THIỀN LÀ GÌ? - SUZUKI DAISETZ - ĐÀO NGUYÊN MINH dịch

Thiền là sự rèn luyện trong sự giác ngộ. Giác ngộ có nghĩa là giải thoát. Và giải thoát thì không kém gì so với tự do. Chúng ta nói rất nhiều trong thời đại này về đủ thứ tự do, chính trị, kinh tế, mà mặt khác thì những thứ tự do này đều không thực tiễn. Một khi chúng hãy còn ở trên bình diện tương đối, sự tự do mà chúng ta nói đến thì xa hơn thế nữa. Tự do thực sự là kết quả của sự giác ngộ. Khi một người nhận thức ra điều này, thì trong bất cứ hoàn cảnh nào, người ấy cũng có thể tìm thấy chính mình luôn tự tại trong đời sống nội tâm của mình, trong sự theo đuổi đường hướng hành động của chính nó. Thiền là một tôn giáo của jiyu “tự do”, và jizai “tự tại”.

Giác ngộ chiếm trọng tâm trong giáo lý nơi tất cả các tông phái Phật Giáo, Tiểu Thừa và Đại Thừa, “tự lực” và “tha lực”, Thánh Đạo hay Tịnh Độ, giáo lý của Đức Phật tất cả đều phát xuất từ sự giác ngộ của ngài, từ khoảng 2.500 năm trước nơi vùng phía bắc Ân Độ. Vì vậy, mỗi một người Phật Tử đều dự kiến sẽ được giác ngộ hoặc trong đời này hoặc trong đời tương lai. Nếu không có giác ngộ, hoặc đã nhận ra, hoặc được nhận ra bằng cách nào đó, lúc nào đó, nơi nào đó, thì sẽ không có Phật Giáo. Thiền cũng không ngoại lệ. Thật ra, chính Thiền tạo ra hầu hết sự giác ngộ, hay satori “悟, ngộ”.

 

 

Để chứng ngộ, Thiền mở ra cho chúng ta hai đường lối tổng quát: ngôn ngữ và hành động.

Thứ nhất, ngôn ngữ thiền (thiền ngữ) quả mang tính chất Thiền, mặc dù nó hoàn toàn khác biệt từ triết lý trong ngôn ngữ hay biện luận rằng nó có thể không chính xác gì cho lắm để áp dụng từ ngữ “ngôn ngữ” cho Thiền. Nhưng, chúng ta đều biết, con người không thể nào sống mà không có ngôn ngữ, vì chúng ta được tạo ra như vậy từ thời mà chúng ta có thể giữ vững được sự sống của chúng ta thành từng nhóm. Tình thương là cốt lõi của con người, tình thương cần một điều gì để đặt mình lên trên đó; con người phải sống với nhau để mang đến đời sống cho có tình thương yêu lẫn nhau. Tình thương muốn được tỏ bày thì cần phải có phương tiện để truyền đạt, đó là ngôn ngữ. Vì Thiền là một trong những kinh nghiệm mang nhiều ý nghĩa nhất của loài người, người ta cần phải dùng đến ngôn ngữ để diễn tả nó cho người khác cũng như cho chính mình. Nhưng thiền ngữ có nét đặc thù của riêng nó, nó trái ngược lại với mọi luật lệ của khoa ngôn ngữ học. Trong Thiền, kinh nghiệm và diễn tả là một. Thiền ngữ diễn tả cái cụ thể nhất của kinh nghiệm.

Lấy thí dụ: Một thiền sư đưa cây gậy của mình trước đại chúng và nói: “Các người không gọi nó là cây gậy. Vậy gọi nó là gì?” Một người bước ra khỏi thính chúng, lấy cây gậy khỏi tay vị thầy, bẻ gãy đôi và ném xuống đất. Tất cả đây là kết luận sự phát biểu phi lý của vị thiền sư.

Một vị thiền sư khác, đưa cây gậy lên và nói: “Nếu ngươi có một cây, ta đưa cho cây gậy của ta; còn nếu ngươi không có, ta sẽ lấy nó đi.” Không có luận lý gì cả trong câu nói này.

Còn có một thiền sư khác đã từng giảng về sự việc này: “Khi ngươi biết cây gậy là gì, thì ngươi biết tất cả, và hoàn tất việc học thiền.” Rồi không nói thêm lời nào nữa và rời khỏi thiền đường.

Đây là những gì mà tôi gọi là Thiền ngữ. Triết lý của Thiền lộ ra từ đó. Tuy nhiên, triết lý không quan tâm đến việc làm sáng tỏ tất cả những ngôn từ “bí ẩn” này, nhưng là để đạt đến tự chính cái tâm, như nó đã, rỉ tiết ra chúng một cách tự nhiên, quen thuộc, như là những đám mây bay lên từ đỉnh núi. Những gì mà chúng ta quan tâm ở đây, không phải là nội dung được rỉ tiết ra, đó là chữ nghĩa và ngôn ngữ, nhưng là “điều gì” lảng vảng quanh đây, mà chúng ta không thể nào xác định được vị trí của nó và nói “Đây này!” Để gọi nó, cái tâm còn xa với thực tế của kinh nghiệm; nó là cái mà không thể nêu tên “X”. Nó không trừu tượng; nó đủ cụ thể, và trực tiếp, như là mắt thấy mặt trời, nhưng nó không được xếp vào trong những phạm trù của ngôn ngữ. Ngay khi chúng ta cố gắng làm điều này, nó lại biến mất. Vì vậy, Phật Giáo gọi nó là cái “không thể đạt được”, “không thể nắm bắt được”.

Đó là lý do tại sao mà cây gậy là một cây gậy và đồng thời không phải là cây gậy, hay là cây gậy là cây gậy chỉ bởi vì nó không phải là cây gậy. Từ ngữ không bị tách rời khỏi sự vật hay sự kiện hay kinh nghiệm.

Các thiền sư đã từng nói, “Hãy xét những từ ngữ sống mà không xét đến những từ ngữ chết”. Những từ ngữ chết là những từ ngữ mà không còn đi tiếp một cách trực tiếp, cụ thể và mật thiết đến những kinh nghiệm. Chúng chỉ là khái niệm, bị cắt đứt khỏi gốc rễ sống. Chúng đã ngưng đọng khi được khơi dậy từ bên trong con người ta, từ chính nó. Chúng không còn là những gì mà các thiền sư gọi là “một từ ngữ” mà khi đã thấu hiểu nó thì dẫn ngay đến sự thấu hiểu hàng trăm hàng ngàn những từ ngữ khác hay những câu nói của các thiền sư. Thiền ngữ làm việc với những “từ ngữ sống” này.

***

Sự rèn luyện thứ hai tiến đến sự thực chứng giác ngộ là hành động (thiền hành). Trong một ý nghĩa nào đó, ngôn ngữ cũng còn là hành động khi mà nó cụ thể và riêng tư. Nhưng trong hành động, những gì mà chúng ta gọi là “thân”, theo sự cảm nhận thực chứng của chúng ta, có dính líu vào. Khi mà ngài Lâm Tế được hỏi về những gì là tinh túy của Phật Giáo, ngài đã rời khỏi cái ghế của mình, nắm ngay ngực áo của người hỏi, tát vào mặt, và buông người ấy ra. Người ấy đứng sửng ở đó. Người đứng bên nhắc, “Sao ngươi không lạy?” Điều này làm người ấy tỉnh cơn mơ màng; và khi người ấy sắp lạy thầy, thì lại chứng ngộ.

Khi Mã Tổ [馬祖] đi dạo với Bách Trượng [百丈], người thị giả của ngài, khi ngài thấy một đàn ngỗng trời bay qua. Ngài hỏi, “Chúng đang bay đi đâu?” Bách Trượng trả lời, “Chúng đã bay mất rồi.” Mã Tổ quay sang, nắm lấy mũi Bách Trượng, vặn thật mạnh. Bách Trượng kêu la, “Đau quá, sư phụ!” “Ai bảo chúng đã bay mất rồi?” ngài Mã Tổ hỏi vặn lại. Việc này làm cho Bách Trượng nhận ra rằng vị thầy đã không nói gì đến nhận thức về đàn ngỗng mất dạng trong đám mây. Mục đích của vị thầy là gợi sự chú ý của Bách Trượng với đàn ngỗng sống di chuyển cùng với chính Bách Trượng, không phải ở bên ngoài mà là ở bên trong con người của ngài.

Con người này, theo Lâm Tế [臨済], là “con người thật, hoàn toàn trần truồng đi vào ra các giác quan của bạn.” Tôi tự hỏi không biết đây có phải là biểu tượng “người thứ ba” được nói đến bởi một vài nhà văn hiện đại như đi “bên cạnh bạn” hay “bên phía kia của bạn” hay “đằng sau bạn.”

Chúng ta có thể nói rằng đây là một bài học thực hành, dạy bằng hành động, học bằng làm việc. Có cái gì đó giống như nó trong phương pháp hành động tiến tới giác ngộ. Nhưng một hành động trực tiếp trong Thiền lại có một ý nghĩa khác. Có một mục đích sâu sắc hơn bao gồm trong sự thức tỉnh nơi tâm trí của người đệ tử một ý thức nào đó được hòa nhịp với sự rung động của Thực Thể. Câu chuyện sau đây có một chút khác; nó chỉ đơn giản trình bày tầm quan trọng của nó là để nắm bắt một thủ thuật bằng cách trải qua một trạng huống thực tế riêng mình mà không có sự trợ giúp nào bên ngoài. Nó làm thí dụ cho phương pháp sư phạm của tinh thần “tự tại” trong Thiền. Điều này hoàn toàn phù hợp với giáo pháp của Đức Phật và các thầy tổ khác: “Không trông cậy vào người khác, hay vào sự đọc tụng kinh điển. Mà phải tự là cây đuốc của chính mình.”

Ngũ Tổ Pháp Diễn [五祖法演], thời nhà Tống, cho chúng ta câu chuyện sau đây để nói lên tinh thần Thiền vượt lên trên kiến thức, luận lý, và ngôn từ:

“Nếu có người nào hỏi tôi Thiền giống cái gì, tôi sẽ nói rằng nó giống như là đi học nghề ăn trộm: Có người con của một người ăn trộm thấy cha mình trở nên già yếu mà nghĩ rằng, ‘Nếu cha mình không thể tiếp tục cái nghề của ông, thì ai sẽ là người kiếm cơm cho gia đình đây, không ai khác hơn là mình? Vậy thì ta phải học nghề mới được.’ Người con gợi ý với người cha, và ông ta đồng ý.

“Một tối nọ, người cha dẫn người con đến một căn nhà lớn, phá chuôi qua rào, vào trong căn nhà, và, mở một trong những cái rương lớn, bảo người con bước vào trong ấy, người cha vội đóng nắp rương lại và khóa thật kỹ bằng ổ khóa. Người cha bấy giờ lại chạy ra ngoài sân và đập mạnh vào cửa, đánh thức cả nhà dậy; xong lẳng lặng trốn qua cái lỗ của hàng rào chạy mất hút. Người trong nhà xôn xao vội đốt đèn, nhưng họ thấy kẻ ăn trộm đã trốn mất.

Người con, hãy còn nằm trong cái rương bị khóa kỹ, nghĩ đến người cha tàn nhẫn. Hắn quá xấu hỗ, chợt có một ý nghĩ thoáng hiện trong đầu. Hắn làm ra tiếng động giống như là tiếng chuột gặm ở trong cái rương. Gia chủ bảo người làm thắp cây đèn mà đến xem xét cái rương. Khi nắp rương vừa được mở, người trong rương nhảy ra, thổi tắt ngọn đèn, xô người làm sang một bên, rồi chạy mất. Người ta rượt theo hắn. Nhận thấy có một cái giếng bên vệ đường, hắn ta rinh một tản đá lớn ném xuống giếng nước. Đám người rượt theo tất cả đều bao quanh cái giếng để tìm kẻ trộm đã phóng mình vào hố giếng tối.

“Trong lúc ấy, hắn trở về lại an toàn nhà cha của mình. Hắn trách cứ cha mình một cách nặng nề đưa đến sự trốn thoát trong gang tất. Người cha bảo, ‘Đừng có bực mình, con của cha. Hãy nói làm sao mà con trốn thoát ra được.’ Khi người con kể đầu đuôi câu chuyện, người cha nhận xét, ‘Đó thấy không, con đã học được nghề rồi!’”

Cái ý tưởng trong câu chuyện là để nói lên sự vô ích trong việc chỉ dẫn bằng lời nói và trình bày bằng khái niệm theo như kinh nghiệm của sự giác ngộ vừa được nói đến. Ngộ phải là kết quả tự nhiên của sự sống bên trong của mỗi một người và không là sự gieo trồng bằng lời nói mang vào từ bên ngoài.

***

Đối tượng của Thiền tập bao gồm việc làm cho chúng ta nhận ra rằng Thiền là kinh nghiệm hằng ngày của chúng ta và nó không phải là một cái gì đó đưa vào từ bên ngoài. Thiên Hoàng Đạo Ngộ [天皇道悟] minh họa ra điểm hùng hồn nhất trong việc đối đãi với một nhà sư mới tu, trong khi đó, một kiếm khách vô danh Nhật Bản bày tỏ nó mang tính cách đe dọa hơn trong nghề nghiệp của mình. Câu chuyện của Thiên Hoàng Đạo Ngộ như sau:

Đạo Ngộ có một đệ tử tên là Sùng Tín [崇信]. Khi được nhận làm tăng sinh, lẽ tự nhiên là nghĩ rằng mình sẽ được thầy chỉ dạy về Thiền như những học trò được dạy chữ ở trường học vậy. Nhưng Đạo Ngộ đã không dạy cho đệ tử mình những bài học đặc biệt về môn này, và điều này đã làm cho Sùng Tín cảm thấy bối rối và bất mãn. Vào một ngày, Sùng Tín thưa với thầy, “Từ khi con đến đây học cho tới nay, con đã không được thầy dạy điều gì cốt yếu của Thiền cả.” Đạo Ngộ trả lời, “Từ khi con đến đây, ta đã dạy cho con những bài học có liên quan đến Thiền rồi!”

“Bài học nào thế?”

“Khi con bưng trà cho ta vào buổi sáng, ta nhận lấy; khi con dọn bữa ăn, ta nhận lấy; khi con chào lạy ta, ta gật đầu đáp lại. Vậy con còn muốn được dạy điều gì nữa trong Thiền?”

Sùng Tín cúi đầu trong giây lát, suy nghĩ về những điều khó hiểu. Vị thầy bảo, “Nếu con muốn thấy, thì thấy ngay. Còn bắt đầu suy nghĩ, thì nó lại biến mất.”

Câu chuyện của vị kiếm khách lại như sau:

Khi một đệ tử tìm đến một vị thầy để học kiếm thuật, vị thầy, một người đã về hưu ẩn cư trong một cái chòi trên núi, nhận dạy người học trò. Người đệ tử bị bắt phải giúp thầy nhen lửa, gánh nước từ con suối gần đó, chẽ củi, nấu cơm, quét nhà và dọn sân, một cách tổng quát là chăm nom việc nhà cửa cho thầy mình. Không có một bài học và kỹ thuật đánh kiếm nào được đem ra dạy cả. Sau một thời gian, người học trò trẻ trở nên bất mãn, vì anh ta đến không phải là để làm việc như người ở cho ông già, nhưng mà để học kiếm thuật. Vì vậy vào một ngày, người thanh niên tiến đến thầy và đòi ông ta dạy. Người thầy đồng ý.

Kết quả là người thanh niên không thể nào làm một việc gì mà cảm thấy được yên ổn. Như khi anh ta nấu cơm buổi sáng, người thầy xuất hiện, từ đàng sau đập một gậy vào người anh. Khi anh ta đang trong lúc quét nhà, thì cũng cảm thấy có một cú đánh không biết từ đâu. Anh ta không bao giờ yên ổn cả, vì luôn luôn ở trong trạng thái phải sống còn. Vài năm trôi qua, trước khi anh ta có thể tránh né được cú đánh từ bất cứ ở đâu. Nhưng vị thầy vẫn cảm thấy chưa thỏa mãn với kết quả của anh có.

Vào một ngày, thấy thầy mình đang luộc rau trên bếp lửa. Người học trò tự nghĩ rằng đây là cơ hội hiếm có để thử thầy mình. Cầm ngay cây gậy lớn, dơ cao đánh vào đầu thầy, đang lom khom quậy canh rau trong nồi. Nhưng cây gậy của người học trò bị kẹt ngay vào cái nắp vung nồi canh rau. Việc này đã làm sáng mắt người học trò về bí quyết của kiếm thuật, mà cho đến nay anh ta hãy còn xa lạ với bí quyết này. Từ đó, lần đầu tiên người học trò mới cảm thấy sự ưu ái không thể nào sánh kịp của thầy mình.

Bí quyết tuyệt hảo của kiếm thuật bao gồm việc tạo ra khuôn thước tâm lý làm cho mình luôn luôn sẵn sàng ứng phó kịp thời, nghĩa là tức-khắc, những gì đến từ bên ngoài. Trong khi rèn luyện kỹ thuật thì rất quan trọng, nó đến sau tất cả những gì là giả tạo, có ý thức, có tính toán thêm vào và bồi đắp. Trừ khi cái tâm tự nó lợi dụng kỹ năng nào đó ứng hợp với trạng thái cực kỳ linh động hoặc năng động. Trạng thái này lan khắp khi mà tâm được đánh thức đến satori (ngộ). Những gì mà vị kiếm khách nhắm tới là làm cho người đệ tử đạt đến sự thực chứng này. Nó không thể được truyền dạy bằng bất kỳ một phương pháp đặc biệt nào nhắm đến đích này, mà nó chỉ đơn thuần tăng triển từ bên trong. Phương pháp của vị kiếm khách thật sự là không có phương pháp nào mang ý nghĩa thích hợp. Nhưng có một phương pháp “tự nhiên” trong sự điên dại rõ ràng của ông, và ông đã thành công trong việc đánh thức tâm thức của người đệ tử trẻ của ông những gì đánh động cơ chế cần thiết cho sự tinh thông kiếm thuật.

Thiền sư Đạo Ngộ đã không phải lúc nào cũng đánh người đệ tử của mình bằng cây gậy. Đối tượng của vị kiếm khách thì rõ ràng và có giới hạn trong lãnh vực kiếm thuật, trong khi đó Đạo Ngộ thiền sư muốn dạy bằng cách đạt đến nguồn căn mà từ đó mọi thứ làm cho kinh nghiệm hàng ngày của chúng ta xảy ra sau đó. Vì vậy, khi Sùng Tín bắt đầu suy nghĩ về những nhận xét mà Đạo Ngộ thiền sư cho biết, Đạo Ngộ bảo Sùng Tín: “Không suy nghĩ bất cứ điều gì. Khi con muốn thấy, thì thấy ngay tức-khắc. Ngay khi con nấn ná [có nghĩa là, lúc mà có sự diễn đạt bằng trí óc hay trung gian], thì toàn bộ sự việc lại trở nên lệch lạc.” Điều này có nghĩa rằng, trong việc tu học Thiền, ý nghĩ khái niệm phải ra đi, vì một khi mà chúng ta nấn ná ở cấp độ này, chúng ta chẳng bao giờ đạt đến nơi mà Thiền có sự sống của nó ở đó. Cái cánh cửa của sự thể nghiệm – giác ngộ (sự chứng ngộ) tự nó mở lấy khi mà người ta cuối cùng đối diện với sự bế tắc của trí thức.

Điều khó nắm bắt hay trơn trượt của chân lý hay thực thể hay, tôi sẽ nói, Chúa, khi người ta cố gắng nắm bắt nó hoặc ngài bằng khái niệm hoặc kiến thức, thì cũng giống như đi bắt con cá trê da trơn bằng cái bầu. Đây là sự diễn tả khéo léo qua Josetsu [如拙], một họa sĩ người Nhật vào thế kỷ thứ 15.

Bây giờ chúng ta có thể nêu ra một vài điều về Thiền không ít thì nhiều về mang tính cách tóm tắt:

(1) Pháp hành Thiền bao gồm trong sự đạt giác ngộ (hay satori [ngộ], trong tiếng Nhật).

(2) Satori [ngộ] tìm thấy cho đến nay một ý nghĩa tìm ẩn bên trong những kinh nghiệm cụ thể riêng biệt hàng ngày của chúng ta, chẳng hạn như ăn, uống, hay mọi thứ công việc.

(3) Ý nghĩa vì vậy bộc lộ không phải là cái gì đó thêm vào từ bên ngoài. Nó là trong chính nó, trở thành chính nó, sống với chính nó. Điều này được gọi, trong tiếng Nhật, là một sự sống của kono-mama hay sono-mama có nghĩa là “isness [như là, như thị]” của một sự vật. Thực thể trong cái như là chính nó.

(4) Vài người có thể nói, “Không thể có một ý nghĩa nào trong chỉ như là.” Nhưng đây không phải là quan niệm của Thiền, theo đó, như là là ý nghĩa. Khi tôi nhìn vào nó tôi thấy nó rõ ràng như tôi thấy chính tôi phản ảng trong tấm gương.

(5) Điều này đã làm cho Bàng Cư Sĩ, một đệ tử cư sĩ của thế kỷ thứ 8, phát biểu rằng:
Điều này kỳ diệu làm sao, thần bí làm sao!
Tôi mang củi, tôi lấy nước.
Việc mang củi hay lấy nước, tự nó, ngoài tánh vị lợi của nó, đầy ý nghĩa; vì sự “kỳ diệu” của nó, sự “thần bí” của nó.

(6) Vì vậy, Thiền không nương náu trong trừu tượng hay trong khái niệm. Trong thiền ngữ, có thể đôi khi Thiền thực hiện điều này khá nhiều. Nhưng đây là một lỗi thông thường nhất gây ra bởi những người không biết gì về Thiền.

(7) Satori [ngộ] là sự giải thoát, đạo đức, tinh thần, cũng như tri thức. Khi tôi ở trong cái như là của tôi, thanh lọc một cách triệt để mọi tàn tích của trí thức, tôi có sự tự do của mình trong ý nghĩa căn bản của nó.

(8) Khi tâm, bây giờ ở trong cái như là của nó – mà, dùng thiền ngữ, không như là – và vì vậy thoát khỏi sự phức tạp của tri thức và những sự câu thúc đạo đức trong mỗi cách mô tả, khảo sát thế giới của giác quan trong tất cả sự tăng bội của nó, nó khám phá trong mọi loại giá trị cho đến nay đã ẩn tàng không tìm thấy. Nơi đây mở ra cho người nghệ sĩ một thế giới tràn đầy sự kỳ diệu và thần bí.

(9) Thế giới của người nghệ sĩ là một sự sáng tạo tự do, và điều này có thể đến chỉ bằng trực giác trực tiếp và tức-thời từ cái như là của sự vật, không bị ngăn trở bởi cảm giác và tri thức. Họ sáng tạo ra hình sắc và âm thanh từ cái không hình sắc và không âm thanh. Trong phạm vi này, thế giới của người nghệ sĩ trùng hợp với Thiền.

(10) Sự khác biệt giữa Thiền và nghệ thuật là điều này: Trong khi người nghệ sĩ cần đến khung vải và cọ hay dụng cụ máy móc hay những phương tiện khác để diễn tả lấy họ, thì Thiền không cần những vật dụng gì từ bên ngoài, trừ “tấm thân” mà trong đó Thiền-giả là như vậy để nói chuyện hiển hiện. Từ quan điểm tuyệt đối thì điều này không mấy chính xác; tôi nói rằng nó chỉ nhường bộ cho cách nói chuyện của thế gian. Những gì mà Thiền làm là phác họa chính nó trên khung vải vô hạn của thời gian và không gian trong cách mà đàn ngỗng trời soi bóng trên nước bên dưới không mang một ý tưởng gì về việc làm đó, trong khi nước phản ảnh bóng đàn ngỗng chỉ là tự nhiên và một cách không cố ý.

(11) Thiền-giả là một người nghệ sĩ trong phạm vi đó, như là nhà điêu khắc ra một nhân vật vĩ đại chôn sâu trong một khối vật liệu vô tri, Thiền-giả biến đổi đời sống của chính họ vào công việc sáng tạo, mà nó hiện hữu, như người Cơ Đốc Giáo có thể nói, trong trái tim của Chúa
.

  • Ta cần phải thực tập cả hai phương cách, Thanh tịnh và Tỉnh giác, để đạt được những kết quả mà Thiền sẽ mang đến cho ta. Phần đông chúng ta đều muốn được an lạc. Ai cũng muốn được bình yên, muốn được có cảm giác vui sướng, mãn nguyện. Trong Thiền định, nếu ta thoáng bắt được cảm giác an lạc đó, ta sẽ hạnh phúc biết bao. Nhiều người đã thỏa mãn khi đạt được đến trình độ đó. Nhưng thanh tịnh không phải là mục đích của Thiền. Đó chỉ là phương tiện đưa đến cứu cánh. Thanh tịnh là phương tiện. Sự tỉnh giác trong nội tâm mới là cứu cánh. Phương tiện rất cần thiết nhưng không thể lầm lẫn chúng với cứu cánh. Nhưng vì phương tiện đó tạo ra sự thoải mái, dễ chịu, ta trở nên bám víu vào chúng.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 2.008
  • Có một số câu hỏi đã được nêu lên để hỏi Đức Phật, nhưng Ngài không trả lời vì đó là những câu hỏi đặt sai và vô ích. Bám víu vào những câu hỏi ấy bằng những biện luận thuần lý sẽ rơi vào cạm bẫy của sự hiểu biết quy ước, công thức và nhị nguyên. Cạm bẫy ấy sẽ đưa đến tranh luận vô tận và thắc mắc tiếp nối nhau, đánh lạc hướng sự tu tập. Nhiều vị thầy sống đồng thời với Đức Phật, tức là vào thế kỷ thứ VI trước Tây lịch, đã từng chủ xướng nhiều chủ thuyết trong lãnh vực triết học siêu hình. Nhưng Đức Phật đã che chở cho các đệ tử của Ngài tránh khỏi những cạm bẫy ấy, không phải bằng cách cấm đoán, bằng biện luận hay giải thích, nhưng bằng sự yên lặng. Có tất cả 14 câu hỏi đại loại như sau mà Phật không giải đáp.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.787
  • Thiền không phải là và cũng không nhắm đến những cảnh giới của định (mà chúng ta thường gọi là Bốn thiền Tám định) như là cứu cánh. Những cấp độ định chỉ là những trạng thái, dù vi tế hoặc cùng cực vi tế, của tâm. Chúng có thể dùng để huấn luyện cho tâm thức, chúng là những trạng thái, những biểu lộ vi tế của tâm, nhưng chúng không phải là bản tánh của tâm thức, chúng chưa phải là Tâm.  

    Người xưa thường nói, bình thường tâm là Đạo. Cái tâm bình thường này là nguyên trạng của tâm, bản tánh của tâm, nền tảng của tâm và nó có mặt ở trong bất kỳ trạng thái nào của tâm, trong bất kỳ không gian thời gian nào. Như nước có mặt trong bất kỳ hình tướng biểu lộ nào của nước, trong bất kỳ làn sóng nào. Thiền chính là bản tánh của tâm, cái tâm bình thường, nguyên trạng không khúc xạ, méo mó này.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.136
  • Hình ảnh Ngắm vẻ đẹp hùng vĩ của núi Phú Sĩ xứ Phù Tang số 9    “Hiện thành Công án” là trước tác của thiền sư Đạo Nguyên, nhưng chúng ta dịch câu này là “hiển bày thực tướng tuyệt đối”. Nói khác đi, đời sống là sự hiển bày thật tướng tuyệt đối. Nói như vậy thì Công án này cần phải tham như thế nào? Đó chính là phải hiểu rằng đời sống tức là Phật pháp, sống tức là đã trải qua đời sống khai ngộ như thế. Không thể nói khai ngộ là cái gì đó nằm ngoài đời sống. Thậm chí còn nói ngộ nói mê thì bản thân nó chính là mê.    

               

     

     

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.126
  • Như vậy, tánh thấy là gì? Tánh thấy là Phật tánh hay tánh giác biểu lộ ở cái thấy. Cái thấy này là do duyên sanh, do căn trần thức mà có. Tánh thấy là nền tảng, môi trường, không gian cho sự duyên hợp của căn trần thức tạo thành cái thấy.

    Kinh Lăng Nghiêm nói: “A-nan, ông trôi chìm, không ngộ cái thấy, nghe, hay, biết của ông vốn là Như Lai tạng…. Ông nào có biết, trong Như Lai tạng cái thấy là tánh minh giác, tánh minh giác hiển lộ ra thành cái thấy, thanh tịnh bản nhiên, toàn khắp pháp giới, tùy theo tâm chúng sanh mà ứng với lượng hay biết.

     

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.212
  •          Vấn đề chính của việc tu hành là gì? Đó là vẫn cứ quay về chính mình, trở về ngay với đời sống chính mình. Chúng ta thường nói tịnh hóa chính mình, tịnh hóa sinh tử, nhưng phải tịnh hóa như thế nào? Thiền sư Đạo Nguyên nói: “ Ngồi quên chính mình”. Thế nhưng, chúng ta ngồi quên chính mình, hay là trên thực tế đang cũng cố chính mình? Vấn đề này rất quan trọng.

    Trạng thái quên chính mình là trạng thái như thế nào? Có một tác phẩm tên là Ba trụ thiền(1) (Three pillars of Zen). Nhan đề tác phẩm này ý nói rằng bản thân thiền có những nền tảng căn bản. Trước đây, khi nghe tên tác phẩm thì tôi đã nghe nhầm thành Three pillows of Zen (Ba chiếc gối trong thiền môn); vì tôi nghe chữ “pillar” giống như chữ “pillow”. Muốn ngủ được thoải mái thì phải có ba chiếc gối này. Nếu không bạn sẽ gặp ác mộng.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 957
  • Tiểu luận được bắt đầu với một câu nổi tiếng được cho là của Bồ Đề Đạt Ma, người sáng lập Thiền ở Trung Hoa : “Một hoa nở năm cánh, kết quả tự nhiên thành.” “Năm cánh” là năm nhà (phái) của Thiền Trung Hoa. Đạo Nguyên chỉ ra những nhà này là những phương diện nhiều mặt của một “đóa hoa”, trong khi “một hoa” là sự bộc lộ của những phương diện khác nhau ấy. Ở chỗ khác trong Chánh Pháp Nhãn Tạng, Đạo Nguyên nhấn mạnh rằng năm phái Thiền không nên được nghĩ là tiêu biểu cho những phân chia hay những dị biệt căn bản, và Phật giáo cần được xem không phải theo một lối chia chẻ, bộ phái, mà như một toàn thể bao gồm nhiều mặt khác biệt. Quan niệm về Phật giáo như một toàn thể thống nhất mà khác biệt, khác biệt mà thống nhất cũng là đặc trưng của ý niệm “một thừa” trong những giáo lý Hoa Nghiêm và Pháp Hoa. Cũng như Hoa Nghiêm, ở đây Đạo Nguyên trong phần mở đầu của mình nhấn mạnh vào thực hành, tượng trưng bởi cái hoa, tự nhiên mang “quả” của sự chứng ngộ. Ẩn dụ hoa và những cánh cũng có thể mở rộng để ám chỉ cái nhất thể và đa thù của tất cả hiện tượng.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.129
  • Nếu các phương pháp tu tập, song song với sự hình thành của các tông phái và học phái, ngày càng trở nên phong phú và đa dạng thì một số khái niệm và giáo lý căn bản trong Đạo Pháp theo đó cũng đã được triển khai sâu rộng hơn và đồng thời cũng đã được suy diễn với ít nhiều khác biệt. Nếu khái niệm về tánh không được Đức Phật nêu lên như một phép luyện tập chính xác, cụ thể và thực dụng, như đã được thuyết giảng trong hai bài kinh Culasunnata-suttaMahasunnata-sutta, thì tánh không cũng đã được các tông phái và học phái sau này triển khai sâu rộng hơn bằng nhiều cách diễn đạt phức tạp hơn. Tiêu biểu nhất cho các cách giải thích "mới" về tánh không là bộ kinh đồ sộ Prajnaparamita-sutra, dịch âm là "Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa", có nghĩa là "Kinh về sự hiểu biết Siêu Nhiên", và còn được gọi vắn tắt là Tâm Kinh.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.029
  •  

    Vậy thuyết vô ngã chính là trọng tâm của Phật giáo. Nói cho thật chính xác, quan điểm Phật giáo về nhân sinh quan nằm gọn trong bốn định lý trọng yếu, gọi là bốn dấu ấn Phật pháp.
    [tứ pháp ấn]:

    Mọi hiện tượng do yếu tố kết hợp đều vô thường;

    Mọi hiện tượng ô nhiễm đều là khổ;
    Mọi hiện tượng đều là không và không tự có;

    Niết bàn là an lạc chân chính
    i
     

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 962
  •  

    Hải Ấn Đại Định
    (Kai-in zammai)

     

    “Hải ấn đại định”, hay như đôi khi được dịch, “định phản chiếu trong đại dương”, là định từ đó kinh Hoa Nghiêm khởi lên, phát hiện một cách thình lình quang cảnh bao la của sự giác ngộ của Phật. Luận Tham Thiền Trở Về Nguồn, một tác phẩm tông Hoa Nghiêm được thông dụng trong các phái Thiền Trung Hoa, nói, “Hải Ấn là tánh giác nền tảng của Chân Như. Khi vọng tưởng chấm dứt, tâm trong sáng và vô số hình tướng đồng thời xuất hiện. Nó giống như đại dương : do gió mà có sóng khởi ; nếu gió dừng nước đại dương lặng sáng, và mọi hình ảnh phản chiếu trong đó.” Như thế, nói theo phương diện tâm, hải ấn đại định ám chỉ tánh giác bình đẳng và khắp cả.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.190
  •     Ở Tây phương có rất nhiều quan niệm sai lầm về Thiền quan hệ đến một số điểm cốt yếu mà bên Đông phương cho là dĩ nhiên, nhưng tâm thức Tây phương không hiểu và tán thưởng nổi. Trước hết, trong việc nghiên cứu Thiền, không phải chỉ học giáo lý là quan trọng, mà phải biết đôi chút về lối sống của các Thiền gia ở các nước Đông phương. Áp dụng vào nội tâm, Thiền là một “kinh nghiệm” và một sự “thực hiện”, hoặc một giáo lý đem người ta đến những trạng thái này; nhưng bề ngoài Thiền chính yếu là một truyền thống và một đạo sống. Vì thế, muốn hiểu Thiền một cách đứng đắn, ta phải học không những chỉ giáo lý, mà cả đạo sống của nó nữa. Ít ra, một hiểu biết thoáng qua về đời sống tự viện của các Thiền sư hẳn là một hỗ trợ rất giá trị để hiểu Thiền đúng đắn hơn.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 905
  • Ngồi thiền chỉ để người ta sáng tỏ tâm và nghỉ ngơi thư thả trong tài nguyên vốn sẵn của nó. Đó gọi là trưng bày khuôn mặt xưa nay và làm phát lộ nền tảng bổn nguyên. Tâm và thân rơi rụng mất, lìa hẳn việc ngồi và nằm. Thế nên chúng ta không nghĩ gì đến thiện ác, tốt xấu, và vượt khỏi phàm thánh, mọi ý niệm mê và ngộ, buông bỏ hoàn toàn những biên bờ của chúng sanh và Phật.

     Thế thì, chấm dứt mọi quan tâm, vất bỏ mọi bám nắm, không làm một cái gì cả. Sáu giác quan không hoạt động – cái này là ai, tên chưa từng được biết, không thể xem là thân, không thể xem là tâm? Khi các ông nghĩ đến nó, tư tưởng tan biến mất; khi các ông cố nói về nó, lời nói hết đường. như một kẻ ngu không biết gì, cao như núi, sâu như biển, không thể thấy đỉnh cao hay đáy – chói sáng không nghĩ suy, nguồn thì trong sáng tự tỏ bày trong im lặng.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 847
  • Tâm trí bạn luôn tìm kiếm không ngừng những đề tài để cho bạn suy tư một cách điên cuồng; đó cũng là cách tâm trí bạn đi tìm những thứ để cung cấp cho chính nó một sự xác minh, một cảm nhận về tự thân(1). Đây cũng là phương cách để bản ngã của bạn trở thành hiện hữu và tiếp tục được tồn tại ở trong bạn.

    Khi bạn suy nghĩ hay nói về chính mình, khi bạn nói “Tôi”, là thực ra điều bạn muốn nói là: “Tôi và những câu chuyện của tôi”(2). Đây chính là “cái Tôi” của những cái thích, hoặc không thích, sợ hãi và ham muốn, “cái Tôi” không bao giờ cảm thấy thỏa mãn được lâu. Đó là cảm nhận về tự thân của bạn được làm nên bởi trí năng, thường bị tha hóa bởi quá khứ và luôn muốn tìm sự thỏa mãn ở tương lai.

    Bạn có nhận ra rằng “cái Tôi” này rất dễ phôi pha, vì đó chỉ là một sự hình thành rất tạm bợ như một đợt sóng biểu hiện trên mặt nước.

     

     

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.735
  • Trong buổi nói chuyện trước đây tôi cũng đã nhắc đến tánh không và cho biết đấy là một chủ đề thật chủ yếu, thế nhưng tôi chưa kịp triển khai một cách đầy đủ và tương xứng với tầm quan trọng của nó. Thiết nghĩ chúng ta cần phải thấu triệt khái niệm này một cách sâu sắc hơn. Nhiều khía cạnh của chủ đề này quả thật là vẫn còn quá mù mờ, do đó tôi sẽ dành trọn buổi nói chuyện hôm nay cho đề tài này.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 887
  •  

     

     

      OM là từ biểu trưng cho cái vô cùng, viên mãn, vĩnh hằng.Những người Phật tử Tây Tạng tin tưởng rằng bản thể của vũ trụ biểu đạt qua âm thanh mật chú (mantra). Mật chú là sức mạnh làm cho tâm thức tập trung và trở nên nhu nhuyến.

    Chữ mantra có nguồn gốc từ ngữ căn tiếng Phạn: manas, nghĩa là tâm; và, tra, nghĩa là công cụ. Tiếng Latin cũng có ngữ căn tương tự là mens, nghĩa là tâm thức. Như vậy, Mantra có nghĩa là công cụ của tâm thức, là âm thanh cốt lõi, âm thanh của Chánh giác làm cho luân hồi và Niết bàn hợp nhất. OM là đầu nguồn của Mantra, có nguồn gốc từ đạo Bà la môn. OM được Phật giáo tiếp nhận và mở rộng phạm vi để làm điểm tiên khởi cho tất cả những Mantra khác. OM biểu trưng cho tính tổng nhiếp của các pháp, cái vô cùng, cái viên mãn. Tụng niệm Mantra là cách làm cho tâm được tập trung, hướng về hòa nhập với tánh giác.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.412
  • Sự  im lắng chính là bản chất chân thực của bạn. Vậy sự im lắng là gì? Đó chính là không gian ở trong bạn, là khả năng nhận thức từ đó những chữ trên trang giấy này được tạo thành khái niệm và trở thành những ý nghĩ ở trong đầu bạn. Nếu không có khả năng nhận biết đó, sẽ không có khái niệm, không có ý tưởng, không có thế giới.

    Bạn chính là khả năng nhận biết đó được che giấu dưới hình dáng của một con người. 

    Tương đương với tiếng động ồn ào ở bên ngoài là sự ồn ào của những suy tưởng bên trong.

    Tương đương với sự im lặng ở bên ngoài là sự im lắng ở nội tâm.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.821
  • FOREWORD

    Man, in order to escape his conflicts, has invented many forms of meditation. These have been based on desire, will and the urge for achievement, and imply conflict and a struggle to arrive. This conscious, deliberate striving is always within the limits of a conditioned mind and in this there is nofreedom. All effort to meditate is the denial of meditation.Meditation is the ending of thought. It is only then that there is a different dimension which is beyond time.

    J. Krishnamurti. March 1979 

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 2.312
  • CHỈ NGỒI

    Tenshin Reb Anderson

    Giáo lý tánh Như đã được truyền thông mật thiết bởi chư Phật chư Tổ. Nghĩa của thực hành tánh Như này không nằm trong lời nói, nhưng nó đáp ứng cho sự quyết tâm của chúng ta. Nó tiến lên và gặp gỡ chúng ta. Chúng ta ngồi đây và những con chim xanh hát nó cho chúng ta, những dòng suối hát nó cho chúng ta, bởi vì chúng ta đến và nghe. Đây là sự thực hành ngồi, chỉ ngồi, của chúng ta. Nó là một thiền định không chủ đề, một thiền định không có mối nối khâu vá. Nó không còn hình tướng, không bắt đầu và không kết thúc và nó toả khắp mọi sự một cách trọn vẹn. Nó không để lại dấu vết, và nếu tôi cố gắng truy tìm dấu nó, mà vì nó đáp ứng một cách rộng lượng và từ bi cho sự tìm dấu của tôi, cho sự nói của tôi và cho sự nghe của các bạn.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 931
  • SUZUKI DAISETZ - ĐÀO NGUYÊN MINH dịch


    Thiền là sự rèn luyện trong sự giác ngộ. Giác ngộ có nghĩa là giải thoát. Và giải thoát thì không kém gì so với tự do. Chúng ta nói rất nhiều trong thời đại này về đủ thứ tự do, chính trị, kinh tế, mà mặt khác thì những thứ tự do này đều không thực tiễn. Một khi chúng hãy còn ở trên bình diện tương đối, sự tự do mà chúng ta nói đến thì xa hơn thế nữa. Tự do thực sự là kết quả của sự giác ngộ. Khi một người nhận thức ra điều này, thì trong bất cứ hoàn cảnh nào, người ấy cũng có thể tìm thấy chính mình luôn tự tại trong đời sống nội tâm của mình, trong sự theo đuổi đường hướng hành động của chính nó. Thiền là một tôn giáo của jiyu “tự do”, và jizai “tự tại”.
    Giác ngộ chiếm trọng tâm trong giáo lý nơi tất cả các tông phái Phật Giáo, Tiểu Thừa và Đại Thừa, “tự lực” và “tha lực”, Thánh Đạo hay Tịnh Độ, giáo lý của Đức Phật tất cả đều phát xuất từ sự giác ngộ của ngài, từ khoảng 2.500 năm trước nơi vùng phía bắc Ân Độ. 

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 961
  • Thiền Sư Thánh Nghiêm

     

    Dưới đây là một trình bày về Thiền Mặc Chiếu, trích dịch một phần từ cuốn Hoofprint of the Ox (Dấu Chân Trâu) của Thiền Sư Thánh Nghiêm (Sheng Yen), dựa theo bản Anh dịch của GS Dan Stevenson. Thầy Thánh Nghiêm nối pháp từ cả hai dòng Lâm Tế và Tào Động, chuyên hoằng pháp Thiền Tông với cả hai truyền thống này, có ảnh hưởng lớn ở nhiều nước. Năm 2000, thiền sư là một trong các diễn giả chính trong Hội Nghị Thượng Đỉnh Tôn Giáo Thiên Niên Kỷ tổ chức ở Liên Hiệp Quốc. Thầy thường mở các thiền thất dài 7 ngày ở các nước, đôi khi mở các thiền thất dài 49 ngày. Tuy chuyên dạy về Thiền Thọai Đầu và Thiền Mặc Chiếu, Thiền Sư Thánh Nghiêm lại là một giảng sư uyên bác, đa dạng và cũng là một luận sư của Tịnh Độ Tông.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 874

Top Bài Viết

Top Music

Top Book Mp3

Top Music Album

 
© Copyright 2013 - 2020 PHATAM.ORG - Chịu trách nhiệm nội dung: Thị Đức bienman0811@yahoo.com - Hỗ trợ kỹ thuật votamthoai@gmail.com