TỌA THIỀN DỤNG TÂM KÝ - Keizan Jokin (Oánh Sơn Thiện Cẩn) Thiện Tri Thức, 2010 - NXB Thời Đại

Ngồi thiền chỉ để người ta sáng tỏ tâm và nghỉ ngơi thư thả trong tài nguyên vốn sẵn của nó. Đó gọi là trưng bày khuôn mặt xưa nay và làm phát lộ nền tảng bổn nguyên. Tâm và thân rơi rụng mất, lìa hẳn việc ngồi và nằm. Thế nên chúng ta không nghĩ gì đến thiện ác, tốt xấu, và vượt khỏi phàm thánh, mọi ý niệm mê và ngộ, buông bỏ hoàn toàn những biên bờ của chúng sanh và Phật.

 

Thế thì, chấm dứt mọi quan tâm, vất bỏ mọi bám nắm, không làm một cái gì cả. Sáu giác quan không hoạt động – cái này là ai, tên chưa từng được biết, không thể xem là thân, không thể xem là tâm? Khi các ông nghĩ đến nó, tư tưởng tan biến mất; khi các ông cố nói về nó, lời nói hết đường. như một kẻ ngu không biết gì, cao như núi, sâu như biển, không thể thấy đỉnh cao hay đáy – chói sáng không nghĩ suy, nguồn thì trong sáng tự tỏ bày trong im lặng.

 

Bao trùm trời đất, toàn thân người ta hiển lộ một mình; một con người vĩ đại vô lượng – như người đã chết hẳn, mắt không còn bị cái gì che, chân không dựa lên cái gì cả. Bụi bặm ở đâu? Cái gì là rào chắn? Nước trong không bao giờ có trước hay sau, không gian chưa từng có trong hay ngoài. Pha lê trong vắt và chói sáng trước khi sắc và không phân chia, làm thế nào vật và trí có thể hiện hữu?

           

Cái này luôn luôn có mặt với chúng ta, nhưng nó chưa từng có tên. Tam tổ, một vị thầy vĩ đại, có khi gọi nó là tâm; Tôn giả Long Thọ tạm thời gọi nó là pháp thân, lưu xuất thân của tất cả chư Phật, tượng trưng bằng mặt trăng tròn, không tăng không giảm. bản thân tâm này chính là giác ngộ, ánh sáng của tự tâm soi suốt xưa nay. Làm chủ biểu tượng kỳ diệu của Long Thọ, thành tựu chánh định của tất cả chư Phật, tâm không có tướng nhị nguyên, trong khi những thân thì khác nhau về hình tướng. Chỉ một tâm, chỉ một thân – sự khác nhau và giống nhau của chúng không phải là vấn đề; tâm biến đổi thành thân và khi thân xuất hiện, chúng như có phân biệt. Một làn sóng khởi động, vạn làn sóng đến theo; khoảnh khắc tư tưởng phân biệt sanh khởi, vô số sự sanh ra. Nghĩa là bốn đại và năm uẩn phối hợp, bốn chi và năm giác quan thình lình xuất hiện, và như vậy cho đến ba mươi sáu phần của thân thể, mười hai mối liên kết… Sự tạo tác chảy dài như sông, tương tục không phút nào ngưng nghỉ - nó chỉ hiện hữu từ nhiều nhân duyên hợp.

           

Thế nên tâm như nước biển; thân thì giống như sóng. Không có sóng nào không có nước và không có nước mà không có sóng, nước và sóng chẳng tách lìa nhau, động và tĩnh chẳng khác nhau. Thế nên có nói, “Con người thật đến và đi, sống và chết, đó là thân bất tử của bốn đại và năm uẩn”.

           

Bây giờ toạ thiền là đi thẳng vào đại dương của giác ngộ, như vậy là làm hiển lộ pháp thân của tất cả chư Phật. Tâm trong sáng bẩm sinh không thể nghĩ bàn đột nhiên hiện bày và ánh sáng bổn nguyên rốt cuộc chiếu sáng khắp nơi nơi. Không có tăng hay giảm trong đại dương, và sóng cứ sanh không bao giờ quay lại. Bởi thế, những bậc giác ngộ xuất hiện trong đời vì ý nguyện vĩ đại làm cho người ta thể hiện cái thấy biết của giác ngộ. Và các vị ấy có một nghệ thuật vi diệu, hoàn hảo và bình an, gọi là toạ thiền, nó là vua của tất cả mọi trạng thái định. Nếu các ông một lần ở trong thiền định này, các ông sẽ trực tiếp soi sáng tâm – như thế chúng ta thấu hiểu nó là cánh cửa chính đưa vào con đường giác ngộ.

           

Những ai muốn soi sáng tâm cần phải vất bỏ hiểu biết và giải thích thập cẩm lẫn lộn, dẹp bỏ những lý lẽ của cả đời thường và của Phật giáo, cắt đứt mọi tình cảm mê lầm và làm hiển lộ chân tâm độc nhất. Bấy giờ những đám mây ảo vọng sẽ tan sạch, mặt trăng tâm chiếu soi sáng ngời mát mẻ. Đức Phật nói, “Học và tư duy (văn và tư) giống như ở ngoài cửa; ngồi thiền (tu) là trở về nhà ngồi bình yên”. Thật đúng thay! Khi học và tư duy, những quan điểm không dừng được và tâm vẫn đóng kín; do đó giống như ở ngoài cửa. Nhưng trong ngồi thiền, mọi sự đều yên nghĩ và các ông thâm nhập khắp nơi, như vậy là giống như về nhà ngồi yên vui.

           

Những phiền não của năm sự che ám đều đến từ vô minh, và vô minh nghĩa là không hiểu chính mình. Toạ thiền là hiểu chính mình. Cho dù các ông có đoạn trừ năm sự che ám nhưng nếu không đoạn trừ vô minh, các ông không là Phật hay Tổ được. Nếu các ông muốn trừ hết vô minh, ngồi thiền để rõ đạo là cái bí mật thiết yếu nhất.

           

Một người xưa nói, “Khi mê mờ dừng dứt, thanh tĩnh hiện đến; khi thanh tĩnh hiện đến, trí huệ xuất hiện, và khi trí huệ xuất hiện thì thấy được thực tại”. Nếu các ông muốn chấm dứt mê vọng của riêng mình, các ông phải thôi nghĩ đến tốt xấu và bỏ mọi hoạt động; tâm không suy nghĩ và thân không làm việc là điểm thiết yếu nhất. Khi những bám luyến ảo vọng chấm dứt, ảo tưởng mê lầm chết luôn. Khi ảo tưởng mê lầm chết mất, bản tánh bất biến hiển bày và các ông luôn luôn rõ ràng biết nó. Nó chẳng phải tĩnh lặng, chẳng phải hoạt động.

           

Vì lý do đó, các ông cần tránh mọi thứ nghệ thuật, cho toa thuốc và bói toán cũng như ca, múa, âm nhạc, nói năng vô nghĩa, và thanh danh lợi lộc. Dù thô và bài ca có thể giúp sáng tâm, các ông cũng chớ say mê chúng; vứt bỏ viết lách và thư pháp là yêu cầu của người học đạo, cách tốt nhất để điều tâm.

           

Các ông không nên lưu luyến với y phục tốt xấu. Áo quần tốt làm cho tham và còn sợ mất trộm – thế nên nó là một chướng ngại trên đường đạo. Từ chối khi có người cho là hành động đáng khen từ đời xưa. Dù chúng ta không lo lắng cho cuộc sống chúng ta, nhưng nếu áo quần, thức ăn, giấc ngủ không đủ, thì đây gọi là ba sự thiếu thốn, và quá mức thì đều gây ta thụt lùi.

           

Không nên ăn những thực phẩm sống, khó tiêu và đã hư. Bụng sôi, căng, thân và tâm không thoải mái thì sẽ khó ngồi. Chớ chìu theo thực phẩm ngon – không những thân tâm không thích hợp, mà mình còn tham lam nữa. Các ông chỉ cần đủ thực phẩm để nuôi sống, chớ thưởng thức mùi vị của nó. Ngồi ngay sau khi ăn thì gây ra bệnh. Nói chung, những nhà sư khất thực cần điều hoà việc ăn, nghĩa là chỉ dùng hai phần ba số thực phẩm, bỏ đi một phần. Mọi thực phẩm có tính chất thuốc thông thường đều có thể dùng. Đây là kỹ thuật căn bản để điều hoà thân.

           

Khi ngồi thiền, chớ ngồi trước bức vách hay bức màn. Cũng chớ ngồi chỗ có gió hay trống trơn. Đó là những nguyên nhân gây bệnh. Khi ngồi thiền, thân thể có thể có vẻ như nóng và lạnh, khó chịu hay thoải mái, đôi khi tỉnh táo đáng ngạc nhiên. Tất cả đều do hơi thở không điều hoà và cần làm cho điều hoà. Cách điều hợp hơi thở là như sau: mở miệng ra, để cho hơi thở dài hay ngắn tự nhiên, dần dần làm cho nó hài hoà. Theo dõi hơi thở một lúc, khi tỉnh giác đến, bấy giờ hơi thở hài hoà tốt đẹp. Sau đó hãy để hơi thở qua mũi một cách tự nhiên.

           

Tâm có thể có vẻ chìm mất hay nổi bập bềnh; đôi khi nó nặng đục, đôi khi sắc bén. Đôi khi các ông có thể thấy xuyên qua phòng ra bên ngoài, đôi khi các ông thấy xuyên qua thân, đôi khi thấy những sắc tướng của chư Phật hay chư Bồ tát. Đôi khi các ông hiểu kinh điển hay các luận. Những sự việc dị thường như vậy là những rối loạn do thiếu hài hoà giữa tỉnh giác và hơi thở. Khi chúng xảy ra, hãy ngồi với tâm nghỉ ngơi. Nếu tâm chìm vào hôn trầm, hãy an tâm vào giữa hai mắt (trên điểm giữa hai lông mày sát mí tóc trán). Nếu tâm xao lãng và phân tán, hãy an tâm trên đầu mũi và bụng dưới (ba phân dưới rốn). Khi ngồi, luôn luôn để tâm ở trong bàn tay trái. Khi ngồi lâu, dù không bắt tâm phải yên, nó sẽ tự nhiên không phân tán.

           

Về những lời dạy xưa, dù chúng là những bài học truyền thống để soi sáng tâm, cũng chớ đọc, viết, hay nghe chúng nhiều – nhiều quá sẽ gây xáo trộn cho tâm. Nói chung, bất kỳ cái gì làm mệt sức thân và tâm đều có thể gây bệnh. Chớ ngồi nơi có lửa, lụt hay cướp bóc, hay trên biển, gần quán rượu, nhà thổ, hay nơi có đàn bà goá, trinh nữ. Chớ luẩn quẩn với vua, quan chức cấp cao, người quyền thế, người tham dục và danh vọng, những người kể chuyện. Đối với những việc phục vụ của đám đông người Phật giáo và những công trình xây dựng, dù đó là những việc tốt, người chỉ tập trung vào việc ngồi thiền không làm.

           

Chớ ham mê giảng dạy, vì những tư tưởng xao lãng và phân tán đến từ việc này. Chớ vui thích đám đông và chớ tìm đệ tử. Chớ nghiên cứu và thực hành nhiều thứ. Các ông có thể ở trong một tu viện có một vị thầy đích thật, ở trong núi hay thung lũng khuất. Nước và núi là chỗ để đi khi thiền định (thiền hành); suối, dưới tàng cây là chỗ để làm sáng tâm. Hãy quan sát vô thường, chớ bao giờ quên nó; điều này thúc đẩy ý chí tìm kiếm giác ngộ.

           

Một đệm thiền và chỗ thực hành sạch sẽ, luôn luôn đốt hương và có hoa cúng: những bộ pháp giữ gìn giáo lý, cũng như chư Phật và chư Bồ tát sẽ hắt bóng xuống và bảo vệ. Nếu các ông đặt một ảnh tượng Phật, Bồ tát hay vị Thánh ở đó thì không có ma quỷ nào có thể đụng đến các ông.

           

Luôn luôn hãy trú ngụ trong đại bi và hồi hướng năng lực vô biên của việc ngồi thiền cho tất cả chúng sanh. Chớ kiêu căng, tự phụ cho mình là đúng – đấy là những tính cách của người ngoại đạo và người thường. Hãy nhớ lời nguyện trừ sạch những phiền não, lời nguyện giác ngộ. Chỉ ngồi, không làm gì cả, là kỹ thuật thiết cốt để thâm nhập Thiền. Luôn luôn rửa mắt và chân trước khi ngồi. Với thân và tâm thoải mái, tâm thái điều hoà, hãy bỏ những cảm nhận thế gian và cũng chớ bám vào những cảm nhận của Đạo.

           

Dù người ta không nên bỏn sẻn giáo lý, chớ có nói về nó trừ phi các ông được hỏi – giữ mồm giữ miệng khi được yêu cầu ba lần, lần thứ tư thì có thể đáp ứng. Trong mười điều các ông sẽ nói, hãy dừng lại chín điều. Mốc meo mọc quanh miệng, như một cây quạt vào mùa đông, như một cái chuông treo trong không khí, không hỏi gió bốn phương – đây là một tính cách của đạo nhân. Hãy làm theo giáo lý, chớ chú ý đến ai; làm theo đạo và chớ tự bằng lòng – đây là điểm quan trong nhất cần nhớ.

           

Ngồi thiền không liên quan đến giáo lý, thực hành hay chứng ngộ, nhưng nó chứa đựng ba phương diện này. Nói rằng tiêu chuẩn của chứng ngộ nương dựa vào giác ngộ - đó không phải là tinh thần của ngồi thiền. Giáo lý dựa trên loại bỏ cái xấu và trau dồi cái tốt – đó không phải là tinh thần của ngồi thiền. Dù giáo lý được thiết lập trong Thiền, nó không phải là giáo lý bình thường. Nó là chỉ thẳng, đơn giản tiếp thông với đạo, nói bằng toàn thân. Những lời không có câu cú; nơi ý niệm dứt và lý trí cạn kiệt, một lời thông suốt mười phương. Và một cọng tóc chưa từng lập – đây không phải là chân giáo lý của chư Phật và chư Tổ sao?

            Dù chúng ta nói đến thực hành, đó là thực hành mà không làm gì cả. Nghĩa là, thân không làm gì, miệng không nói gì, tâm không nghĩ gì, sáu giác quan thanh tịnh tự nhiên, chẳng bị cái gì làm dơ nhiễm. Đây không phải là thực hành mười sáu phần (Tứ đế) của đệ tử Thanh văn, hay thực hành mười hai nhân duyên của bậc Độc giác, hay sáu Ba-la-mật qua vô số hạnh của Bồ-tát. Không làm gì hết, thế nên nó được gọi là Phật quả, trạng thái giác ngộ.

           

Chỉ nghỉ ngơi trong định tự thọ dụng của tất cả các bậc giác ngộ, dạo chơi trong bốn thực hành an lạc của chư Bồ-tát, đây không phải là sự thực hành sâu thẳm không thể nghĩ bàn của chư Phật chư Tổ sao?

           

Dù chúng ta có thể nói đên chứng ngộ, đây là chứng ngộ mà không có chứng ngộ, đây là vua của định, trạng thái tỉnh giác trong đó các ông khám phá vô sanh trí, nhất thiết và tự nhiên trí. Đây là cánh cửa của sự sáng tỏ qua đó trí huệ của bậc chứng ngộ mở ra, do phương pháp thực hành đại thoái mái. Nó siêu việt thánh và phàm, vượt khỏi mê và ngộ, đó không phải là sự chứng ngộ của giác ngộ vốn sẵn sao?

           

Cũng thế, ngồi thiền chẳng liên quan gì với giới, định, huệ, mà bao gồm cả ba cái này. Nghĩa là, giới là ngăn ngừa sai lầm và ngưng dứt điều xấu; trong ngồi thiền chúng ta thấy bản chất toàn thể bất nhị; chúng ta vứt bỏ vô số những quan tâm và hết mọi ràng buộc. Không dính dáng với Phật đạo hay thế đạo, quên những cảm nhận về đời, không xác nhận hay phủ nhận, không tốt hay xấu – có cái gì để ngăn ngừa hay ngừng dứt? Đây là giới vô tướng của bản tâm.

           

Định là tham thiền không phân biệt. Trong ngồi thiền, chúng ta cởi bỏ thân tâm, quên hết mê ngộ, bất động và thản nhiên, không làm việc, không hôn trầm, như một người ngu, như một kẻ đần, như một trái núi, như một đại dương, không dấu vết của động hay tĩnh sanh khởi – định mà không có dấu hiệu của định, bởi vì không có tướng định, đó gọi là đại định.

           

Huệ là thông hiểu rõ ràng. Trong ngồi thiền hiểu biết tự nó biến mất, tâm và thức phân biệt vĩnh viễn bỏ quên. Con mắt huệ khắp thân không có cắt đứt ý niệm, rỗng rang soi tỏ suốt khắp Đạo. Đây là huệ không có dấu hiệu của huệ, bởi vì không có dấu hiệu của huệ nên được gọi là đại huệ.

           

Những lời dạy của chư Phật lúc sanh tiền đều gồm trong giới, định, huệ. Trong ngồi thiền này không có giới nào không được giữ, không có định nào không được trao dồi, không có huệ nào không được chứng ngộ. Chiến thắng quân ma, đạt đạo, chuyển bánh xe Pháp và nhập diệt, tất cả đều dựa vào thần lực này. Những thần lực siêu nhiên và những tác dụng không thể nghĩ bàn của chúng, phóng ánh sáng và diễn nói Pháp, tất cả đều ở trong hành động ngồi này. Tham cứu Thiền cũng là ngồi Thiền.

           

Nếu các ông muốn ngồi thiền, trước hết hãy tìm một chỗ yên tĩnh và trải một tấm niệm dày. Không để gió mưa, sương khói lọt vào. Dù người xưa ngồi trên toà kim cương hay đá cuội, họ đều có đệm ngồi. Nơi ngồi không nên sáng quá ban ngày hay tối quá ban đêm, nó cần ấm vào mùa đông và mát vào mùa hè – đó là kỹ thuật.

           

Bỏ hết tâm, trí và ý thức, thôi nhớ tưởng, quan sát. Chớ nhắm đến thành Phật, chớ quan tâm đến đúng hay sai. Hãy quý thời gian, như cứu đầu mình khỏi lửa cháy. Đức Phật ngồi thẳng, Bồ-đề Đạt-ma đối diện với bức vách, nhất tâm, không quan tâm đến gì khác. Thạch Sương giống như một cây chết khô. Thanh Tùng trách sự buồn ngủ khi ngồi: “Các ông chỉ thành công bằng cách chỉ ngồi, không cần thắp hương, lễ lạy, niệm Phật hiệu, sám hối, tụng kinh”.

           

Ngồi ở đâu cũng cần mặc một cà-sa – chớ quên điều này. Đệm ngồi chỉ lót mông và một phần đùi. Đây là cách chư Phật chư Tổ ngồi. Các ông có thể ngồi kiết già hay bán già. Kiết già thì để chân phải lên chân trái, rồi để chân trái lên đùi phải. Hãy nới lỏng áo quần và xếp cho thẳng, rồi đặt tay phải lên chân trái và tay trái lên tay phải, hai bàn tay sát thân và dưới rốn một chút. Ngồi thẳng, không nghiêng trái phải, trước sau. Tai và vai, mũi và rốn thẳng hàng. Lưỡi đặt lên vòm miệng và thở qua mũi. Miệng ngậm lại, mắt mở hé. Đã điều thân như vậy, hãy thở sâu qua miệng hai lần. Tiếp theo, vẫn ngồi, xoay thân bảy hay tám lần, từ rộng đến hẹp lại. Rồi hãy ngồi thẳng và kiên định.

           

Bây giờ hãy nghĩ về cái không suy nghĩ. Làm sao nghĩ về nó? Không suy nghĩ. Đây là phương pháp căn bản cốt lõi của ngồi thiền. Các ông phải phá tan suốt qua những phiền não và đích thân giác ngộ. Khi các ông muốn xuất định, trước hết hãy đặt hai tay lên hai đầu gối, lắc thân bảy hoặc tám lần, từ chuyển động nhỏ đến lớn hơn. Hãy mở miệng và thở ra; đặt tay trên đất và nhẹ nhàng rời khỏi chỗ ngồi.

           

Hãy đi chầm chậm, vòng sang phải hoặc trái. Nếu hôn trầm buồn ngủ trùm lấy các ông khi đang ngồi, hãy luôn luôn chuyển động thân hay mở lớn mắt; cũng để tâm nơi mí tóc giữa trán. Nếu vẫn chưa tỉnh táo, hãy chà xát mắt và thân. Nếu việc ấy vẫn chưa làm mình tỉnh, hãy đứng dậy và đi vòng, luôn luôn vòng sang trái. Khi đi được khoảng một trăm bước, cơn buồn ngủ sẽ tan. Cách đi là nửa bước mỗi hơi thở. Các ông đi như không đi đâu cả, im lặng và không chuyển động. Nếu còn chưa tỉnh sau khi đi vòng, hãy rửa mắt và thấm nước trên trán hay tụng đoạn mở đầu Bồ tát giới hay cái gì đại loại như vậy, tìm cách để hết buồn ngủ. Các ông cần quan sát việc sanh tử là việc lớn, vô thường thì nhanh chóng – các ông làm sao ngủ khi con mắt đạo chưa sáng? Nếu hôn trầm buồn ngủ cứ đến hoài, cần cầu nguyện, “Những thói quen của con bắt rễ đã sâu, thế nên con bị bao phủ trong buồn ngủ, khi nào hôn trầm sẽ tan biến đây? Con cầu nguyện chư Phật và chư Tổ bi mẫn cất bỏ cho con sự tối tăm khổ sở này”.

           

Nếu tâm các ông phân tán, hãy an tâm trên đầu mũi và bụng dưới và đếm hơi thở ra vào. Nếu xao lãng không hết, hãy nói một câu với tâm và giữ câu ấy để đánh thức các ông- chẳng hạn, “Cái gì đến như thế?”. “Một con chó không có Phật tánh”. “Khi tư tưởng không khởi lên, còn có lỗi gì không? – Núi Tu-di!”, “Đâu là ý nghĩa của việc Bồ-đề Đạt-ma từ phương tây đến?” – Cây bách trước sân”. Những lời không mùi vị như vậy rất thích hợp. Nếu xao động vẫn không ngừng, hãy ngồi và tập trung vào điểm hơi thở chấm dứt và đôi mắt nhắm lại vĩnh viễn, hay khi bào thai chưa tượng hình và một tư tưởng chưa sanh; khi cái tương tợ với cái không đột nhiên xuất hiện, tâm tán loạn chắc chắn sẽ dừng.

           

Sau khi xuất định, khi làm việc mà không có suy nghĩ, sự kiện hiện tại chính là công án. Khi các ông hoàn thành thực hành và chứng ngộ mà không trộn lẫn, bấy giờ công án là cái đang xảy ra hiện tại. Đó là cái trước khi các tướng xuất hiện, tình trạng bên mặt kia của không kiếp, khả năng tâm linh của tất cả chư Phật và chư Tổ, đấy chỉ là một sự. Các ông cần dừng lại, thôi đi, lạnh lẽo, vượt qua vô số năm như một khoảnh khắc, hãy như tro lạnh, như cây khô, như lư hương trên bàn thờ bỏ hoang xưa cũ, như một tấm lụa trắng. Cầu mong như thế.

NGỒI KHÔNG 

Những tác phẩm thiết yếu của thực hành Thiền Chỉ Quản đả tọa

 

 

 

 

Việt ngữ: Thiện Tri Thức, 2010 - NXB Thời Đại

 

 

 


  • Ta cần phải thực tập cả hai phương cách, Thanh tịnh và Tỉnh giác, để đạt được những kết quả mà Thiền sẽ mang đến cho ta. Phần đông chúng ta đều muốn được an lạc. Ai cũng muốn được bình yên, muốn được có cảm giác vui sướng, mãn nguyện. Trong Thiền định, nếu ta thoáng bắt được cảm giác an lạc đó, ta sẽ hạnh phúc biết bao. Nhiều người đã thỏa mãn khi đạt được đến trình độ đó. Nhưng thanh tịnh không phải là mục đích của Thiền. Đó chỉ là phương tiện đưa đến cứu cánh. Thanh tịnh là phương tiện. Sự tỉnh giác trong nội tâm mới là cứu cánh. Phương tiện rất cần thiết nhưng không thể lầm lẫn chúng với cứu cánh. Nhưng vì phương tiện đó tạo ra sự thoải mái, dễ chịu, ta trở nên bám víu vào chúng.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.746
  • Có một số câu hỏi đã được nêu lên để hỏi Đức Phật, nhưng Ngài không trả lời vì đó là những câu hỏi đặt sai và vô ích. Bám víu vào những câu hỏi ấy bằng những biện luận thuần lý sẽ rơi vào cạm bẫy của sự hiểu biết quy ước, công thức và nhị nguyên. Cạm bẫy ấy sẽ đưa đến tranh luận vô tận và thắc mắc tiếp nối nhau, đánh lạc hướng sự tu tập. Nhiều vị thầy sống đồng thời với Đức Phật, tức là vào thế kỷ thứ VI trước Tây lịch, đã từng chủ xướng nhiều chủ thuyết trong lãnh vực triết học siêu hình. Nhưng Đức Phật đã che chở cho các đệ tử của Ngài tránh khỏi những cạm bẫy ấy, không phải bằng cách cấm đoán, bằng biện luận hay giải thích, nhưng bằng sự yên lặng. Có tất cả 14 câu hỏi đại loại như sau mà Phật không giải đáp.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.541
  • Thiền không phải là và cũng không nhắm đến những cảnh giới của định (mà chúng ta thường gọi là Bốn thiền Tám định) như là cứu cánh. Những cấp độ định chỉ là những trạng thái, dù vi tế hoặc cùng cực vi tế, của tâm. Chúng có thể dùng để huấn luyện cho tâm thức, chúng là những trạng thái, những biểu lộ vi tế của tâm, nhưng chúng không phải là bản tánh của tâm thức, chúng chưa phải là Tâm.  

    Người xưa thường nói, bình thường tâm là Đạo. Cái tâm bình thường này là nguyên trạng của tâm, bản tánh của tâm, nền tảng của tâm và nó có mặt ở trong bất kỳ trạng thái nào của tâm, trong bất kỳ không gian thời gian nào. Như nước có mặt trong bất kỳ hình tướng biểu lộ nào của nước, trong bất kỳ làn sóng nào. Thiền chính là bản tánh của tâm, cái tâm bình thường, nguyên trạng không khúc xạ, méo mó này.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.020
  • Hình ảnh Ngắm vẻ đẹp hùng vĩ của núi Phú Sĩ xứ Phù Tang số 9    “Hiện thành Công án” là trước tác của thiền sư Đạo Nguyên, nhưng chúng ta dịch câu này là “hiển bày thực tướng tuyệt đối”. Nói khác đi, đời sống là sự hiển bày thật tướng tuyệt đối. Nói như vậy thì Công án này cần phải tham như thế nào? Đó chính là phải hiểu rằng đời sống tức là Phật pháp, sống tức là đã trải qua đời sống khai ngộ như thế. Không thể nói khai ngộ là cái gì đó nằm ngoài đời sống. Thậm chí còn nói ngộ nói mê thì bản thân nó chính là mê.    

               

     

     

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.023
  • Như vậy, tánh thấy là gì? Tánh thấy là Phật tánh hay tánh giác biểu lộ ở cái thấy. Cái thấy này là do duyên sanh, do căn trần thức mà có. Tánh thấy là nền tảng, môi trường, không gian cho sự duyên hợp của căn trần thức tạo thành cái thấy.

    Kinh Lăng Nghiêm nói: “A-nan, ông trôi chìm, không ngộ cái thấy, nghe, hay, biết của ông vốn là Như Lai tạng…. Ông nào có biết, trong Như Lai tạng cái thấy là tánh minh giác, tánh minh giác hiển lộ ra thành cái thấy, thanh tịnh bản nhiên, toàn khắp pháp giới, tùy theo tâm chúng sanh mà ứng với lượng hay biết.

     

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.054
  •          Vấn đề chính của việc tu hành là gì? Đó là vẫn cứ quay về chính mình, trở về ngay với đời sống chính mình. Chúng ta thường nói tịnh hóa chính mình, tịnh hóa sinh tử, nhưng phải tịnh hóa như thế nào? Thiền sư Đạo Nguyên nói: “ Ngồi quên chính mình”. Thế nhưng, chúng ta ngồi quên chính mình, hay là trên thực tế đang cũng cố chính mình? Vấn đề này rất quan trọng.

    Trạng thái quên chính mình là trạng thái như thế nào? Có một tác phẩm tên là Ba trụ thiền(1) (Three pillars of Zen). Nhan đề tác phẩm này ý nói rằng bản thân thiền có những nền tảng căn bản. Trước đây, khi nghe tên tác phẩm thì tôi đã nghe nhầm thành Three pillows of Zen (Ba chiếc gối trong thiền môn); vì tôi nghe chữ “pillar” giống như chữ “pillow”. Muốn ngủ được thoải mái thì phải có ba chiếc gối này. Nếu không bạn sẽ gặp ác mộng.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 842
  • Tiểu luận được bắt đầu với một câu nổi tiếng được cho là của Bồ Đề Đạt Ma, người sáng lập Thiền ở Trung Hoa : “Một hoa nở năm cánh, kết quả tự nhiên thành.” “Năm cánh” là năm nhà (phái) của Thiền Trung Hoa. Đạo Nguyên chỉ ra những nhà này là những phương diện nhiều mặt của một “đóa hoa”, trong khi “một hoa” là sự bộc lộ của những phương diện khác nhau ấy. Ở chỗ khác trong Chánh Pháp Nhãn Tạng, Đạo Nguyên nhấn mạnh rằng năm phái Thiền không nên được nghĩ là tiêu biểu cho những phân chia hay những dị biệt căn bản, và Phật giáo cần được xem không phải theo một lối chia chẻ, bộ phái, mà như một toàn thể bao gồm nhiều mặt khác biệt. Quan niệm về Phật giáo như một toàn thể thống nhất mà khác biệt, khác biệt mà thống nhất cũng là đặc trưng của ý niệm “một thừa” trong những giáo lý Hoa Nghiêm và Pháp Hoa. Cũng như Hoa Nghiêm, ở đây Đạo Nguyên trong phần mở đầu của mình nhấn mạnh vào thực hành, tượng trưng bởi cái hoa, tự nhiên mang “quả” của sự chứng ngộ. Ẩn dụ hoa và những cánh cũng có thể mở rộng để ám chỉ cái nhất thể và đa thù của tất cả hiện tượng.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.007
  • Nếu các phương pháp tu tập, song song với sự hình thành của các tông phái và học phái, ngày càng trở nên phong phú và đa dạng thì một số khái niệm và giáo lý căn bản trong Đạo Pháp theo đó cũng đã được triển khai sâu rộng hơn và đồng thời cũng đã được suy diễn với ít nhiều khác biệt. Nếu khái niệm về tánh không được Đức Phật nêu lên như một phép luyện tập chính xác, cụ thể và thực dụng, như đã được thuyết giảng trong hai bài kinh Culasunnata-suttaMahasunnata-sutta, thì tánh không cũng đã được các tông phái và học phái sau này triển khai sâu rộng hơn bằng nhiều cách diễn đạt phức tạp hơn. Tiêu biểu nhất cho các cách giải thích "mới" về tánh không là bộ kinh đồ sộ Prajnaparamita-sutra, dịch âm là "Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa", có nghĩa là "Kinh về sự hiểu biết Siêu Nhiên", và còn được gọi vắn tắt là Tâm Kinh.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 911
  •  

    Vậy thuyết vô ngã chính là trọng tâm của Phật giáo. Nói cho thật chính xác, quan điểm Phật giáo về nhân sinh quan nằm gọn trong bốn định lý trọng yếu, gọi là bốn dấu ấn Phật pháp.
    [tứ pháp ấn]:

    Mọi hiện tượng do yếu tố kết hợp đều vô thường;

    Mọi hiện tượng ô nhiễm đều là khổ;
    Mọi hiện tượng đều là không và không tự có;

    Niết bàn là an lạc chân chính
    i
     

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 851
  •  

    Hải Ấn Đại Định
    (Kai-in zammai)

     

    “Hải ấn đại định”, hay như đôi khi được dịch, “định phản chiếu trong đại dương”, là định từ đó kinh Hoa Nghiêm khởi lên, phát hiện một cách thình lình quang cảnh bao la của sự giác ngộ của Phật. Luận Tham Thiền Trở Về Nguồn, một tác phẩm tông Hoa Nghiêm được thông dụng trong các phái Thiền Trung Hoa, nói, “Hải Ấn là tánh giác nền tảng của Chân Như. Khi vọng tưởng chấm dứt, tâm trong sáng và vô số hình tướng đồng thời xuất hiện. Nó giống như đại dương : do gió mà có sóng khởi ; nếu gió dừng nước đại dương lặng sáng, và mọi hình ảnh phản chiếu trong đó.” Như thế, nói theo phương diện tâm, hải ấn đại định ám chỉ tánh giác bình đẳng và khắp cả.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.057
  •     Ở Tây phương có rất nhiều quan niệm sai lầm về Thiền quan hệ đến một số điểm cốt yếu mà bên Đông phương cho là dĩ nhiên, nhưng tâm thức Tây phương không hiểu và tán thưởng nổi. Trước hết, trong việc nghiên cứu Thiền, không phải chỉ học giáo lý là quan trọng, mà phải biết đôi chút về lối sống của các Thiền gia ở các nước Đông phương. Áp dụng vào nội tâm, Thiền là một “kinh nghiệm” và một sự “thực hiện”, hoặc một giáo lý đem người ta đến những trạng thái này; nhưng bề ngoài Thiền chính yếu là một truyền thống và một đạo sống. Vì thế, muốn hiểu Thiền một cách đứng đắn, ta phải học không những chỉ giáo lý, mà cả đạo sống của nó nữa. Ít ra, một hiểu biết thoáng qua về đời sống tự viện của các Thiền sư hẳn là một hỗ trợ rất giá trị để hiểu Thiền đúng đắn hơn.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 806
  • Ngồi thiền chỉ để người ta sáng tỏ tâm và nghỉ ngơi thư thả trong tài nguyên vốn sẵn của nó. Đó gọi là trưng bày khuôn mặt xưa nay và làm phát lộ nền tảng bổn nguyên. Tâm và thân rơi rụng mất, lìa hẳn việc ngồi và nằm. Thế nên chúng ta không nghĩ gì đến thiện ác, tốt xấu, và vượt khỏi phàm thánh, mọi ý niệm mê và ngộ, buông bỏ hoàn toàn những biên bờ của chúng sanh và Phật.

     Thế thì, chấm dứt mọi quan tâm, vất bỏ mọi bám nắm, không làm một cái gì cả. Sáu giác quan không hoạt động – cái này là ai, tên chưa từng được biết, không thể xem là thân, không thể xem là tâm? Khi các ông nghĩ đến nó, tư tưởng tan biến mất; khi các ông cố nói về nó, lời nói hết đường. như một kẻ ngu không biết gì, cao như núi, sâu như biển, không thể thấy đỉnh cao hay đáy – chói sáng không nghĩ suy, nguồn thì trong sáng tự tỏ bày trong im lặng.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 751
  • Tâm trí bạn luôn tìm kiếm không ngừng những đề tài để cho bạn suy tư một cách điên cuồng; đó cũng là cách tâm trí bạn đi tìm những thứ để cung cấp cho chính nó một sự xác minh, một cảm nhận về tự thân(1). Đây cũng là phương cách để bản ngã của bạn trở thành hiện hữu và tiếp tục được tồn tại ở trong bạn.

    Khi bạn suy nghĩ hay nói về chính mình, khi bạn nói “Tôi”, là thực ra điều bạn muốn nói là: “Tôi và những câu chuyện của tôi”(2). Đây chính là “cái Tôi” của những cái thích, hoặc không thích, sợ hãi và ham muốn, “cái Tôi” không bao giờ cảm thấy thỏa mãn được lâu. Đó là cảm nhận về tự thân của bạn được làm nên bởi trí năng, thường bị tha hóa bởi quá khứ và luôn muốn tìm sự thỏa mãn ở tương lai.

    Bạn có nhận ra rằng “cái Tôi” này rất dễ phôi pha, vì đó chỉ là một sự hình thành rất tạm bợ như một đợt sóng biểu hiện trên mặt nước.

     

     

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.592
  • Trong buổi nói chuyện trước đây tôi cũng đã nhắc đến tánh không và cho biết đấy là một chủ đề thật chủ yếu, thế nhưng tôi chưa kịp triển khai một cách đầy đủ và tương xứng với tầm quan trọng của nó. Thiết nghĩ chúng ta cần phải thấu triệt khái niệm này một cách sâu sắc hơn. Nhiều khía cạnh của chủ đề này quả thật là vẫn còn quá mù mờ, do đó tôi sẽ dành trọn buổi nói chuyện hôm nay cho đề tài này.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 784
  •  

     

     

      OM là từ biểu trưng cho cái vô cùng, viên mãn, vĩnh hằng.Những người Phật tử Tây Tạng tin tưởng rằng bản thể của vũ trụ biểu đạt qua âm thanh mật chú (mantra). Mật chú là sức mạnh làm cho tâm thức tập trung và trở nên nhu nhuyến.

    Chữ mantra có nguồn gốc từ ngữ căn tiếng Phạn: manas, nghĩa là tâm; và, tra, nghĩa là công cụ. Tiếng Latin cũng có ngữ căn tương tự là mens, nghĩa là tâm thức. Như vậy, Mantra có nghĩa là công cụ của tâm thức, là âm thanh cốt lõi, âm thanh của Chánh giác làm cho luân hồi và Niết bàn hợp nhất. OM là đầu nguồn của Mantra, có nguồn gốc từ đạo Bà la môn. OM được Phật giáo tiếp nhận và mở rộng phạm vi để làm điểm tiên khởi cho tất cả những Mantra khác. OM biểu trưng cho tính tổng nhiếp của các pháp, cái vô cùng, cái viên mãn. Tụng niệm Mantra là cách làm cho tâm được tập trung, hướng về hòa nhập với tánh giác.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.277
  • Sự  im lắng chính là bản chất chân thực của bạn. Vậy sự im lắng là gì? Đó chính là không gian ở trong bạn, là khả năng nhận thức từ đó những chữ trên trang giấy này được tạo thành khái niệm và trở thành những ý nghĩ ở trong đầu bạn. Nếu không có khả năng nhận biết đó, sẽ không có khái niệm, không có ý tưởng, không có thế giới.

    Bạn chính là khả năng nhận biết đó được che giấu dưới hình dáng của một con người. 

    Tương đương với tiếng động ồn ào ở bên ngoài là sự ồn ào của những suy tưởng bên trong.

    Tương đương với sự im lặng ở bên ngoài là sự im lắng ở nội tâm.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.627
  • FOREWORD

    Man, in order to escape his conflicts, has invented many forms of meditation. These have been based on desire, will and the urge for achievement, and imply conflict and a struggle to arrive. This conscious, deliberate striving is always within the limits of a conditioned mind and in this there is nofreedom. All effort to meditate is the denial of meditation.Meditation is the ending of thought. It is only then that there is a different dimension which is beyond time.

    J. Krishnamurti. March 1979 

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.960
  • CHỈ NGỒI

    Tenshin Reb Anderson

    Giáo lý tánh Như đã được truyền thông mật thiết bởi chư Phật chư Tổ. Nghĩa của thực hành tánh Như này không nằm trong lời nói, nhưng nó đáp ứng cho sự quyết tâm của chúng ta. Nó tiến lên và gặp gỡ chúng ta. Chúng ta ngồi đây và những con chim xanh hát nó cho chúng ta, những dòng suối hát nó cho chúng ta, bởi vì chúng ta đến và nghe. Đây là sự thực hành ngồi, chỉ ngồi, của chúng ta. Nó là một thiền định không chủ đề, một thiền định không có mối nối khâu vá. Nó không còn hình tướng, không bắt đầu và không kết thúc và nó toả khắp mọi sự một cách trọn vẹn. Nó không để lại dấu vết, và nếu tôi cố gắng truy tìm dấu nó, mà vì nó đáp ứng một cách rộng lượng và từ bi cho sự tìm dấu của tôi, cho sự nói của tôi và cho sự nghe của các bạn.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 816
  • SUZUKI DAISETZ - ĐÀO NGUYÊN MINH dịch


    Thiền là sự rèn luyện trong sự giác ngộ. Giác ngộ có nghĩa là giải thoát. Và giải thoát thì không kém gì so với tự do. Chúng ta nói rất nhiều trong thời đại này về đủ thứ tự do, chính trị, kinh tế, mà mặt khác thì những thứ tự do này đều không thực tiễn. Một khi chúng hãy còn ở trên bình diện tương đối, sự tự do mà chúng ta nói đến thì xa hơn thế nữa. Tự do thực sự là kết quả của sự giác ngộ. Khi một người nhận thức ra điều này, thì trong bất cứ hoàn cảnh nào, người ấy cũng có thể tìm thấy chính mình luôn tự tại trong đời sống nội tâm của mình, trong sự theo đuổi đường hướng hành động của chính nó. Thiền là một tôn giáo của jiyu “tự do”, và jizai “tự tại”.
    Giác ngộ chiếm trọng tâm trong giáo lý nơi tất cả các tông phái Phật Giáo, Tiểu Thừa và Đại Thừa, “tự lực” và “tha lực”, Thánh Đạo hay Tịnh Độ, giáo lý của Đức Phật tất cả đều phát xuất từ sự giác ngộ của ngài, từ khoảng 2.500 năm trước nơi vùng phía bắc Ân Độ. 

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 853
  • Thiền Sư Thánh Nghiêm

     

    Dưới đây là một trình bày về Thiền Mặc Chiếu, trích dịch một phần từ cuốn Hoofprint of the Ox (Dấu Chân Trâu) của Thiền Sư Thánh Nghiêm (Sheng Yen), dựa theo bản Anh dịch của GS Dan Stevenson. Thầy Thánh Nghiêm nối pháp từ cả hai dòng Lâm Tế và Tào Động, chuyên hoằng pháp Thiền Tông với cả hai truyền thống này, có ảnh hưởng lớn ở nhiều nước. Năm 2000, thiền sư là một trong các diễn giả chính trong Hội Nghị Thượng Đỉnh Tôn Giáo Thiên Niên Kỷ tổ chức ở Liên Hiệp Quốc. Thầy thường mở các thiền thất dài 7 ngày ở các nước, đôi khi mở các thiền thất dài 49 ngày. Tuy chuyên dạy về Thiền Thọai Đầu và Thiền Mặc Chiếu, Thiền Sư Thánh Nghiêm lại là một giảng sư uyên bác, đa dạng và cũng là một luận sư của Tịnh Độ Tông.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 766

Top Bài Viết

Top Music

Top Book Mp3

Top Music Album

 
© Copyright 2013 - 2019 PHATAM.ORG - Chịu trách nhiệm nội dung: Thị Đức bienman0811@yahoo.com - Hỗ trợ kỹ thuật votamthoai@gmail.com