xem xét đến vấn đề này. Xin đừng dựa vào các mô tả mà người nói quen dùng. Hãy nhìn nó thật gần.

Quan hệ là gì? Khi không có quan hệ chúng ta cảm thấy cô đơn, buồn chán, lo âu, và một chuỗi vận động của lòng tư lợi. Tương quan là gì? Khi ngài nói, ‘vợ tôi’, ‘chồng tôi’, điều đó có nghĩa là gì? Khi ngài nói có tương quan với thượng đế, giả sử có thượng đế, điều đó có nghĩa là gì? Từ ngữ ‘quan hệ’ rất quan trọng, cần phải tìm hiểu. Tôi quan hệ với vợ tôi, với con tôi, với gia đình tôi. Chúng ta hãy bắt đầu ở đây, vì gia đình là cốt lõi của xã hội. Trong các xã hội châu Á, gia đình có ý nghĩa rất lớn; đối với họ nó hết sức quan trọng – con, cháu, ông, bà. Gia đình là nền tảng trung tâm của mọi xã hội. Vì thế khi mình nói, ‘vợ tôi’, ‘bạn gái tôi’, điều đó có nghĩa là gì?, hay có đối tượng tình cảm rồi. Tương quan với họ có nghĩa là gì? Ngài đang tương quan với cái gì?

Chúng ta hãy khoan nói về vợ và chồng. Khi ngài theo ai đó, một đạo sư, một nhà tiên tri, một chính khách, theo người nói đây hay theo người nào khác, vậy thì ngài đang theo cái gì, ngài đang hiến mình cho cái gì? Có phải hình ảnh ngài tạo ra về người nói hay một đạo sư nào đó, hay hình ảnh ngài có sẵn trong trí não, là việc đúng đắn phải làm, và do đó ngài theo ông ta? Có phải hình ảnh, biểu tượng là cái ngài đã xây dựng và đang theo đuổi, chứ không phải theo bản thân người đó, không phải theo những gì ông ta nói? Người nói đã nói chuyện trong bảy mươi năm qua. Thật tội nghiệp cho ông ta! Và rủi thay ông ta đã tạo dựng được danh tiếng đôi chút, có sách in và các thứ, vì thế dĩ nhiên là ngài đã tạo một hình ảnh về ông ta và ngài đang theo nó, chứ không phải theo lời truyền đạt. Lời của ông ta nói, ‘Đừng theo bất kỳ ai’. Nhưng ngài đã tạo ra hình ảnh, và ngài theo hình ảnh mà ngài mong ước, vì nó đã thỏa mãn ngài, phù hợp với quyền lợi ngài, có đúng vậy không?

Nào bây giờ quay lại việc vợ chồng. Khi ngài nói, ‘vợ tôi’, ý ngài muốn nói gì, ý nghĩa của từ ngữ này là gì, ẩn ý của nó là gì? Hãy tìm hiểu xem. Có phải đó là trí nhớ, cảm giác, vui sướng, đau khổ, lo lắng, ganh tị - mọi thứ đó nằm trong từ ngữ ‘vợ’ hay ‘chồng’? Người chồng có tham vọng đạt đến một địa vị tốt hơn, nhiều tiền hơn, và người vợ không chỉ ở nhà thôi, còn có tham vọng, ước mơ riêng của bà ấy. Họ là thế đó. Họ có thể ngủ chung giường, nhưng tách biệt với nhau mọi lúc. Chúng ta hãy trung thực với sự kiện này.

Luôn luôn có xung đột. Mình có thể không nhận ra được chuyện này nên nói, ‘Ồ không, chúng tôi không xung đột với nhau’. Nhưng cạo lớp vỏ ngoài ra và ngài sẽ thấy gốc rễ của mọi thứ này là tư lợi. Cũng có tư lợi của người thuộc ngành chuyên môn như bác sĩ, nhà khoa học, triết gia, tu sĩ, tất cả đều mơ ước thành đạt. Chúng ta không thêu dệt đâu, chúng ta chỉ nói lên hiện trạng, không che giấu nó, không lấp liếm nó. Đó là hạt giống có từ khi chúng ta sinh ra, hạt giống đó tiếp tục triển nở, lớn mạnh cho đến lúc ta chết. Và khi chúng ta cố kiềm chế lòng tư lợi, chính sự kiềm chế này cũng là một hình thức tư lợi. Hoạt động của lòng tư lợi thật là tinh vi. Nó cũng còn ẩn giấu đằng sau sự đau khổ của nhà tu.

Nào bây giờ chúng ta xem xét tiếp sự khổ hạnh có nghĩa là gì. Sự khổ hạnh là gì? Cả thế giới, nhất là thế giới tôn giáo, đã dùng từ ngữ này, đã đặt ra quy định cho nó, nhất là các tu sĩ trong một số tu viện đặc biệt. (Ở Ấn Độ chẳng có tu viện nào, ngoại trừ các chùa của Phật giáo. May mắn là không có tu viện có tổ chức nào.) Vậy theo chúng ta khổ hạnh là gì mà sinh ra oai nghiêm lớn lao như vậy? Chúng ta tra từ điển chữ ‘austerity’ thì thấy nó xuất phát từ tiếng Hy Lạp, có nghĩa là từ bỏ việc tắm nước nóng xa xỉ, có ít áo quần, mặc một chiếc áo lễ đặc biệt, nguyện sống độc thân, chịu nghèo khổ, chịu ăn chay, ngồi thiền mãi mãi, khống chế lòng khát khao, ước mong. Dĩ nhiên mọi thứ đó không phải là khổ hạnh. Nó chỉ là sự phô diễn bên ngoài.

Vậy có một sự khổ hạnh nào không thuộc cảm giác, không có ý đồ, không phỉnh gạt ai, không nói rằng ‘tôi chịu khổ hạnh để…’? Có sự khổ hạnh nào mà người khác không hề thấy? Các ngài thấy rõ việc này chứ? Có sự khổ hạnh nào mà không cần kỷ luật, lại có cảm thức toàn vẹn bên trong, trong đó không có lòng thèm khát, không có sự vụn vặt, phân mảnh? Chỉ có sự khổ hạnh như vậy mới uy nghi, tĩnh lặng.

Mình cũng cần hiểu bản chất của mong cầu. Đó cũng là gốc rễ của toàn bộ cơ cấu tư lợi. Lòng mong cầu là một cảm giác mạnh mẽ. Sự mong cầu làm mình cảm thấy mình đang sống. Như đã nói, cảm giác rất quan trọng đối với chúng ta, nào là cảm giác tình dục, cảm giác về kinh nghiệm mới, cảm giác được gặp người có tiếng tăm. (Tôi phải kể các ngài nghe câu chuyện hay này. Một bà bạn của chúng tôi đến gặp Nữ hoàng Anh và bắt tay Nữ hoàng. Sau đó có người đến nói, ‘Tôi có thể bắt tay với bà không, vì bà đã bắt tay Nữ hoàng?’!)Chúng ta luôn sống bằng cảm giác, xin hãy quan sát: cảm giác được an toàn, cảm giác đã thành tựu, cảm giác được vui sướng cực kỳ, cảm giác hài lòng, vân vân. Có tương quan nào giữa cảm giác và lòng mong cầu? Lòng mong cầu có tách biệt với cảm giác không? Xin hãy tìm hiểu điều này vì nó rất quan trọng. Tôi không đang giải thích cho ngài nghe. Chúng ta đang xem xét cùng nhau. Tương quan giữa mong cầu và cảm giác là gì? Khi nào cảm giác trở thành ước mơ? Hay là chúng tách biệt nhau? Phải chăng chúng luôn luôn đi cùng nhau? Các ngài có tham gia tích cực như người nói không, hay chỉ nói, ‘Vâng, nói tiếp đi.’ Hay ngài đã nghe điều này rồi nên nói, ‘Ôi trời, ông ta lại nói chuyện cũ nữa?

 

Chúng ta luôn sống bằng cảm giác, xin hãy quan sát: cảm giác được an toàn, cảm giác đã thành tựu, cảm giác được vui sướng cực kỳ, cảm giác hài lòng, vân vân. Có tương quan nào giữa cảm giác và lòng mong cầu? Lòng mong cầu có tách biệt với cảm giác không? Xin hãy tìm hiểu điều này vì nó rất quan trọng. Tôi không đang giải thích cho ngài nghe. Chúng ta đang xem xét cùng nhau. Tương quan giữa mong cầu và cảm giác là gì? Khi nào cảm giác trở thành ước mơ? Hay là chúng tách biệt nhau? Phải chăng chúng luôn luôn đi cùng nhau? Các ngài có tham gia tích cực như người nói không, hay chỉ nói, ‘Vâng, nói tiếp đi.’ Hay ngài đã nghe điều này rồi nên nói, ‘Ôi trời, ông ta lại nói chuyện cũ nữa’?

Các ngài biết rằng càng hiểu hoạt động của suy nghĩ thì càng đào sâu vào gốc rễ của suy nghĩ; lúc đó ngài có thể hiểu nhiều điều khác; lúc đó các ngài thấy được toàn bộ hiện trạng của thế giới, của thiên nhiên, sự thật về tự nhiên; lúc đó các ngài tự hỏi, ‘Chân lý là gì’? Tôi chưa đi vào những chuyện đó lúc này.

Cuộc sống của chúng ta dựa trên cảm giác và lòng mong cầu, và chúng ta đang hỏi: Tương quan thực sự giữa hai cái đó là gì? Các ngài có theo dõi không? Vào lúc nào sự mong cầu trở nên lấn át? Tôi thấy một máy chụp ảnh đẹp, có nhiều tính năng hiện đại. Tôi cầm lên xem, có cảm giác muốn ngắm nghía, muốn xem vẻ đẹp của máy, giá trị máy càng cao thì chúng ta càng muốn sở hữu nó, càng muốn chụp thử. Vậy cảm giác đó có liên quan gì đến lòng mong cầu? Khi nào lòng mong cầu đó biến thành hành động, ‘Tôi phải có nó’?

Các ngài có từng quan sát hoạt động của cảm giác, dù là cảm giác tình dục, hay khi đi dạo trong thung lũng, leo đồi, ngắm nhìn toàn thế giới từ đỉnh cao, hay ngắm một khu vườn xinh đẹp trong khi ngài chỉ có một bãi cỏ khiêm nhường nho nhỏ? Ngài thấy chứ, rồi cái gì làm cảm giác biến thành mong cầu? Tương quan giữa cảm giác và mong cầu là gì? Hãy trụ lại với nó, đừng tìm câu trả lời, mà chỉ quan sát nó, ngắm nhìn nó, thấy được hàm ý của nó; rồi ngài sẽ khám phá ra rằng cảm giác tự nhiên biến đổi thành lòng mong cầu khi suy nghĩ tạo ra một hình ảnh từ cảm giác đó. Ví như có một cảm giác đang xem chiếc máy ảnh xinh xắn, đắt tiền, rồi suy nghĩ đến và nói, ‘Giá mà mình có chiếc máy ảnh đó!’ vì thế chính suy nghĩ tạo ra hình ảnh từ cảm giác và ngay lúc đó lòng mong cầu phát sinh. Hãy tự quan sát, tìm hiểu điều này. Ngài không cần cuốn sách nào, triết gia nào hay bất cứ ai nói cho ngài nghe; chỉ cần quan sát nó một cách kiên nhẫn, chú tâm rồi ngài sẽ thấy được. Nghĩa là, cảm giác là nô lệ của suy nghĩ, suy nghĩ đã tạo ra hình ảnh, và ngay lúc đó lòng mong cầu sinh ra. Kết quả là chúng ta sống trong lòng mong cầu: tôi phải có cái này, tôi không muốn cái kia, tôi phải trở thành… Đó là toàn bộ vận động của lòng mong cầu.

Bây giờ hãy xem lòng mong cầu có tương quan gì với tư lợi. Chúng ta đang nói đến cùng một vấn đề. Bao lâu còn lòng mong cầu, do suy nghĩ tạo ra hình ảnh từ cảm giác, thì phải có tư lợi, dù là tôi muốn lên thiên đường, tôi muốn trở thành ông quản lý ngân hàng, hay muốn là một người giàu có thì cũng vậy thôi. Dù là ngài muốn bước lên thiên đường hay trở thành giàu có thì cũng giống y như nhau thôi. Nếu người này muốn trở thành một ông thánh và người khác muốn có một kỹ năng điêu luyện thì cũng là một thứ như nhau, nhưng người này được xem là có lòng tín ngưỡng, mộ đạo, còn người kia thì phàm phu, trần tục. Chữ nghĩa đã làm què quặt tâm trí chúng ta quá sức!

Rồi chúng ta phải gặp một câu hỏi nữa: Đau buồn là gì? Có phải đau buồn sẽ tồn tại bao lâu vẫn còn tư lợi? Xin hãy tìm hiều nó. Nếu ngài hiểu mọi điều này thì ngài chẳng cần phải đọc cuốn sách nào. Nếu ngài thực sự sống với điều này thì cửa thiên đường sẽ rộng mở - không phải là thiên đường đúng như trong sách mô tả đâu, chỉ là một cách nói vậy thôi. Vậy tôi đang hỏi một câu rất hệ trọng đã ám ảnh con người từ thời mới bắt đầu cuộc sinh tồn của họ: Đau buồn, cùng với nước mắt, nụ cười, đau khổ, lo âu, cô độc, tuyệt vọng, là gì? Và có thể chấm dứt nó được không? Hay con người bị đọa đày vĩnh viễn phải sống với đau buồn? Mọi người trên trái đất, mọi người, dù là họ ở địa vị cao hay chẳng là gì cả, mọi người đều trải qua sự bấn loạn trong đau buồn, qua cơn sốc của nó, nỗi đau của nó, sự bất định của nó, sự cô độc hoàn toàn của nó. Như đau buồn của một người nghèo không hề biết đọc viết, chỉ có một bữa ăn mỗi ngày và phải ngủ bên vệ đường, nỗi đau buồn riêng của anh ta cũng giống như đau buồn của ngài. Có nỗi buồn của hàng triệu con người bị tàn hại bởi sức mạnh vô hình, bởi niềm tin mù quáng, bị dày vò bởi tín ngưỡng, bởi sự phân biệt của kẻ ngoại đạo và tín đồ nên đã tàn hại nhiều người hơn bất cứ nguyên do nào khác, các ngài cũng thấy những chuyện này rồi!

Vậy là có nỗi đau buồn. Từ ngữ ấy có nghĩa gì? Có phải nó chỉ là ký ức về điều ngài đã mất? Ngài có người em, người vợ, đứa con đã chết, và ngài đặt tấm hình họ trên chiếc dương cầm, trên bệ lò sưởi, hay kế bên giường ngủ, và ngài vẫn ôm ấp ký ức về những ngày họ còn sống. Đó có phải là đau buồn? có phải đau buồn sinh ra, nuôi dưỡng bởi trí nhớ? Ngài thấy vấn đề chứ? Khi mình có người thân mất đi và cái chết, vì tai nạn, tuổi già hay lý do gì đó, nhưng trí nhớ của mình về người đó vẫn còn tiếp tục, đó có phải là nỗi buồn? Đau buồn có liên quan gì với trí nhớ? Xin các ngài tiếp tục tìm hiểu.

Tôi có đứa con, người em, người mẹ mà tôi rất thích – tôi tạm dùng chữ ‘thích’. Tôi gọi cái thích đó là tình yêu. Tôi rất thích những người đó. Tôi đã sống với họ, trò chuyện với họ, chơi đùa với họ. Tất cả ký ức đó được lưu giữ. Và rồi khi con tôi, em tôi, mẹ tôi, hay ai đó chết đi, qua đời, ra đi mãi mãi, tôi cảm thấy sốc, tôi cảm thấy cô đơn kinh khủng đến ứa cả nước mắt. Tôi chạy đến nhà thờ, chùa chiền, vớ lấy một cuốn sách, cố tìm điều này điều nọ làm để chạy trốn; hay nói, ‘Mình sẽ cầu nguyện và sẽ khắc phục được. Trời sẽ cứu mình.’ Các ngài cũng biết những thứ ấy.Trời, Phật, hay hình tượng biểu tượng nào đó, cũng đều có nghĩa như nhau nhưng khác tên gọi. Hình tượng có thể thay đổi nhưng chúng vẫn có cùng một nội dung.

Vậy đau buồn có phải là do cái thực tế của ký ức bị chấm dứt? Cái thực tế đã tạo ra, đã gom lại thành ký ức bị chấm dứt và do đó tôi cảm thấy mất mát, bơ vơ. Tôi đã mất con. Đó là đau buồn, hay đó chỉ là sự tự thương hại có liên quan đến ký ức, đau khổ, lo âu của chính mình hơn là sự ra đi của ai đó? Có phải đau buồn chính là tư lợi? Xin hãy tìm hiểu nó. Tôi muốn nuôi dưỡng ký ức đó: tôi rất nhớ con mình, tôi chung thủy với người vợ quá cố của mình, dù vẫn ráng cưới thêm một bà vợ nữa. Tôi rất trung kiên về ký ức về những việc đã xảy ra trong quá khứ. Đó có phải là đau buồn? Rồi lại có nổi buồn vì thất bại. Các ngài cũng biết cường độ tự đồng hóa của lòng tư lợi với các từ ngữ đó làm ứa nước mắt chúng ta đến thế nào. Và những giọt nước mắt này con người đã khóc trong hằng triệu năm qua, bây giờ chúng ta vẫn còn khóc. Những người tham chiến mà khóc thì sẽ bị bắn tan tành vì một ý tưởng là một người lính phải biết tự kiềm chế, không được ủy mị, hèn nhát. Ý tưởng, suy nghĩ đang hủy diệt mỗi người chúng ta. Hãy nghĩ đến những người đã khóc trước khi ngài khóc.

Vậy có sự kết thúc cho nỗi đau buồn không? Từ ngữ ‘đau buồn’ cũng ngụ nghĩa nỗi khổ hình. Khi nào còn có lòng tư lợi tự đồng hóa với các ký ức về các thực tế đã mất đi, lòng tư lợi đó sẽ là một phần, một mảng của cảm xúc đau buồn. Có thể nào mọi thứ này chấm dứt? Khi nào có đau buồn thì không thể có tình yêu. Tình yêu là gì? Ngài thấy chúng ta đã bước vào những vấn đề rất hệ trọng. Đó không phải là trò giải khuây trong buổi sáng Chủ nhật hay trong ngày nghỉ. Không phải là chuyện làm nôn nóng, mà là cuộc dạo bước chậm rãi trên con đường quê, ngắm nhìn và ngắm nhìn mọi thứ, trụ lại với các thứ gây phiền lòng cho ngài, trụ lại với những điều làm ngài thích thú, trụ lại với các ý tưởng trừu tượng, xa vời – trụ với mọi hình ảnh, mọi thứ do trí não sắp đặt, bày vẽ, kể cả thượng đế. Đó là hoạt động của suy nghĩ. Thượng đế không tạo ra chúng ta, mà chúng ta tạo ra thượng đế theo hình ảnh của chúng ta, đó là chuyện hết sức giản dị và rõ ràng.

Nói về tình yêu cũng là nói về cái chết. Tình yêu, cái chết và sự sáng tạo. Các ngài thấy điều này phải không? Có thể ngài phải mất cả giờ để nói về nó, vì nó rất hệ trọng. Chúng ta đang đặt câu hỏi: Sáng tạo là gì? Không phải là phát minh, chế tạo. Xin phân biệt giữa hai từ sáng tạo và phát minh. Phát minh gồm một chuỗi ý tưởng kỹ thuật, tâm lý, khoa học… Chúng ta không nói về ý tưởng. Chúng ta đang nói về những điều rất hệ trọng: tình yêu, cái chết, sáng tạo. Xin lỗi, tôi không thể trả lời hết trong năm phút. Chúng ta sẽ nói về nó vào Chủ nhật khác. Không phải tôi chiêu dụ các ngài đến. Chúng ta sẽ tìm hiểu điều đó, và cũng tìm hiểu tín ngưỡng là gì, thiền định là gì, và tìm xem có gì đó vượt ngoài chữ nghĩa, vượt ngoài sự đắn đo và suy nghĩ, điều gì đó không tạo ra từ tư tưởng, điều gì đó không thể diễn tả, vô biên, phi thời gian. Chúng ta sẽ tìm hiểu tất cả điều đó. Nhưng người ta không thể tiếp cận được nó nếu còn sợ hãi, hay thiếu tương quan đúng nghĩa. Nếu trí não ngài không giải thoát khỏi mọi điều này thì ngài không thể hiểu người khác được.

Tình yêu không thuộc tâm trí. Tình yêu chỉ có khi tâm trí thực sự tĩnh lặng, khi nó không còn trông chờ, đòi hỏi, yêu cầu, tìm kiếm, sở hữu, ganh tị, sợ hãi, lo âu.

Sống và chết luôn luôn đi với nhau. Một tâm trí biết chết đi trong từng giây phút, không tích lũy, không tom góp kinh nghiệm, là tâm trí biết thơ ngây, và do đó biết được tình yêu.

Chủ nhật, 21 tháng 7

Hôm nay là buổi sáng nói chuyện cuối cùng ở Saanen. Chúng ta sẽ tiếp tục điều đang nói lần trước tại đây. Chúng ta cũng cần nói thêm rằng đây không phải là một bài diễn thuyết. Diễn thuyết có nghĩa là truyền đạt, giảng giải một chủ đề nào đó. Đây không phải là một buổi giải trí. Giải trí có nghĩa là tìm thú vui, đi đến nhà hát, hay vào đền chùa, nhà thờ tìm nghi lễ cầu nguyện. Đây cũng không phải là vấn đề tìm hiểu thuần túy trí thức, lý thuyết…, chúng ta nên dùng từ gì, à, tâm lý. Tốt hơn nên xem nó là một sự tìm tòi mang tính triết lý, vì triết lý có nghĩa là yêu chân lý, không phải nói về những điều đã nói được, và chúng ta không bàn luận, không bận tâm đến những gì người khác đã nói. Chúng ta cùng nhau, các ngài và người nói, như hai con người – chứ không phải là đám đông cử tọa lớn như vầy, mà ngài, ở cương vị một con người, và người nói đây có cuộc hội thoại với nhau, nói với nhau về cuộc đời, về các vấn đề, về mọi nỗi cơ cực của cuộc sống, sự bấn loạn, sợ hãi, khát vọng, mong ước thành đạt, dù trong thế giới kinh doanh hay trong cái gọi là thế giới tôn giáo, thế giới tâm linh; nghĩa là thành công trong việc vươn tới Niết bàn, Thiên đường, hay Giác ngộ, cũng đều giống như muốn thành công trong thế giới kinh doanh. Tôi mong chúng ta hiểu nhau. Một người thành công trong đời là kiếm được nhiều tiên, khuếch trương công việc, cải tiến và tiếp tục con đường thành công. Không có khác biệt nhiều giữa người đó và người đi tìm chân lý. Cả hai đều tìm kiếm thành công. Người này thì ngài chê là trần tục, người kia thì ngài khen là thánh thiện, có tinh thần mộ đạo, biết hướng tâm linh. Chúng ta không nói về cả hai loại người này. Chúng ta quan tâm đến nhau như con người. Ngài và người nói đang hội thoại cùng nhau. Ý ông ta là muốn mọi người cùng nhau hội thoại, dù là ngài ddang ngồi dưới kia và người nói, rủi thay (!), phải ngồi trên đây.

Ngài và người nói đã nói về quan hệ, như quan hệ giữa đàn ông và đàn bà, nam và nữ và vân vân. Chúng ta cũng nói về sợ hãi, liệu có thể sống trong thế giới hiện đại này mà hoàn toàn được giải thoát về mặt tâm lý tất cả nỗi sợ hãi không. Chúng ta đã tìm hiểu kỹ lưỡng điều này. Và chúng ta cũng đã nói về thời gian, thời gian mà chúng ta sống trong đó, cái vòng thời gian gồm có quá khứ được thể hiện trong hiện tại và tiếp tục ở tương lai, cái quá khứ chứa đựng toàn thể bối cảnh của chúng ta, nòi giống, cộng đồng, tôn giáo, kinh nghiệm, ký ức. Tất cả điều này là bối cảnh của chúng ta, dù chúng ta sinh ra ở tận Viễn Đông, ở Âu châu hay ở Mỹ châu. Bối cảnh đó trải qua các biến đổi, thể hiện ở hiện tại và tiếp tục ở tương lai. Con người, là mình và người khác, bị nhốt trong cái vòng cưỡng tỏa này. Điều này đã tiếp tục thể hiện hằng triệu triệu năm qua. Vì thế quá khứ đi xuyên qua hiện tại, tự sửa đổi chút ít, rồi thành tương lai. Và đó là sự tiến hóa của chúng ta. Dù về mặt sinh học chúng ta có thể thay đổi từ hằng triệu năm trước đến nay, nhưng về mặt tâm lý bên trong, về mặt chủ quan, chúng ta ít nhiều gì cũng giống như chúng ta hằng triệu năm trước – nghĩa là vẫn được dã man, tàn bạo, hung ác, tranh giành, ích kỷ. Đó là sự thực. Vậy tương lai là hiện tại. Điều này là rõ ràng với ngài và với người nói chứ? Quá khứ tự sửa đổi để trở thành tương lai, vì thế tương lai nằm ở bây giờ, trừ phi có một sự thay đổi rốt ráo về mặt tâm lý.

Điều chúng ta quan tâm là liệu con người, nghĩa là mình và người khác, có thể mang lại sự biến đổi tâm lý, một sự cách mạng tâm lý toàn triệt trong chính mình. Phải biết rằng nếu bây giờ chúng ta bị tổn hại, bị tổn thương về mặt tâm lý, như hầu hết mọi người đều bị, thì sự tổn thương trong tương lai là nằm ngay tại lúc này. Điều này có rõ không?

Vì thế con người, tức là các ngài, có thể nào mang lại một sự biến đổi hoàn toàn? Sự biến đổi đó làm thay đổi chính tế bào não. Ví như ngài đang đi về phương bắc gần hết cả đời mình, bỗng có người đến nói, ‘Hướng bắc chẳng có gì hay ho cả, chẳng có gì ở đó. Hãy về phương đông, hay tây, hay nam’, Và vì ngài đang lắng nghe, vì ngài quan tâm, vì ngài thận trọng, ngài sẽ đi về phương đông, có một sự biến đổi trong tế bào não, bởi vì việc đi về phương bắc đã trở thành khuôn mẫu, lối mòn, và khi ngài quay về đông ngài đã phá vỡ được khuôn mẫu. Vấn đề đơn giản như vậy, nhưng cần lắng nghe, không chỉ qua ngôn từ, không chỉ nghe bằng tai, nhưng nghe mà không có diễn dịch, không so sánh, nghe trực tiếp, chứ không đem các truyền thống của ngài, bối cảnh của ngài, sự diễn dịch của ngài vào khi nghe. Lúc đó chính hành động lắng nghe phá vỡ sự khuôn định của ngài.

Chúng ta cũng nói về sự ngắm nhìn – nhìn rất tỏ tường những gì đang xảy ra trong thế giới hiện nay: chiến tranh và những chuyện khủng khiếp đang xảy ra mọi nơi. Hằng triệu năm trước con người giết nhau bằng cây hèo, sau đó hắn sáng chế ra cung tên, nghĩ rằng mũi tên sẽ chấm dứt mọi cuộc chiến tranh. Giờ đây ngài có thể hủy diệt hằng triệu người chỉ với một trái bom. Chúng ta đã hết sức tiến bộ bên ngoài, về mặt kỹ thuật. Máy vi tính có lẽ sẽ thay thế hết mọi suy nghĩ của chúng ta. Nó có thể suy nghĩ nhanh hơn và tốt hơn chúng ta. Không biết các ngài có để ý vấn đề này không, nhưng ngài nên tìm hiểu. Trí não con người sẽ ra sao khi máy tính có thể làm được hầu hết mọi chuyện ngài có thể làm, dĩ nhiên ngoại trừ tình dục? Nó không thể ngắm nhìn sao trời và nói, ‘Thật là một đêm tuyệt vời’, và nó không thưởng thức được vẻ đẹp. Vậy trí não của con người sẽ ra sao? Nó có sẽ tàn héo khi máy tính hiện đại suy nghĩ hết dùm ngài? Nó sẽ giảm nhẹ công việc lao động, để chúng ta chỉ lo giải trí, hay quay sang một hướng hoàn toàn khác, bởi vì về mặt tâm lý bên trong, chúng ta có thể tiến tới vô cùng. Trí não của mỗi người đều có một khả năng phi thường. Hãy xem thành quả kỹ thuật thì biết. Nhưng về mặt tâm lý, về mặt chủ quan, chúng ta vẫn như cũ, từ năm này qua năm khác, từ thế kỷ này qua thế kỷ khác: xung đột, tranh giành, đau khổ, lo âu và các thứ. Đó là những gì chúng ta đã nói trong các buổi trước.

Và chúng ta cũng nói về suy nghĩ: bản chất của suy nghĩ là gì, suy nghĩ là gì? Chúng ta đã tìm hiều nó rất cặn kẽ. Tất cả suy nghĩ là trí nhớ, dựa trên tri thức và tri thức luôn luôn giới hạn, dù là tri thức quá khứ, hiện tại hay tương lai. Tri thức vĩnh viễn là giới hạn vì nó dựa trên kinh nghiệm, mà kinh nghiệm nào cũng luôn luôn giới hạn.

Sáng nay chúng ta sẽ nói với nhau, ngài và người nói, không phải toàn thể cử tọa (chẳng có cử tọa nào, chỉ có ngài và người nói) – chúng ta sẽ nói với nhau về tình yêu, cái chết, tôn giáo là gì, thiền định là gì, và xem có cái gì vượt ngoài mọi nỗ lực của con người – hay con người là thước đo duy nhất của mọi thứ? Có cái gì vượt ngoài cấu trúc tư tưởng, có cái gì là phi thời gian? Đó là điều chúng ta, các ngài và người nói, sẽ lưu tâm đến sáng hôm nay.

Chúng ta sống dựa vào cảm giác. Chúng ta đã nói về chuyện đó. Toàn bộ cấu thể của chúng ta dựa vào cảm giác – tình dục, tưởng tượng, lãng mạn, hoang mang và vân vân. Và chúng ta cũng nói tư lợi là sự suy đồi lơn nhất. Và co phải cảm giác, nghĩa là sự kích thích các giác quan là tình yêu? Chúng ta, ngài và người nói, đang tìm hiểu điều này với nhau. Đó là con đường dài, ngài và người nói đang dạo bước cùng nhau, không phải ông ta đi trước và các ngài theo sau, nhưng sánh bước cùng nhau, có thể nắm tay nhau một cách thân thiện, không áp chế lẫn nhau, không cố gây ấn tượng với nhau. Thế nên ngài và người nói đang lặng lẽ bước đi, thám hiểm, tìm tòi, quan sát, lắng nghe, ngắm nhìn.

Vậy chúng ta đang hỏi nhau, tình yêu là gì? Từ ngữ này đã bị suy đồi, bị thoá mạ, thoái hóa, nên chúng ta phải cảnh giác khi dùng từ này. Tình yêu là gì? Có phải nó chỉ là cảm giác? Tôi yêu ngài và tôi lệ thuộc vào ngài, ngài cũng lệ thuộc vào tôi, nhưng có lúc tôi sẽ bán đứng ngài và ngài cũng bán đứng tôi; tôi dùng ngài và ngài dùng tôi. Nếu tôi nói rằng tôi yêu ngài bới vì ngài là đám đông thính giả nuôi dưỡng lòng kiêu ngạo của tôi, và tôi cảm thấy vui vẻ, hài lòng, vừa ý – như vậy có phải là tình yêu? Có phải sự vừa lòng, sự lấp đầy cái tôi, sự ràng buộc đó là tình yêu? Có phải tình yêu được suy nghĩ lắp đặt trước? Ngài và người nó đang tìm tòi với nhau, vậy đừng ngủ gục trongg buổi sáng đẹp trời này nhé.

Tình yêu có phải là cảm giác? Tình yêu có phải là sự vừa lòng? Tình yêu có phải là sự lấp đầy cái tôi? Có phải là sự lệ thuộc? Tình yêu có phải là lòng mong cầu? Xin đừng đồng ý hay không đồng ý. Chúng ta đã biết mình luôn luôn chờ sẵn để đồng ý hay không đồng ý đến thế nào. Có thể nào chúng ta loại bỏ khỏi vốn từ của chúng ta, khỏi trí não chúng ta từ ‘tôi đồng ý’, ‘tôi không đồng ý’ và chỉ đối mặt với sự kiện như nó đang là, không chỉ ở trên thế giới bên ngoài mà còn trong lòng chúng ta nữa? Điều này đòi hỏi phải hết sức chân thực, cực kỳ chân thực. Chúng ta có thể làm vậy sáng nay không – đối mặt với sự vật như chúng đang là? Lúc đó chúng ta có thể bắt đầu tra hỏi, tìm tòi xem tình yêu là gì?

Tình yêu có phải là lòng mong cầu? Trong các buổi trước chúng ta đã nói hết sức sâu xa của cơ cấu của lòng mong cầu rồi, chúng ta không có thì giờ để nói lại nữa. Xin tóm tắt: mong cầu, mong ước là kết quả của cảm giác, và ngay lúc suy nghĩ định hình cho cảm giác, mong ước sinh ra. Vì vậy chúng ta hỏi: tình yêu có phải là mong ước? Tình yêu có phải là suy nghĩ? Xin tìm hiểu điều này. Chính cuộc đời mình là điều chúng ta quan tâm – cuộc sống của chúng ta, cuộc sống hằng ngày của chúng ta, không cần phải quan tâm cuộc sống tâm linh nào, không cần phải chạy theo vị đạo sư rỗng tuếch nào, không cần phải tròng vào cái áo lễ nào cho ra vẻ. Tình yêu có phải chỉ là kết quả của suy nghĩ? Trong quan hệ giữa chúng ta, đàn ông, đàn bà, nam ,nữ, vân vân, khi mình nói, ‘Tôi yêu em hay tôi yêu anh’, đó có phải là sự lệ thuộc? Mình biểu lộ chính mình qua người khác, và trong quan hệ đó suy nghĩ xen vào, và rồi suy nghĩ tạo ra hình ảnh, và hình ảnh đó chúng ta gọi là tình yêu, rủi thay phải dùng từ này, được sắp đặt bởi suy nghĩ? Có tình yêu không khi có tham vọng, khi chúng ta tranh giành lẫn nhau? Có tình yêu nào không có tư lợi không? Xin đừng chỉ nghe người nói, hãy nghe chính mình. Khi ngài khám phá điều gì qua cái sự thực đang là, ngài có thể đi rất xa, nhưng nếu ngài chỉ lệ thuộc vào người khác, vào lời lẽ, sách vở của ông ta, vào tiếng tăm của ông ta, điều này là vô nghĩa. Hãy quăng các thứ ấy đi và nhìn vào chính mình. Mình phải có đam mê. Đam mê có thể tồn tại, như chúng ta đã nói hôm trước, khi đau khổ chấm dứt. Đam mê mà không có cảm xúc hoang tưởng trong thế giới đầy dẫy đam mê này. Nếu thực sự hoang tưởng nuôi dưỡng đam mê thì đam mê đó không phải là cái đam mê nảy sinh khi đau buồn đã chấm dứt. Chúng ta đã nói chuyện này rồi.

Câu hỏi của chúng ta là: Tình yêu có phải là những thứ đó? Ghen tuông, tức là bao gồm thù hận, giận dữ, mong cầu, khoái lạc và vân vân – mọi thứ này có phải là tình yêu? Chúng ta có dám đối mặt với những điều này không? Các ngài và người nói có đủ chân thực để tự mình khám phá ra hương vị của từ ngữ này?

Từ đó chúng ta phải xem xét vị trí cái chết ở đâu trong cuộc sống chúng ta. Cái chết đang nói ở đây không phải là điều không lành mạnh. Nó là một phần cuộc sống chúng ta. Từ lúc sinh ra cho đến lúc chết thực sự, luôn luôn có nỗi sợ chết khủng khiếp. Ngài có sợ cái chết không? Chúng ta cố đẩy nó ra càng xa càng tốt. Vậy chúng ta hãy cố tìm hiểu cái điều dị thường mà chúng ta gọi là cái chết. Hẳn nhiên đó là điều dị thường. Chúng ta hãy tìm hiểu mà không đưa vào sự lãng mạn, an ủi, niềm tin vào kiếp sau hay cuộc sống sau cái chết. Kiếp sau là một ý tưởng an ủi tuyệt diệu. Nếu mình thành thật tin tưởng vào nó, tin tưởng sâu xa như hằng triệu người đang tin, thì chuyện quan trong bây giờ phải xem ngài đang làm gì, ngài như thế nào, hành vi ra sao, cuộc sống thường ngày như thế nào; bởi vì nếu có sự tiếp tục ở cõi đời sau, thì ngài sẽ có tòa lâu đâì tốt hơn, tủ lạnh tốt hơn, xe hơi tốt hơn, vợ hay chồng tốt hơn. Vậy có thể dẹp qua một bên ý tưởng an ủi đó?

Cái chết là gì? Đầu tiên chúng ta phải tìm hiểu xem sống là gì – theo chúng ta nghĩ sống là gì? Chúng ta cho là cuộc sống tốt phải như thế nào? Phải chăng cuộc sống tốt là có nhiều tiền, xe cộ, thay đổi vợ hay nhân tình thường xuyên, hay đi tìm ông đạo nào đó để bị nhốt trong trại tập trung của ông ta? Xin đừng cười, đó thực sự là điều đang xảy ra. Phải chăng cuộc sống tốt là hưởng thụ, đầy thỏa mãn, phấn khích, đầy cảm giác, đi làm từ sáng đến tối trong bốn mươi năm? Trời ơi, xin hãy đối mặt với mọi thứ này! Làm việc, làm việc, và rồi chết. Có phải chúng ta gọi như vậy là cuộc sống – thường xuyên xung đột, thường xuyên hết vấn đề này đến hết vấn đề kia? Trong cuộc đời mà chúng ta đang bám vào, chúng ta đã thu nhập một khối lượng thông tin và tri thức khổng lồ để làm mọi thứ, và chúng ta bám vào tri thức ấy. Mọi điều này được gọi là cuộc sống – đau khổ, lo âu, bất định, đau buồn và xung đột vô tận. Và cái chết đã đến, có lẽ vì tai nạn, vì tuổi già, lão suy. Chữ đó rất hay. Lão suy là gì? Tại sao các ngài quy tình trạng suy lão cho tuổi già? Tại sao các ngài nói, ‘Ông ta là một lão già suy yếu’? Có lẽ tôi cũng bị thế thật! Ngài có bị lão suy không? Lão suy là kém trí nhớ, hay nói mãi một chuyện, hay hồi tưởng chuyện xưa, bị lẫn lộn. Như vậy thường được gọi là lão suy. Người nói thường tự hỏi mình câu hỏi này: Có phải lão suy là vấn đề của tuổi già. Hay bắt đầu có lão suy khi ngài lặp lại, lặp lại và cứ lặp lại? Ngài thấy chứ? Khi ngài theo truyền thống ông cha, tiếp tục đi nhà thờ, chùa chiền, rồi lặp lại, lặp lại và cứ lặp lại. Có người quì gối, có người dập đầu sát đất, có người phủ phục. Vì thế lão suy có thể xảy ra ở mọi tuổi, đúng không? Hãy tự hỏi câu hỏi ấy.

Cái chết có thể xảy ra vì tuổi già, vì tai nạn, vì bệnh hoạn, đau đớn cùng cực; và khi nó đến, thế là chấm dứt mọi tương tục của ngài, mọi ký ức của ngài, mọi ràng buộc của ngài, tài khoản ngân hàng của ngài, tiếng tăm của ngài. Vậy chúng ta cần xem xét sự tương tục là gì và sự chấm dứt là gì. Chúng ta sẽ tìm hiểu nó nhé? Cái gì tiếp tục và cái gì chấm dứt? Tại sao chúng ta sợ chấm dứt điều gì đó, có thể là truyền thống, thói quen, ký ức, một kinh nghiệm? Không phải là sự chấm dứt có tính toán, không phải chấm dứt cái này để lấy lại cái khác. Ngài không thể lý luận với cái chết. Có nhiều câu chuyện cổ tích Ấn Độ tuyệt hay. Tôi không biết chúng ta có nhiều thì giờ kể chuyện không vì chúng ta phải nói về tôn giáo, thiền định và xem có điều gì vượt ngoài mọi nỗ lực của con người. Thôi được, tôi sẽ kể lại vắn tắt thôi.

Một người Bà-la-môn đã tom góp nhiều thứ, bò và các tài sản khác, và ông ta quyết định đem cho hết, từng món một. Người con đến nói với ông ta, ‘Tại sao cha đem cho hết vậy?’ Ông ta giải thích rằng khi mình đã tom góp quá nhiều thứ, mình phải đem cho hết để bắt đầu lại. Ngài hiểu ý nghĩa của câu chuyện này chứ? Ngài tom góp rồi lại rồi lại đem cho hết mọi thứ ngài đã tom góp. (Tôi không yêu cầu các ngài làm vậy đâu.) Nhưng người con cứ hỏi mãi câu này, và người cho giận dữ nói, ‘Ta sẽ gửi mày đến thần chết nếu mày còn hỏi nữa.’ Người con lại hỏi, ‘Sao cha gửi con đến thần chết?’ Khi một người Bà-la-môn đã nói thì sẽ giữ lời, ông ta gửi con mình đến thần chết. Sau khi đã hỏi thăm các vị thầy, các triết gia, các đạo sư, đứa con đến nhà thần chết. (Tôi rút ngắn bớt diễn biến câu chuyện) Anh ta chờ ở đó ba ngày. Xin để ý sự tinh tế của câu chuyện này. Anhh ta đợi ở đó ba ngày. Rồi thần chết đến và xin lỗi vì đã để anh ta chờ quá lâu, nói cho cùng ông ta cũng là một người Bà-la-môn, vì thế ông ta xin lỗi và nói, ‘Ta sẽ cho ngươi mọi thứ ngươi muốn: giàu sang, đàn bà, đàn bò, tài sản, hay bất cứ gì ngươi muốn.’ Người con nói, ‘Nhưng ông lại có mặt khi nó chấm dứt. Ông luôn luôn có mặt ở đoạn cuối mọi thứ.’ Thế là thần chết bèn nói qua những chuyện khác mà người con không sao hiểu nổi. Đó thực là một câu chuyện tuyệt hay.

Thôi chúng ta hãy quay lại với thực tế. Cái chết là gì? Thời gian có nằm trong đó? Có phải thời gian là cái chết? Tôi đang hỏi ngài, xin hãy xem xét. Thời gian, không chỉ thời gian theo đồng hồ, theo mặt trời mọc rồi lặn, mà còn thời gian tâm lý bên trong. Khi nào còn lòng tư lợi, là bánh xe của thời gian, thì phải còn cái chết. Vậy thời gian có liên quan gì đến cái chết? Ô các ngài hãy đi tiếp xem. Nếu không có thời gian thì có cái chết không? Xin để ý, đây thực sự là thiền định, không phải như các thứ giả hiệu khác. Đối với chúng ta thời gian rất quan trọng – thời gian để thành công, thời gian để phát triển thành công thêm, mang lại cải tiến trong sự thành công đã có. Thời gian có nghĩa là sự tiếp diễn. Tôi đã là, tôi đang là, tôi sẽ là. Sự tiếp diễn thường xuyên này tồn tại trong chúng ta, đó là thời gian. Nếu như không có ngày mai – (tôi đi sâu vào mọi khía cạnh vấn đề này được không? Đây là một đề tài nghiêm trọng. Xin chú ý nếu ngài quan tâm, nếu không cứ ngáp và nghỉ ngơi.) – Nếu như không có ngày mai, ngài có sợ chết không? Nếu cái chết đến ngay bây giờ, tức thì, sẽ không có sợ hãi, phải không? Không có thời gian! Ngài nắm được điều tôi đang nói không? Vì thế khi nào suy nghĩ còn hoạt động trong phạm vi thời gian – là điều nó làm suốt ngày – thì không thể tránh được cảm giác rằng cuộc sống phải chấm dứt và do đó mình sợ. Vì thế thời gian là kẻ thù của cái chết. Hay thời gian chính là cái chết.

Ví như người nói bị ràng buộc với cử tọa với ông ta vì từ sự ràng buộc đó ông ta rút được ra nhiều phấn khích, cảm xúc, vẻ quan trọng, lợi lạc, hay ganh tị với người có đông thính giả hơn – nếu như người nói bị ràng buộc với người nghe, với sách vở kinh nghiệm, với danh vị, với tiếng tăm, thì ông ta sẽ sợ hãi cái chết. Ràng buộc ngụ nghĩa thời gian. Không biết các ngài có thấy hết điều này không? Ràng buộc ngụ nghĩa thời gian. Vậy có thể nào tôi, các ngài, hoàn toàn giải thoát khỏi ràng buộc ngay bây giờ? Không phải đợi đến lúc chết, mà hoàn toàn giải thoát khỏi ràng buộc ngay bây giờ? Vâng, thưa các ngài, hãy đối diện với sự kiện này.

Thế nên sống có nghĩa là đang chết và do đó sống là cái chết. Ngài thấy điều tôi đang nói? Ô xin các ngài tìm hiểu tiếp. Đó là lý do tại sao mình phải dựa trên nền móng của việc tự hiểu mình, không phải hiểu theo các triết gia, bác sĩ tâm bệnh, sách vở, vân vân, nhưng tự hiểu mình, quan sát chính hành vi của mình, cách cư xử của mình, thói quen của mình – là sự tích lũy thuộc nòi giống, cộng đồng, truyền thống, cá nhân mà chúng ta đã tom góp trong nhiều thiên niên kỷ - nhận biết tất cả mọi thứ trong ngài. Sự hiểu biết, nhận biết điều đó không thuộc thời gian, nó có thể hiện hữu tức thì. Và tấm gương mà các ngài soi thấu điều này chính là mối quan hệ giữa các ngài và người khác – nghĩa là thấy trong tương quan đó tất cả thói quen quá khứ, hiện tại, thấy trước tương lai, mọi thứ ở đó. Biết cách để nhìn, cách quan sát, cách nghe mỗi lời nói, mọi động thái của suy nghĩ, cần hết sức chú tâm, tỉnh thức.

Vậy cái chết không nằm ở tương lai. Cái chết là bây giờ khi không có thời gian, khi không có cái tôi muốn trở thành gì đó, khi không có tư lợi, không có hoạt động vị kỷ, tức là không có tất cả mọi diễn trình của thời gian.

Vì vậy sống và chết luôn luôn đi với nhau. Ngài không ngờ được vẻ đẹp của nó đâu. Có một năng lượng lớn lao trong đó. Chúng ta sống nhờ vào năng lượng. Ngài dùng thức ăn, ăn uống điều độ, và nó sẽ cho ngài một lượng năng lượng nhất định. Năng lượng đó sẽ bị biến dạng khi ngài hút thuốc, uống rượu hay các thứ tương tự. Trí não có năng lượng phi thường, và năng lượng đó cần có để tự mình khám phá, tự mình tìm ra, chứ không phải bị điều động bởi người khác.

Bây giờ chúng ta sẽ tìm hiểu tôn giáo là gì. Chúng ta đã nói về sợ hãi, chúng ta đã nói về các vết thương tâm lý, đừng mang chúng suốt cuộc đời mình. Chúng ta đã nói về ý nghĩa của tương quan. Chẳng có gì tồn tại trên trái đất mà không có tương quan, và tương quan đó đã bị hủy diệt khi mỗi chúng ta cứ đeo đuổi tham vọng của mình, lòng tham của mình, tìm sự lấp đầy cái tôi của mình, lòng tham của mình, và vân vân. Chúng ta đã nói về sợ hãi. Chúng ta đã cùng tìm hiểu vấn đề suy nghĩ, thời gian, đau buồn và sự chấm dứt đau buồn. Sáng nay chúng ta cũng đã nói về cái chết. Bây giờ chúng ta đã dám bàn, đã tỉnh táo để hiểu tôn giáo, tín ngưỡng là gì, vì chúng ta đã đủ sức. Vì sao thế? Bởi vì chúng ta đã dẹp qua một bên những xung đột và tư lợi của con người. Nếu ngài làm được vậy nó sẽ hiến cho ngài nỗi đam mê và năng lực bao la, sức mạnh không thể kể xiết. Vậy tôn giáo là gì?

Có phải tôn giáo, tín ngưỡng là các thứ mà tư tưởng, suy nghĩ sắp đặt lại với nhau? Các nghi lễ, áo lễ, các đạo sư, các lời cầu nguyện rì rào bất tận – có phải đó là tôn giáo? Hay đó là công cuộc kinh doanh lớn? Có một ngôi đền ở phía Nam Ấn Độ cữ mỗi ba ngày kiếm được hằng triệu đô la. Ngài thấy điều tôi đang nói chứ? Cứ mỗi ba ngày ngôi đền đó kiếm được một triệu đô la! Và chuyện đó được gọi là tôn giáo. Nhưng đó có phải là tôn giáo? Mỗi sáng Chủ nhật đi nghe giảng kinh và lặp lại các động tác nghi lễ, đó có phải là tôn giáo? Hay là tôn giáo không có bất kỳ điều gì liên quan đến những chuyện đó? Ngài chỉ có thể dám hỏi câu này khi ngài tự do khỏi mọi chuyện đó, không bị kẹt trong sự rối rắm, trong cách hành lễ đó, trong quyền lực, trong vị thế, phả hệ của nó. Chỉ lúc đó ngài mới dám hỏi câu này: tôn giáo là gì? Phải chăng thượng đế được tạo ra bởi tư tưởng, bởi sợ hãi? Con người là hình ảnh của thượng đế, hay thượng đế là hình ảnh của con người? Có thể nào dẹp các thứ đó qua một bên để tìm ra điều không bị sắp đặt bởi suy nghĩ, bởi cảm giác, bởi sự lặp lại, bởi nghi lễ? Bởi vì tất cả những cái đó không phải là tôn giáo – ít nhất là đối với người nói. Tất cả những cái đó không có liên quan gì đến thiêng liêng.

Vậy rồi chân lý là gì? Có một cái gì đó gọi là chân lý không? Có cái gì đó – một chân lý tuyệt đối, không thể chối bỏ được, không phụ thuộc vào thời gian, hoàn cảnh, truyền thống, tri thức, hay điều Phật đã nói, hay người nào đó đã nói? Ngôn từ không phải là chân lý. Do đó không có sùng bái cá nhân. K chẳng quan trọng chút nào. Chúng ta đang tìm tòi xem chân lý là gì, nếu thực sự có nó. Và xem có điều gì đó vượt ra ngoài thời gian, là sự chấm dứt của mọi thời gian hay không. Người ta nói rằng thiền định, một tâm trí tỉnh táo, là cần thiết để hội nhập điều đó. Chúng ta sẽ tìm hiểu nó nhé.

Thiền định là gì? Theo từ điển từ ngữ này có nghĩa là suy ngẫm, trầm tư mặc tưởng, suy nghĩ rốt ráo. Trong tiếng Phạn và Latinh nó có thêm nghĩa khác là đo lường. Đo lường ngụ nghĩa cần so sánh. Không thể đo lường được nếu không có so sánh. Vậy vị trí não có thể giải thoát khỏi sự đo lường? Không phải sự đo đạc bằng thước tấc, cây số, dặm, ý ở đây là cân nhắc việc trở thành hay không trở thành, so sánh hay không so sánh. Có thể nào trí não thoát khỏi hệ thống đo lường? Tôi cần đo đạc để may áo quần, tôi cần đo đạc để đi từ đây đến nơi khác. Khoảng cách ngụ ý phải đo đạc, thời gian ngụ ý có đo lường. Ô xin tìm hiểu tiếp! Có thể nào trí não giải thoát khỏi đo đạc, khỏi sự cân nhắc, nghĩa là không so sánh? Đừng so sánh bất cứ gì để trí não hoàn toàn tự do. Đây là thiền định thực sự. Có thể nào sống trong thế giới hiện đại này, kiếm tiền, nuôi con, tình dục, cãi vã, thản nhiên trước sự trơ trẽn, sự rối bời đang tiếp diễn dưới tên gọi tôn giáo? Có thể nào mình tự do khỏi mọi thứ ấy? Không phải giải thoát cái này để đổi lại cái kia. Chỉ tự do thôi.

Vì vậy thiền định không phải là trầm tư có chủ ý. Ngài thấy chứ? Nó không thể là trầm tư mặc tưởng có chủ ý, theo một phương pháp, phương cách của đạo sư nào đó – như được gọi là thiền định tập thể, thiền định theo nhóm, thiền định cá nhân, theo Zen hay theo một phương pháp cụ thể. Nó không thể là một phương để ngài cứ thực hành, thực hành, rồi cứ thực hành mãi cho đến khi trí não ngài càng lúc càng trở nên đần độn, u mê, càng trở nên máy móc. Vậy thì có sự thiền định nào không hướng định, không chủ ý, không cân nhắc? Hãy tìm xem!

Điều đó đòi hỏi rất nhiều năng lực, chú tâm, đam mê. Lúc đó chính đam mê này, năng lực này, sức mạnh này sẽ là sự tĩnh lặng. Không phải là sự tĩnh lặng do trí não sáng chế. Đó là sự tĩnh lặng bao la không có thời gian và không gian trong đó. Lúc đó sẽ có cái không thể gọi tên, cái thiêng liêng vĩnh cửu.

 

Lời Cuối Bình Yên, Mộc Nhiên biên dịch

  • "Tibetan Meditation Instructions" là một bản văn cô đọng về Thiền Tây Tạng do Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đời 14 viết cho ấn bản điện tử của Tricycle, một tạp chí Phật Giáo tại Hoa Kỳ. Nơi đây, ngài nói về pháp thiền này là hãy để tâm vào trạng thái tự nhiên, và hãy quán sát tâm này - mà tâm là một thực thể, theo ngài, có tánh sáng và tánh biết, nơi đó bất kỳ những pháp gì, hiện tượng gì, sự kiện gì trong thế giới xuất hiện với chúng ta cũng đều qua nhận biết của thức. Khi ngồi, tóm gọn, chỉ để tâm thả lỏng tự nhiên và nhìn vào tâm này, dần dần sẽ thấy bản tánh của tâm.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 2.717
  • Mệnh vận của con người là do nghiệp lực chiêu cảm mà ra. Chúng ta không nên để bẩm chất, thói quen dắt dẫn mình, cũng đừng để dục vọng, vật chất làm mê mờ. Mình cần phải sáng tạo vận mệnh, lèo lái vận mạng. Muốn sửa đổi vận mạng thì phải làm cho nhiều việc công đức. Lúc ấy, khi bạn gặp nạn tự nhiên điều lành sẽ tới. Ðiều dữ sẽ biến thành điều kiết tường. Rằng: Hãy làm việc tốt, chớ hỏi sẽ được kết quả gì trong tương lai.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 2.142
  • Giới luật của Phật giáo có nghĩa là: “Anh đừng tự làm thương tổn mình, anh đừng tự làm hại mình”.

    1. Tự do của lệ thuộc và tự do của hỗn loạn

    Trong những tôn giáo độc thần, giới luật là những định luật vật lý và tâm lý được một Thượng Đế độc thần gài vào trong khi sáng tạo vũ trụ. Và vị Thượng Đế độc thần ấy ra lệnh cho con người – cũng do ngài tạo ra – phải tuân thủ những giới luật ấy, nếu không, trong ngày cánh chung hay tận thế, cũng chính vị ấy sẽ xét xử những ai phạm tội bất tuân những điều luật do vị ấy đặt ra và quẳng họ vào địa ngục đời đời.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.607
  • Bằng cách dần dần trở nên quen biết với bản tánh này, sẽ có được quán chiếu đích thực, nó đạt đến tột đỉnh với sự có được tự tin. Một khi đã có tự tin này, bạn chỉ đơn giản ở trong trạng thái đó và giữ gìn sự tự tin đó mà không thêm vào bất kỳ tạo tác nào. Bản tánh tối vi tế này không nhiễm ô bởi những lỗi lầm của sanh tử, thế nên chớ trộn lẫn nó với bất kỳ cái gì khác. Chớ cố gắng tìm kiếm cái gì khác để làm ; chỉ đơn giản ở trong sự tự tin đã đạt được. Hãy an trụ thường hằng trong trạng thái này và thỏa mãn với sự nhận biết đó.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.501
  • Ta cần phải thực tập cả hai phương cách, Thanh tịnh và Tỉnh giác, để đạt được những kết quả mà Thiền sẽ mang đến cho ta. Phần đông chúng ta đều muốn được an lạc. Ai cũng muốn được bình yên, muốn được có cảm giác vui sướng, mãn nguyện. Trong Thiền định, nếu ta thoáng bắt được cảm giác an lạc đó, ta sẽ hạnh phúc biết bao. Nhiều người đã thỏa mãn khi đạt được đến trình độ đó. Nhưng thanh tịnh không phải là mục đích của Thiền. Đó chỉ là phương tiện đưa đến cứu cánh. Thanh tịnh là phương tiện. Sự tỉnh giác trong nội tâm mới là cứu cánh. Phương tiện rất cần thiết nhưng không thể lầm lẫn chúng với cứu cánh. Nhưng vì phương tiện đó tạo ra sự thoải mái, dễ chịu, ta trở nên bám víu vào chúng.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.800
  •  bất cứ một trường học nào của các quốc gia trên thế giới cũng đều có dạy môn nầy. Ngày xưa tại Việt Nam ở bậc tiểu học có dạy môn: Công Dân Giáo Dục hay Đức Dục. Cứ mỗi sáng Thầy Cô giáo trước khi dò bài học sinh đều viết lên bảng đen một câu cách ngôn hay tục ngữ.

    Ví dụ:
    - Tiên học lễ, hậu học văn

    - Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây

    - Nhơn bất học bất tri lý, ngọc bất trác bất thành khí, ấu bất học lão hà vi?

    - Bầu ơi thương lấy bí cùng,
      Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn v.v...

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 2.137
  • Chúng ta sống nơi này, phút giây này nhưng vẫn ‘ly dị’ với nơi này phút giây này; tâm cứ nghĩ đến nơi khác, phút giây khác, một đời sống không thực vì đã qua hoặc chưa tới.

    Chỉ nói riêng ở Nhật Bản, trà đạo hay trà thiền là do Thiền sư Vinh Tây (1141-1215) chế tác ra, sau khi “du học” ở Trung Hoa và đem hạt giống về trồng. 

    Biến việc uống trà thành nghệ thuật, biến khu vườn thành tác phẩm nghệ thuật, biến thi ca, hội họa, bắn cung, võ thuật, múa, cắm hoa…thành nghệ thuật đã trở thành một lối sống kể từ khi Thiền trở thành một sức sống văn hóa để kết hợp với văn hóa của từng nước vùng Đông Á. Do đó mà có trà đạo, hoa đạo, võ đạo…

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.521
  • Các thói quen có hại và hành xử bất cẩn là nguyên nhân dẫn đến đau khổ. Nếu nỗ lực sống trọn vẹn, ta sẽ không bị rơi vào bẫy của những thói quen..Khi con ong đậu trên một bông hoa để hút mật nghĩa là nó đã bị hương hoa thu hút. Không nhận ra là màn đêm đang buông xuống, con ong bị mắc kẹt khi những cánh hoa từ từ khép lại. Là con người, ta cần sử dụng trí tuệ và mài giũa nhận thức của mình để các thói quen không trói buộc và cướp đi tự do của ta.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.495
  • Shri_SinghaĐại Toàn Thiện là nền tảng tối thượng chung của Sinh tử và Niết bàn - Hư không căn bản tối thượng . Trong đó có ba cách thái : Sinh tử , Niết bàn, và Con đường đều toàn thiện và viên mãn . Hiểu được bản tánh này như nó thực sự là . . . Đây là cái thấy ( Tri kiến hay Kiến giải ) . Đạt được sự thông thạo trong nền tảng vô thượng bổn nguyên nguyên sơ và không có thời gian . Bằng sự tự giác và mở rộng trong thực trạng hiện tiền của chính mình là : Thiền định tự do thoát khỏi mọi khuôn khổ quy chiếu cố định .

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.230
  • Theo lối giải thích của Phật giáo,tâm thức được cho là không hề bị trở ngại và cũng không có tính cách vật chất.Tất cả mọi tình tự cảm giác,mọi phiền não,mọi lỗi lầm của con người đều khởi nguồn từ những hành vi của tâm thức.Tuy nhiên,cũng vì bản chất cố hữu của tâm thức này mà con người có thể loại trừ tất cả những sai quấy và phiền  não ấy hầu mang lại một nền hòa bình vĩnh cửu và niềm an lạc thường hằng.Bởi vì ý thức là nền tảng của mọi hiện hữu và của sự giác ngộ nên còn có rất nhiều bài khảo thuyết uyên áo bàn luận về vấn đề này.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.254
  • 10 Thắng cảnh đẹp nhất Việt Nam trong mắt du khách quốc tế. 11Nói đến Phật giáo là nói đến giải thoát, và giải thoát là giải thoát cái gì? Như thế nào là giải thoát? Trong phạm vi bài viết này, chúng ta hãy lượt qua cái thấy giải thoát của Phật và các vị Tổ. Và chúng ta xem chúng ta tu như thế nào mới thật sự chạm tới giải thoát?

     

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.291
  • Không có gì như tình thương của bậc cha mẹ đối với con cái. Khi ta suy xét về lòng tốt mà cha mẹ ta đã biểu lộ với ta thì chúng ta nên suy tưởng rằng tất cả chúng sinh chịu đau khổ trong vòng sinh tử đã có lúc này hay lúc khác từng là những cha mẹ tốt lành và từ ái của chúng ta. Đây quả nhiên là nguyên nhân để sự phát khởi tự nhiên của lòng bi mẫn, là Bồ đề tâm, tràn trề trong chúng ta, Bồ đề tâm dâng tràn đối với tất cả chúng sinh, thậm chí đối với một con côn trùng bé xíu, con muỗi nhỏ bé nhất.Là các Phật tử, những hành giả Dzogchen, các bạn phải từ bỏ mọi hành vi làm hại bởi các bạn phải nhận ra rằng tất cả chúng sinh đã từng là những cha mẹ của các bạn. Nhận thức đó phải hiện diện trong tâm các bạn. Các bạn cần cảm nhận lòng thương yêu hơn nữa đối với chúng sinh đang ở trong tình huống khó khăn và kém may mắn hơn các bạn và nỗ lực trong khả năng tốt nhất của các bạn để làm lợi lạc cho họ.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.296
  • Có lần bật tivi: hình ảnh sông nước trời mây miền Tây thu hút mắt tôi, và có hai người nhạc sĩ, một thổi kèn saxo, một chơi guitare, đang trình diễn một bài nhạc về quê hương. Coi ít phút cảnh sông nước bao la, tôi đứng dậy, định tắt, vì hai chàng nhạc sĩ đã đứng tuổi, vóc dáng chẳng hấp dẫn gì cho lắm, mặc dù có khi người thổi kèn đứng hẳn trong nước. Ngay lúc đó, tôi thấy mình không trân trọng công sức của những người tạo ra chương trình này. Rồi tôi tiếp tục xem thêm một bài nữa mới tắt.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.275
  • Có một số câu hỏi đã được nêu lên để hỏi Đức Phật, nhưng Ngài không trả lời vì đó là những câu hỏi đặt sai và vô ích. Bám víu vào những câu hỏi ấy bằng những biện luận thuần lý sẽ rơi vào cạm bẫy của sự hiểu biết quy ước, công thức và nhị nguyên. Cạm bẫy ấy sẽ đưa đến tranh luận vô tận và thắc mắc tiếp nối nhau, đánh lạc hướng sự tu tập. Nhiều vị thầy sống đồng thời với Đức Phật, tức là vào thế kỷ thứ VI trước Tây lịch, đã từng chủ xướng nhiều chủ thuyết trong lãnh vực triết học siêu hình. Nhưng Đức Phật đã che chở cho các đệ tử của Ngài tránh khỏi những cạm bẫy ấy, không phải bằng cách cấm đoán, bằng biện luận hay giải thích, nhưng bằng sự yên lặng. Có tất cả 14 câu hỏi đại loại như sau mà Phật không giải đáp.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.586
  •  

     Vì hay đồng hóa bản thân với đủ mọi cảm xúc, tư tưởng, thiên kiến và định kiến nên chúng ta không còn chỗ cho chính mình để có thể nhìn mọi thứ một cách chân xác trong mọi hoàn cảnh. Đắm chìm trong "vũng lầy" vô minh ấy, ta thường có những lựa chọn sai lầm trong hầu hết mọi tình huống. Giống như bị quăng quật, quay cuồng giữa cơn bão biển, cuộc sống cũng tương tự vậy, chúng ta phải học cách giữ định tâm giữa những bão tố của đời thường. Cách tốt nhất là tỉnh thức và rộng mở tâm hồn đón nhận khoảnh khắc hiện tại. Như vậy được gọi là chính niệm. Bậc Đại thành tựu giả Milarepa từng nói rằng càng trải qua bão tố thăng trầm của hạnh phúc và khổ đau, càng có cơ hội tu tập và thành tựu giác ngộ trong cuộc đời.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.643
  • Hạnh phúc chân thật trong cuộc sống bắt đầu có được khi bạn bắt đầu thương yêu chăm sóc mọi người.

    http://2.bp.blogspot.com/-4wXY-CC0Y68/UfE1bAMhdII/AAAAAAAAUF8/bx5XJH-IjLU/s1600/lamazopa.jpgTƯ TƯỞNG BỒ ĐỀ TÂM thật vĩ đại không gì so sánh nổi. Bồ Đề Tâm làm nên mọi sự và khiến cho mọi người ưa thích, hài lòng. Bồ đề tâm đích thực là điều mà ta quan tâm trong cuộc sống này. Ngoài ra, bất cứ cái gì khác đều vô nghĩa, trống rỗng, vô ích.Hạnh phúc chân thật và sự mãn nguyện chân thật sẽ xuất hiện khi bạn bắt đầu sống một cuộc sống vì người khác. Bạn nhập thất ẩn tu vì người, làm việc ở cơ quan cho người, nấu ăn cho người. Khi thái độ của bạn thay đổi nhằm để làm mọi việc, vì người khác, giúp dẹp bỏ khổ đau và tích luỹ hạnh phúc cho họ, lúc đó bạn sẽ có được sự mãn nguyện và bình an chân thật trong tâm.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.133
  • ss

    Đây là một cái nhìn sơ lược tổng quát về Bốn Yoga. Tính chất định nghĩa của yoga thứ nhất, nhất tâm, là nhận biết bản tánh của tâm bạn. Hơn nữa, bạn chứng ngộ rằng những xuất hiện không là gì khác hơn bản tánh của tâm bạn, và bản tánh ấy giống như sự trống không của không gian. Yoga thứ hai thoát khỏi tạo tác ý niệm, gồm nhận biết rằng mọi xuất hiện là giả hợp ; bạn chứng ngộ rằng bản tánh thật sự của tâm là trống không và thoát khỏi mọi tạo tác ý niệm. Thứ ba, trong yoga của một vị, bạn nhận biết rằng sanh tử và niết bàn đồng một bản tánh, nó là chìa khóa để đạt đến giác ngộ. Trong yoga thứ tư, yoga của không-thiền định, bạn nhận biết rằng toàn bộ sanh tử và niết bàn vốn là không sanh, không trụ và không diệt. Nhị nguyên căn bản nhất của chủ thể và đối tượng vốn là không có nền tảng và là một bản tánh, Pháp thân.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.913
    1. Khi vị tăng Trí Thông hỏi về Bốn Trí, Lục tổ nói bài kệ:

    Đại viên cảnh trí: tánh thanh tịnh
    Bình đẳng tánh trí: tâm không bệnh
    Diệu quan sát trí: thấy chẳng công
    Thành sở tác trí: đồng viên cảnh
    Năm, tám, sáu, bảy quả nhân chuyển
    Chỉ dùng danh ngôn không thật tánh
    Nếu nơi chỗ chuyển chẳng lưu tình
    Rộn ràng vẫn mãi Na-già định.

    “Đại viên cảnh trí: tánh thanh tịnh”. Đại viên cảnh trí là trí như tấm gương lớn tròn sáng. Đây là bản tâm Phật tánh, hay nói theo Lục tổ, là tự tánh mà mỗi chúng sanh đều có. Ở chúng sanh, tấm gương tâm ấy bị nhiễm ô, chứa tất cả những kinh nghiệm của chúng sanh, như gương chứa tất cả hình bóng, và những hình bóng ấy che khuất tấm gương. Còn ở người giải thoát thì vẫn là tấm gương ấy nhưng chẳng bị các bóng làm nhiễm ô, các bóng chẳng “lưu tình”, nên gương vẫn hằng sáng, hằng “vẫn mãi Na-già định”.


    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 2.085
  • Nói chung, mọi hiện tượng do duyên đều vô thường và đặc biệt đời sống của chúng sanh hữu tình thì vô thường như bọt nước. Con không bao giờ biết khi nào con sẽ chết. Không chắc chắn con sẽ không chết ngay bây giờ. Hơn nữa, vào lúc chết không có gì cứu giúp con được ngoại trừ Pháp. Nếu con làm việc cho những việc vô nghĩa của thế gian, con sẽ không thể vượt khỏi những nguyên nhân tạo ra khổ đau. Thế nên con hãy phát nguyện rằng bất cứ khi nào tâm con lang thang dù chỉ một khoảnh khắc theo những tư tưởng về thức ăn, y phục v.v... cho cuộc đời này, thì con sẽ nghĩ về cái chết.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 2.819
  •  Chúng ta thường nghe những câu nói như : “Chết là lúc nói sự thật” , hay “Chết là thời điểm ta đối mặt với chính ta”. Như ta đã thấy những người qua kinh nghiệm cận tử đôi khi kể lại rằng họ chứng kiến cả cuộc đời họ quay lại trước mắt, và họ được hỏi những câu như : “Ngươi đã làm gì với cuộc đời ngươi ? Ngươi đã làm gì cho người khác ?” . Tất cả những chuyện này ám chỉ một điều duy nhất rằng : khi chết, ta không thể tránh thoát đối diện với sự thật ta là ai, ta là gì ? Dù ta muốn hay không, bản chất thực của ta cũng hiển lộ. Nhưng điều quan trọng cần biết là có hai khía cạnh con người của ta hiển lộ vào lúc chết : bản chất tuyệt đối của ta và bản chất tương đối - ta hiện tại như thế nào, và đã như thế nào, trong cuộc đời.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.210

Top Bài Viết

Top Music

Top Book Mp3

Top Music Album

 
© Copyright 2013 - 2019 PHATAM.ORG - Chịu trách nhiệm nội dung: Thị Đức bienman0811@yahoo.com - Hỗ trợ kỹ thuật votamthoai@gmail.com