THIỀN GIỮA ĐỜI THƯỜNG - Ajahn Chah

Không có gì đặc biệt cả
 
Người ta thường hỏi tôi bí quyết để tu học. Phải chăng tôi phải chuẩn bị tâm để thiền định sao? Không có gì đặc biệt ở đây cả. Tôi chỉ thiền như tôi đã thiền. Họ hỏi, “Thế, phải chăng ngài là vị A-la-hán?” Tôi có nên biết điều đó không? Tôi cũng giống như thân cây, cho ra nhiều cành lá, đơm hoa rồi kết trái. Chim chóc đến ăn và làm tổ trên thân cây đó. Nhưng cây không tự biết sự hiện diện của chính nó. Nó chỉ thuận theo quy luật của tự nhiên; Thể hiện như chính bản thân nó mà thôi.
 
Thiền

Du khách là thiền sinh, đến tham vấn ngài Achaan Chah, “Ngài bao nhiêu tuổi? Phải chăng quanh năm suốt tháng ngài chỉ sống quanh quẩn trong thiền viện?”
“Tôi không sống ở đâu cả,” ngài trả lời. “Không có chỗ nào để anh tìm thấy được tôi. Tôi không có tuổi. Nếu có tuổi anh phải hiện hữu trên cuộc đời này, và khi anh nghĩ, anh hiện hữu trên cuộc đời này là anh đã tạo ra sự rắc rối. Không tạo ra những rắc rối, thì cuộc đời cũng sẽ không rắc rối. Đừng tạo cho mình bản ngã. Tuyết đối không có gì để nói cả.”...
Có lẽ vị thiền sinh kia đã cảm nhận rằng cốt tủy của thiền minh sát không khác gì với cốt tủy của thiền tông.

Mạch nước ngầm

Đạo pháp không thuộc về một ai; Đạo pháp không có chủ. Nó hiện diện trên cuộc đời này từ khi thế giới hình thành, nó tồn tại như chân lý. Đạo pháp vẫn luôn hiện hữu trên đời này, bất động, không thời gian, nó vẫn hiện hữu để cho những ai tìm kiếm nó. Đạo pháp như mạch nước ngầm ẩn sâu trong lòng đất. Bất cứ người nào đào sâu xuống đều bắt gặp nó. Tuy nhiên, dù bạn có đào hay không, đạo vẫn luôn hiện hữu ở đó, ẩn mình dưới những sự vật.
Để tìm đạo pháp, chúng ta không cần tìm ở đâu xa, không nỗ lực tìm kiếm hoặc tập trung nghiên cứu vào bản chất của đạo pháp. Đạo pháp không có ở đó, cũng không ở quá xa để con người phải dùng đến kính viễn vọng để quan sát. Đạo pháp vẫn luôn hiện hữu ở đây, trên cuộc đời này, rất gần gũi với chúng ta, bản chất thực của đạo pháp ở ngay bên trong mỗi người, trong cái ngã và vô ngã. Khi chúng ta cảm nghiệm được bản chất thực này, thì mọi rắc rối và nghi ngờ đều tan biến. Thánh thiện và tội ác, niềm vui và nỗi khổ, tối và sáng, ngã và vô ngã, tất cả đều trống rỗng. Để biết được bản chất đích thực này, mọi cảm nhận về ngã trước đây trong mỗi chúng ta phải chết đi, khi đó chúng ta mới thực sự có tự do.
Chúng ta phải biết thực hành những bài học từ bỏ, không mê chấp vào bất cứ điều gì. Trước khi từ bỏ tâm và thân này, chúng ta phải nhìn thấy bản chất thật của nó. Khi đó chúng ta sẽ không còn mê chấp vào nó.
Không có cái “tôi” và cái “của tôi”, tất cả đều vô thường và giả tạm. Nhưng, tại sao chúng ta không nói Niết-bàn là cái “của tôi”? Vì những ai đã cảm nghiệm trạng thái của Niết-bàn thì họ không còn nghĩ đến “tôi” và cái “của tôi” nữa. Nếu họ nghĩ Niết-bàn là cái “của tôi”, thì họ chưa thực sự biết được Niết-bàn là gì. Những ai đã nếm qua hương vị ngọt ngào của mật ong, họ không hề nghĩ, “Tôi đang thưởng thức hương vị ngọt ngào của mật ong”.
Khi nói đến đạo pháp là tiến về phía trước. Nhưng đạo pháp chân thực không đi về phía trước, không lùi lại phía sau, và cũng không đứng yên một chỗ.

Vô ngã

Khi con người chưa hiểu thế nào là cái chết, thì cuộc đời là cái gì đó thường đem lại cho con người sự bối rối. Nếu cái thân này thực sự là của chúng ta, thì nó phải biết nghe lời chúng ta. Nếu chúng ta nói, “Thân này đừng có già lão.” hoặc “Ta cấm thân này không được bệnh.” Khi đó thân có nghe chúng ta không? Không, nó chẳng quan tâm gì đến những yêu cầu của chúng ta cả. Chúng ta chỉ tạm gá vào cái thân này, chúng ta không phải là chủ nhân của nó. Nếu chúng ta nghĩ, thân này là của chúng ta, thì chúng ta sẽ đau khổ khi phải rời bỏ nó. Nhưng trên thực tế, không có cái ngã vĩnh hằng, không có gì bền vững và bất biến để chúng ta có thể ôm giữ mãi trên cuộc đời này.
Đức Phật đã chỉ ra cho chúng ta hai dạng chân lý; Chân lý tối hậu và chân lý hạn cuộc. Những suy nghĩ về ngã chỉ là khái niệm, là ước lệ giới hạn - Người Mỹ, người Thái, giáo sư, sinh viên, tất cả đều là ước lệ. Tuyệt đối không có ai hiện hữu cả, chỉ có cái thân tứ đại hình thành từ đất, nước, gió, lửa và những yếu tố tạm duyên khác mà có hình tướng. Nên chúng ta mới gọi cái thân này là người, là ngã “của tôi”, nhưng khi đi sâu vào chỗ tận cùng của nó, không có “cái tôi”, chỉ có cái vô ngã mà thôi. Để hiểu được lý vô ngã, bạn phải thiền định. Nếu suy nghĩ để tìm ra đáp án, cái đầu của bạn sẽ nổ tung ra mất. Một khi bạn đã cảm nghiệm được lý vô ngã, mọi gánh nặng của cuộc đời sẽ tan biến theo mây khói. Cuộc sống gia đình, công việc và tất cả mọi thứ trên cuộc đời này khi đó sẽ trở nên dễ dàng hơn. Khi bạn không còn nhìn thấy ngã và không còn mê chấp vào hạnh phúc, và khi không chấp vào hạnh phúc nữa, lúc đó bạn mới thực sự có hạnh phúc.

Sự an lạc của chư Phật


Nếu tất cả đều vô thường, không toại nguyện, vô ngã, thì điều gì tồn tại trên cuộc đời này? Khi người ta nhìn dòng sông trôi chảy, nếu có ai đó không muốn nó chảy nữa, hoặc muốn nó ngừng chuyển động, không đi theo bản chất tự nhiên vốn có của nó, thì người đó sẽ đau khổ mà thôi. Một người khác lại hiểu được rằng, bản chất của dòng sông luôn trôi chảy, dù anh ta có thích hay không thích, nó vẫn chảy, cho nên anh ta không đau khổ. Để cảm nghiệm sự có mặt của dòng chảy, cái trống rỗng của niềm vui, cái không của ngã, người ta phải biết rằng đâu là sự bền vững và bình thản trong đau khổ để tìm thấy sự bình yên trong cuộc đời.
“Lúc đó,” có người hỏi, “Vậy ý nghĩa của cuộc đời nằm ở đâu?” “Tại sao chúng ta có mặt trên cuộc đời này?” Tôi không thể nào nói cho các bạn về điều này. Tại sao chúng ta phải ăn? Bạn ăn để rồi bạn không bao giờ ăn nữa. Bạn sinh ra để rồi bạn không còn sinh ra nữa trên cuộc đời này.
Khi nói đến bản chất thật của sự vật, cái không và vô ngã, thực ra không dễ dàng chút nào. Khi lắng nghe, người ta cũng cần phải có phương tiện để hiểu.
Tại sao chúng ta phải tu? Nếu không tu thì làm sao chúng ta cảm nghiệm được sự bình yên. Sự đau khổ không thể luôn đồng hành mãi với người tu.
Chính ngũ uẩn là những kẻ sát nhân tội đồ. Khi chúng ta chấp vào thân, thì chúng ta cũng sẽ chấp vào tâm, và ngược lại. Đã đến lúc chúng ta không nên tin vào bản tâm của mình. Hãy sử dụng giới luật như vũ khí để điều phục tâm, nên sống thiểu dục và không ngừng chánh niệm. Khi đó, dù niềm vui hay nỗi khổ có khởi lên trong bạn, bạn sẽ không còn bị ràng buộc bởi nó, và luôn cảm nghiệm rằng mọi trạng thái đều vô thường, không toại nguyện và vô ngã. Phải học cách điều phục để tâm tĩnh lặng. Tĩnh lặng là cội nguồn an lạc chân thực của chư Phật.

Đức Phật phi thời gian

Bản chất của tâm hằng chiếu sáng và không ô nhiễm, như nguồn nước trong và đầy hương vị. Nhưng, nếu nói tâm đã trong sạch thì chúng ta tu để làm gì? Không, chúng ta đừng chấp vào sự trong sạch này. Chúng ta phải vượt lên trên mọi sự đối đãi của nhị nguyên, vượt lên tất cả mọi khái niệm; Tốt cũng như xấu, trong sạch cũng như ô nhiễm, ngã và vô ngã, sinh và tử. Để hiểu được vì sao ngã phải tái sinh là cả vấn đề rắc rối của cuộc đời. Bản chất trong sạch đúng nghĩa là cái vô giới hạn, không thể nắm bắt, vượt lên trên những đối cực và tất cả sự sáng tạo.
Chúng ta an trú (quy y) theo Phật, Pháp, Tăng. Đây cũng là sự kế thừa của mỗi vị Phật khi xuất hiện trên thế gian. Nhưng Phật là ai? Khi chúng ta nhìn sự vật bằng con mắt trí tuệ, thì Phật là cái phi thời gian, bất sinh và không liên quan gì với thân xác, lịch sử và bất cứ hình ảnh nào cả. Phật là nền tảng vốn có của tất cả chúng sinh, là cảm nghiệm về sự thật của bản tâm bất động.
Cho nên, Phật không phải là người đã giác ngộ tại Ấn Độ. Thực ra Phật chưa bao giờ giác ngộ, chưa bao giờ sinh ra và cũng chưa bao giờ mất đi. Đức Phật phi thời gian này là cội nguồn đích thực của mỗi chúng ta, sẵn có trong chúng ta. Khi chúng ta an trú trong Phật, Pháp, Tăng hay mọi cái trong cuộc đời này là chúng ta tự giải phóng cho chính mình. Mọi thứ trên cuộc đời này đều là thầy của chúng ta và cũng chính là bản chất đích thực của cuộc đời.
 
Khánh Yên trích dịch từ A Still Forest Pool (Tâm Tịnh Lặng)-Ajahn Chah 
Compiled & Edited by Jack Kornfield & Paul Breiter.
A Quest original. First Edition 1985. Third Quest Printing 1987. The Theosophical Publishing House.

Theo Thư Viện Hoa Sen
  • Bằng cách dần dần trở nên quen biết với bản tánh này, sẽ có được quán chiếu đích thực, nó đạt đến tột đỉnh với sự có được tự tin. Một khi đã có tự tin này, bạn chỉ đơn giản ở trong trạng thái đó và giữ gìn sự tự tin đó mà không thêm vào bất kỳ tạo tác nào. Bản tánh tối vi tế này không nhiễm ô bởi những lỗi lầm của sanh tử, thế nên chớ trộn lẫn nó với bất kỳ cái gì khác. Chớ cố gắng tìm kiếm cái gì khác để làm ; chỉ đơn giản ở trong sự tự tin đã đạt được. Hãy an trụ thường hằng trong trạng thái này và thỏa mãn với sự nhận biết đó.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.465
  • Không có gì như tình thương của bậc cha mẹ đối với con cái. Khi ta suy xét về lòng tốt mà cha mẹ ta đã biểu lộ với ta thì chúng ta nên suy tưởng rằng tất cả chúng sinh chịu đau khổ trong vòng sinh tử đã có lúc này hay lúc khác từng là những cha mẹ tốt lành và từ ái của chúng ta. Đây quả nhiên là nguyên nhân để sự phát khởi tự nhiên của lòng bi mẫn, là Bồ đề tâm, tràn trề trong chúng ta, Bồ đề tâm dâng tràn đối với tất cả chúng sinh, thậm chí đối với một con côn trùng bé xíu, con muỗi nhỏ bé nhất.Là các Phật tử, những hành giả Dzogchen, các bạn phải từ bỏ mọi hành vi làm hại bởi các bạn phải nhận ra rằng tất cả chúng sinh đã từng là những cha mẹ của các bạn. Nhận thức đó phải hiện diện trong tâm các bạn. Các bạn cần cảm nhận lòng thương yêu hơn nữa đối với chúng sinh đang ở trong tình huống khó khăn và kém may mắn hơn các bạn và nỗ lực trong khả năng tốt nhất của các bạn để làm lợi lạc cho họ.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.261
  • ss

    Đây là một cái nhìn sơ lược tổng quát về Bốn Yoga. Tính chất định nghĩa của yoga thứ nhất, nhất tâm, là nhận biết bản tánh của tâm bạn. Hơn nữa, bạn chứng ngộ rằng những xuất hiện không là gì khác hơn bản tánh của tâm bạn, và bản tánh ấy giống như sự trống không của không gian. Yoga thứ hai thoát khỏi tạo tác ý niệm, gồm nhận biết rằng mọi xuất hiện là giả hợp ; bạn chứng ngộ rằng bản tánh thật sự của tâm là trống không và thoát khỏi mọi tạo tác ý niệm. Thứ ba, trong yoga của một vị, bạn nhận biết rằng sanh tử và niết bàn đồng một bản tánh, nó là chìa khóa để đạt đến giác ngộ. Trong yoga thứ tư, yoga của không-thiền định, bạn nhận biết rằng toàn bộ sanh tử và niết bàn vốn là không sanh, không trụ và không diệt. Nhị nguyên căn bản nhất của chủ thể và đối tượng vốn là không có nền tảng và là một bản tánh, Pháp thân.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.857
  •  

     

    Nói đến tâm này, Padmasambhava nói rằng bản tánh vốn có của nó, tánh giác nội tại, đã hiện hữu từ nguyên thủy, nghĩa là nó không được tạo ra ở một điểm nào đó trong thời gian. Nhưng nó đã không được nhận biết vì vô minh hay không giác của chúng ta trong mọi đời trước. Nó giống như một viên ngọc quý tự tỏa sáng mà trải qua vô số thế kỷ đã bị bọc thêm nhiều lớp tạp chất. Những lớp che chướng này là phiền não chướng và sở tri chướng. Những phiền não chướng chủ yếu là những phiền não tiêu cực và ích kỷ của chúng ta, như giận dữ, tham lam, ghen tỵ, kiêu căng... Những sở tri chướng là những ý niệm tri giác sai và lầm lẫn về thực tại.

    Ngay lúc này, dù cho sự hiện diện sáng rõ hay tánh giác vẫn không ngừng dứt, nhưng chúng ta không trực tiếp gặp nó mặt đối mặt. Và dù sự hiện hữu của nó thì không chỗ nào bị che ám chướng ngại hay đứt đoạn, chúng ta vẫn không nắm hiểu hay nhận ra nó. Ba dòng ở trên của bản văn ám chỉ bản tánh của tâm theo Tinh Túy của nó, đó là tánh Không, Bản Tánh của nó là sự sáng tỏ quang minh, và Năng Lực của nó thì không bị chướng ngại hay đứt đoạn và thấm nhuần khắp.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.118
  • canh-dep-que-lam      Cần phải ngộ mới được! Sau khi ngộ rồi, cần phải gặp thiện tri thức. Nhà ngươi nói: Ngộ rồi là xong, đâu cần gặp thiện tri thức. Nếu ngộ rồi lại gặp thiện tri thức thì đương lúc ra tay làm phương tiện hằn tự có đường xuất thân, chẳng làm mù mắt người học. Còn nếu chỉ ngộ được đầu cây cải khô thì chẳng những làm mù mắt người học mà khi chính mình cử động trước tiên phạm nhằm mũi nhọn bị thương tay.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.156
  •     Có nhiều phương diện của tâm, nhưng có hai phương diện nổi bật hơn cả. Đầu tiên là cái tâm thông thường mà người Tây Tạng gọi là Sem. Một bậc thầy đã định nghĩa: “ Đó là cái tâm có khả năng phân biệt, có ý thức về nhị nguyên( hoặc lấy hoặc bỏ một đối tượng bên ngoài) đó là tâm”. Đó là thứ có thể giao thiệp với một thứ gì khác, bất cứ thứ gì khác, vốn được xem là điều lĩnh hội, khác với năng lực lĩnh hội. Sem là cái tâm suy nghĩ, tâm nhị nguyên, phân biệt, chỉ có thể vận hành tương quan với một điểm quy chiếu ở ngoài, bị nhận lầm và chỉ là một cái bóng được chiếu ra.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 2.003
  • Tám Tỉnh Giác của bậc Đại Nhân
    (Hachidaininkaku) 

     

    Rốt ráo, Phật giáo được cho là thực tiễn, và sự dè dặt truyền thống của nó về triết học là do bởi trong sự kích thích tập luyện trí thức có khuynh hướng quên đi rằng những giáo lý là để áp dụng. Một vị thầy vĩ đại của Phật giáo Trung Hoa đã nêu điều đó trong những lời này : trước hết là hiểu, không có nó hành động sẽ mù lòa ; rồi đến hành động, không có nó hiểu sẽ không có hiệu lực ; cuối cùng hiểu và hành động thành một.  

    “Chớ làm điều xấu, hãy làm điều tốt, hãy làm trong sạch tâm – đây là lời dạy của chư Phật”. Công thức cổ này của Phật giáo tóm tắt thông điệp của ba chương cuối của Chánh Pháp Nhãn Tạng như được trình bày trong cuốn sách này. Chúng cùng làm rõ ba giai đoạn hay ba yếu tố căn bản của Thiền được tìm thấy khắp toàn bộ giáo lý Phật giáo : xa lìa, hòa nhập và sự hòa hợp giữa xa lìa và hòa nhập.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.445
  • say me voi nhung phong canh thien nhien binh yen 4 Say Mê Với Những Phong Cảnh Thiên Nhiên Bình Yên           Phải tọa thiền như thế nào mới đúng? Khi tọa thiền thân thể cần phải thoải mái mới đúng.

              Tọa thiền là đang tu hành “thân là Bồ-đề(1) (khai ngộ)”, cũng là thể chứng Bồ-đề; vì nếu chúng ta thực sự đang Tọa thiền thì sẽ không có phân biệt giữa tu hành và thể chứng. Đó là trí tuệ “Như thị” (as, is), là trí tuệ “sự vật thế nào thì chính là thế ấy”. Tọa thiền là đang tu Phật đạo, cho nên cũng là đang tu sinh mệnh chính mình.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 817
  •  

    Ngồi yên - hay thiền định - chẳng phải là nhất định phải ngồi. Ngồi yên thực sự là chẳng hiện thân ý trong ba cõi, đó là tâm thiền định. Tâm thiền định này là tâm Không, không trụ vào đâu cả và tâm thiền định ấy đạt đến pháp tánh. Tâm thiền định ấy chính là pháp tánh. Theo ngài Duy Ma Cật, thiền định không phải là một hình tướng ngồi hay đứng, mà thiền định là tương ưng với pháp tánh, và pháp tánh này thì không sanh không diệt, không đến không đi, không nằm không ngồi. Pháp tánh này xưa nay thường định. Và thiền định là ngộ nhập pháp tánh ấy, không cứ gì ngồi hay nằm. Thấu đạt pháp tánh tức là ngồi yên, dù thân có đang làm gì.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 801
  •    I. THỰC TẠI THẾ NÀO ?

    Lâu nay bao người cứ bàn về thực tại, nói về thực tại, luận về thực tại và cãi về thực tại rất nhiều, song thế nào là thực? Thực tại có hay không? Ở đâu ? Dường như câu hỏi vẫn còn đang…! Bởi lẽ, thực tại là cái luôn luôn hằng hữu chưa từng thiếu vắng mà luận về nó, bàn về nó thì sao? Có thực tại chưa ?

    Chính đây là điểm lầm lẫn mà người không hay biết. khi chúng ta nói về nó, tức đã gián tiếp với nó rồi. Thí dụ có người hỏi về anh A, ta trả lời: Anh A cao lớn, mắt to, da trắng, tiếng nói sang sảng v.v… thì lúc đó có mặt anh A ở đó chăng? Nếu lúc đó đang có mặt anh A thì ta chỉ cần trỏ ngay anh, bảo: Đây này! là xong, khỏi diễn tả dài dòng.

     

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.000
  •  

          Vấn đề lớn này, Đạo, mọi người đều sở hữu nó từ đầu. Đạo luôn luôn ở cạnh chư vị. Điều khó khăn là từ vô thủy đến giờ Diệu Giác vẫn bị che khuất bởi các hạt giống của tham ái, các dòng tư tưởng, sự lưu xuất của tư lương phân biện, và lề lối suy tưởng tập tục đã ăn sâu. Vì thế chúng ta chưa bao giờ nắm giữ được Chính giác, thay vì thế chỉ lẩn quẩn giữa những chiếc bóng vọng tưởng về tâm, thân và thế gian. Chính vì thế mà trôi lăn mãi trong Luân Hồi. Xưa chư Phật Tổ hiện thân trong thế giới này, sử dụng hàng vạn lời lẽ và nhiều phương pháp dạy, hoặc Giáo hoặc Thiền(1). Tất cả lời dạy của chư Phật Tổ chẳng là gì khác hơn những dụng cụ để đập tan sự “chấp trước” quen thói thâm nhiễm tư tưởng chúng sinh.

     

          

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 958
  • Giải thoát hay Tánh Không thì không chỗ nào không có,nên bất cứ ở đâu chúng ta cũng có thể gặp nó. Tánh không, vô tự tánh của cái tôi và tất cả sự vật thì có thể tìm thấy nơi sự vật cũng như chính nơi tâm thức này. Bởi vì tánh không là bản tánh của sự vật và của tâm thức.

    Trong bài này, chúng ta tìm hiểu và thể nghiệm tánh không nơi tâm thức hiện có của chúng ta, nơi không có tư tưởng và nơi đang có tư tưởng. Tánh không nằm giữa hai tư tưởng thường được nói đến trong hai truyền thống phật giáo Tây Tạng và Trung Hoa, mà Thiền tông , Đại Toàn Thiện (Dzogchen), và Đại Ấn (Mahamudra) là những đại diện tiêu biểu.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 851
  •  

    Hỏi: Nếu nói Phật tánh hiện ở thân này, đã ở trong thân không lìa phàm phu. Cớ sao nay tôi chẳng thấy Phật tánh? Xin giải rõ khiến được khai ngộ.

     

     

    Ðáp: Ở tại thân ông mà tự ông chẳng thấy. Suốt mười hai giờ ông biết đói biết khát, biết lạnh, biết nóng, hoặc vui, hoặc giận,v.v... Trọn là vật gì? Lại sắc thân là địa thủy hỏa phong bốn duyên hội hợp, cái chất của nó là vô tình, đâu hay thấy nghe hiểu biết? Cái thấy nghe hiểu biết nhất định là Phật tánh của ông. Tổ Lâm Tế nói rằng: “Bốn đại chẳng biết nói pháp, chẳng nghe pháp. Hư không chẳng biết nói pháp, chẳng nghe pháp. Chỉ cái rõ ràng riêng sáng ở trước mẳt của ông, cũng chớ phân tích nó, cái ấy mới biết nói pháp và nghe pháp”.
    Ba chữ “Chớ phân tích” là pháp ấn của chư Phật và cũng là tâm bổn lai của ông. Thế thì Phật tánh ở tại thân ông, đâu có nhờ cầu bên ngoài? Ông nếu chẳng tin, tôi sẽ nêu lên nhơn duyên nhập đạo của các bậc thánh xưa, để cho ông trừ hết nghi hoặc. Ông sẽ tin là chơn thật.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 946
  • một số người băn khoăn vì không biết có cần thiết phải có một vị đạo sư tâm linh hay không? Chúng ta có thể tự học đạo được hay không? Để học được những kỹ năng như đọc sách, nghề mộc, giải phẫu hay ngay cả lái một chiếc xe chúng ta cần phải có người dạy. Tự học là một việc khó khăn đôi khi rất nguy hiểm. Thử hình dung ra cảnh chúng ta cố gắng tự học lái một chiếc máy bay! Rõ ràng là có nhiều hiểm họa không lường được. Để học những nghề nghiệp thông thường chúng ta còn phải có thầy dạy đàng hoàng mới nên thì chắc chắn rằng để học đạo chúng ta phải cần sự hướng dẫn của những bậc đạo sư có phẩm hạnh. Chúng ta không thể xem nhẹ và bất cẩn trong những vấn đề tâm linh, những vấn đề cao sâu có ảnh hưởng lâu dài trong đời này và trong những đời sau.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 909

  • Với sự tin hiểu, ở đâu người ta cũng thấy Diệu Pháp Liên Hoa, thời gian nào cũng là sự hiển xuất của Diệu Pháp Liên Hoa. Không gian và thời gian đã ngấm đầy Phật chất để chuyển hóa thành một cách thế biểu hiện của Phật lực, một sự diễn xuất của Phật tánh và do đó không còn ngăn ngại, không còn ta người, không còn đây kia, sống chết, khổ đau…

    Sống trong Pháp Hoa, nói theo kinh Lăng Nghiêm, là chuyển năm ấm, sáu nhập, mười hai xứ, mười tám giới và bảy đại, nghĩa là toàn bộ thế giới, chúng sanh về bản tánh của chúng là Như Lai tạng. Khi người ta lặn đến đáy cùng của tâm thức rồi đi ngược ra trở lại, bấy giờ thế giới và chúng sanh chính là sự “lộn trái” của tâm, là sự bùng vỡ thành muôn ngàn hình tướng của tâm, bởi thế tất cả chỉ là sự ứng hiện của tâm, tất cả chỉ là tâm.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 770
  •   Trong ngoài lặng lẽ chẳng vin đâu   

    Sáng suốt, hồn nhiên khỏi vọng cầu   

    Buông hết một phen đừng luyến tiếc

    Mới hay ngay đó thấy đạo mầu!

                (Viên Minh)

     Ngày nay, nhân loại đã tiến bộ rất xa về mặt khoa học, kỹ thuật, đã làm thay đổi bộ mặt thế giới từng ngày, từng giờ và thậm chí từng phút, từng giây, nên đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội v.v… đều được nâng cao một cách đáng kể.

    Nhờ phương tiện giao thông vận tải, phương tiện truyền thanh, truyền hình, mạng internet, vô tuyến viễn thông mà thế giới đã và đang hội nhập thành một cộng đồng quốc tế với qui mô toàn cầu hóa. Điều này đem đến biết bao phúc lợi xã hội, tiện nghi đời sống đủ để đáp ứng nhu cầu hưởng thụ ngày càng đa diện và phong phú của con người.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 809
  • Mục đích của tham thiền là minh tâm kiến tánh, tức quét trừ tự tâm ô nhiễm, để chân thật thấy rõ bổn lai diện mục của tự tánh. Ô nhiễm tức là vọng tưởng chấp trước. Tự tánh tức là trí huệ đức tướng của Như Lai. Đối với đức tướng trí huệ của Như Lai, Phật và chúng sanh đều đồng có đầy đủ, không hai không khác. Nếu xa rời được vọng tưởng chấp trước thì tự mình sẽ đắc được trí huệ đức tướng của Như Lai, tức là Phật. Ngược lại thì làm chúng sanh. Chỉ vì chúng ta từ vô lượng kiếp cho đến nay, mê mờ lưu lạc trong vòng sanh tử và bị nhiễm ô đã lâu, nên không thể thoát khỏi được vọng tưởng chấp trước mau chóng được. Muốn thấy rõ bổn tánh chân thật, phải nên tham thiền. Vì thế, điều kiện tiên quyết nhất khi tham thiền là phải dẹp trừ vọng tưởng. Làm sao dẹp trừ vọng tưởng ? Phật Thích Ca thuyết pháp rất nhiều, nhưng đơn giản không ngoài chữ "ngưng". "Ngưng tức Bồ Đề".

    Thiền tông do Đạt Ma Tổ Sư từ bên Ấn Độ truyền qua Đông Độ; đến đời Lục Tổ thì gió thiền lan rộng khắp nơi, chấn động chiếu sáng cổ kim. Những điều tối quan trọng mà Đạt Ma Tổ Sư cùng Lục Tổ thường dạy là "dẹp hết muôn duyên, chẳng sanh một niệm".

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 897
  • http://bndosomething.files.wordpress.com/2013/07/page3_1.jpg

    Linh nguyên minh hạo khiết

    Chi phái ám lưu chú

    Chấp sự nguyên thị mê

    Khế lý diệc phi ngộ

    Nguồn linh sáng trong veo

    Chi phái thầm tuôn trào

    Chấp sự vốn mê muội

    Khế lý đã ngộ đâu

    Mạch nguồn là một cái gì đó tuyệt diệu, không thể mô tả bằng lời, không ngôn ngữ nào có thể chạm đến. Điều Đức Phật nói đến là mạch nguồn của giáo lý, siêu việt mọi so sánh xấu tốt. Điều này rất quan trọng. Những gì mà tâm quý vị có thể nắm bắt và hình thành khái niệm đều không phải là mạch nguồn. Mạch nguồn là điều mà chỉ một vị Phật mới biết được.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 938
  •  

    Tâm đến từ tánh Không và tan hòa trở lại vào tánh Không, giống như nước đông lại thành băng và lại tan chảy ra.  

    Tượng Đức Milarepa trong Tu viện Drirapuk, Núi Kailash, Tây Tạng 

    Vào mùa thu Milarepa đi tới một địa điểm được gọi là Gepa Lesum, nơi người dân đang thu hoạch mùa màng. Ngài đang khất thực thì một thiếu nữ tên là Nyama Paldarbum nói: “Ông đi tới căn nhà ở đằng kia, con sẽ gặp ông và tặng ông thực phẩm.”  

    Milarepa tới trước căn nhà và dùng gậy gõ nhẹ vào cửa. Không có tiếng trả lời. Ngài gõ lại lần nữa, một bà lão bước ra và nói: “Những người được gọi là hành giả như các ông xin ăn rất nhiều và khi không có người ở nhà thì các ông xông vào và trộm cắp, đó chính là những gì ông đang dự định làm!”

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 996
  •  

    VÔ NIỆM CỦA LỤC TỔ HUỆ NĂNG
    Nguyễn Thế Đăng

     

    1. Tâm vô niệm

    Luận Đại thừa Khởi tín của ngài Mã Minh nói:

    “Thể của tâm lìa tất cả niệm, nghĩa là vốn vô niệm. Nó như hư không, không chỗ nào mà chẳng toàn khắp. Pháp giới Một tướng này tức là Pháp thân bình đẳng của chư Như Lai. Pháp thân này tất cả chúng sanh vốn có, nên gọi là Bản giác”.

    Luận nói tiếp:

    “Thế nên chúng sanh nào quán sát vô niệm thì chúng sanh đó đã hướng về Trí Phật”.

    Kinh Thắng Man, chương Tự tánh Thanh tịnh nói: “Như Lai tạng không có sanh không có tử. Như Lai tạng không có tướng hữu vi. Như Lai tạng thường trụ bất biến… Như Lai tạng là pháp giới tạng, là pháp thân tạng, là xuất thế gian thượng thượng tạng, là tự tánh thanh tịnh tạng. Như Lai tạng tự tánh vốn thanh tịnh, vọng tưởng phiền não chẳng thể nhiễm ô vì chúng chẳng thể xúc chạm”.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.219

Top Bài Viết

Top Music

Top Book Mp3

Top Music Album

 
© Copyright 2013 - 2019 PHATAM.ORG - Chịu trách nhiệm nội dung: Thị Đức bienman0811@yahoo.com - Hỗ trợ kỹ thuật votamthoai@gmail.com