Tánh thấy - Nguyễn Thế Đăng

1.Tánh thấy là gì?

Ba thời kỳ thuyết pháp của Đức Phật để thiết lập nên Phật giáo là:

      *   Thời kỳ thứ nhất nói về ba pháp ấn vô thường, khổ, vô ngã. Chứng được sự thật này thì phiền não sanh tử tiêu tan và “trực tiếp thấy biết Niết-bàn vô tạo tác”.

 

      *   Thời kỳ thứ hai nói về tánh Không, tức là sự vô tự tánh của ngã và pháp. Trực tiếp thấy biết tánh Không này, thì tánh Không chính là Niết-bàn vốn không sanh không diệt.

 

      *  Thời kỳ thứ ba nói về Như Lai tạng, Phật tánh, tánh giác, bản tánh của tâm…Bản tánh của tâm này là Niết-bàn, và do đó mọi biểu lộ của tâm này là Niết-bàn.

 

Nếu dùng từ tướng để chỉ các cái thấy được, nghe được…và tánh để chỉ bản chất, bản tánh của mọi sự, thì thời kỳ thứ nhất chủ yếu làm việc trên các tướng, thời kỳ thứ hai chủ yếu quán sát bản tánh của mọi sự, tức là tánh Không, và thời kỳ thứ ba đi hẳn vào bản tánh Chân Như của mọi sự.

 

Trong các kinh, tánh thấy được nói nhiều ở kinh Lăng Nghiêm và hầu như chỉ có kinh này đề cập trực tiếp đến tánh thấy. Kinh đã dành hẳn hai trong mười quyển để nói về tánh thấy.

 

Vậy thì tánh thấy ở vào thời kỳ thuyết pháp thứ ba. Nghĩa là tánh thấy là Phật tánh thấy, cái thấy của Phật tánh. Tánh thấy là cái thấy của Phật. Kinh Pháp Hoa khai thị Tri kiến Phật mà mỗi chúng sanh đều sẵn có, tri kiến Phật là cái thấy biết của Phật, cũng tức là tánh thấy được giảng ở Kinh Lăng Nghiêm. Kinh Kim Cương nói: “Thấy các tướng chẳng phải tướng tức là thấy Như Lai.” Cái thấy Như Lai này là tánh thấy được nói ở Kinh Lăng Nghiêm. Trong Kinh Duy Ma Cật có phẩm Thấy Phật Bất Động. Trong từ ‘thiền quán’, vipassana có từ gốc là “thấy”, do đó thường được dịch là “insight”.

 

Như vậy, tánh thấy là gì? Tánh thấy là Phật tánh hay tánh giác biểu lộ ở cái thấy. Cái thấy này là do duyên sanh, do căn trần thức mà có. Tánh thấy là nền tảng, môi trường, không gian cho sự duyên hợp của căn trần thức tạo thành cái thấy.

 

Kinh Lăng Nghiêm nói: “A-nan, ông trôi chìm, không ngộ cái thấy, nghe, hay, biết của ông vốn là Như Lai tạng…. Ông nào có biết, trong Như Lai tạng cái thấy là tánh minh giác, tánh minh giác hiển lộ ra thành cái thấy, thanh tịnh bản nhiên, toàn khắp pháp giới, tùy theo tâm chúng sanh mà ứng với lượng hay biết.

 

Như một căn thấy, thấy khắp pháp giới, thì cái biết nghe, biết ngửi, biết vị, biết xúc chạm, biết các pháp đều là cái diệu đức sáng rỡ toàn khắp pháp giới, tròn đầy cả mười phương hư không, nào có riêng nơi chốn. Chỉ tùy nghiệp mà hiện bày, thế gian không biết, lầm cho là tánh nhân duyên hay tánh tự nhiên. Hết thảy chỉ là sự phân biệt đo lường của thức tâm, chỉ có trong danh tự lời nói, đều không có thật nghĩa”.

 

Phật tánh, hay Như Lai tạng, hay tánh giác biểu lộ nơi các giác quan. Tuy phân làm sáu cái dụng ở sáu giác quan, nhưng chỉ có một tánh giác:

Sáu căn cũng như thế

Nguyên y một tinh minh

Phân thành sáu hoà hợp

Một cửa đã về nghỉ

Sáu dụng đều chẳng thành

Trần cấu duyên niệm tiêu

Thành Viên Minh Tịnh Diệu

Còn trần là Hữu học

Sáng tột tức Như Lai.

 

Nền tảng của sáu căn, Chân Như Phật tánh, nằm ngay nơi sáu căn, sáu căn là sự biểu lộ của nó, là diệu dụng của nó. Thực tại tối hậu bị tưởng lầm là cái xa cách nhất, nhưng thật ra là cái gần gũi nhất. Từ “đốn” và “viên” ở trong các tông phái Phật giáo Đại thừa cho chúng ta thấy điều này.

 

Khi về nguồn, để thấy nền tảng hay nguồn gốc của căn, trần, thức là Chân Như, thì căn, trần, thức chính là Chân Như, như kinh đã nói ở trên, “cái thấy, nghe, hay biết của ông vốn là Như Lai tạng”.

 

Khi ấy các căn không còn là cái gây ra phiền não, sanh tử, mà các căn vốn là giải thoát như nguồn gốc Như Lai tạng của chúng vốn là giải thoát:

Xoay nghe thoát khỏi tiếng

Giải thoát đâu có danh

Một căn đã về nguồn

Sáu căn thành giải thoát.

 

2.Vọng thấy

Tánh thấy là tánh giác biểu lộ nơi sự thấy. Tánh giác thì vốn sẵn, thanh tịnh xưa nay thế nên tánh thấy cũng vốn sẵn, thanh tịnh xưa nay. Thế thì tại sao lại có ra cái thấy phiền não, sanh tử khổ đau?

 

Cái thấy của chúng ta đã bị nhiễm ô bởi tham, sân, si, kiêu căng, đố kỵ… để thành ra các tướng sai biệt đến độ tranh chấp nhau không thể hoà giải. Đó là cái thấy sai lầm. Kinh Kim Cương nói: “Phàm hễ có tướng đều là hư vọng.” Kinh Lăng Nghiêm gọi là “vọng thấy”.

 

“A-nan, tất cả chúng sanh luân hồi sanh tử đều do hai cái vọng thấy điên đảo phân biệt. Ngay nơi bản tánh của tâm mà phát sanh, bèn theo nghiệp mà xoay vần. Một là cái vọng thấy biệt nghiệp của chúng sanh. Hai là cái vọng thấy đồng phận của chúng sanh”.

 

Cái vọng thấy biệt nghiệp là như người mắt bị nhặm, nhìn ngọn đèn thấy có bóng sáng tròn năm màu bao phủ, nhìn mặt trăng thấy có mặt trăng thứ hai. Đây là cái vọng thấy do phiền não riêng biệt, thương ghét, lấy bỏ của cá nhân mà có. Còn vọng thấy đồng phận là cái nghiệp chung của mỗi loài. Cũng một dòng sông mà con người thấy khác, con châu chấu thấy khác, con cá thấy khác, con chim thấy khác….

 

Nhưng những cái vọng thấy thì không thể nhiễm ô, làm hư hoại tánh thấy. Kinh nói:

“Những sự thấy, biết đều là bệnh nhặm, còn tánh giác vốn sẵn sáng ngời thấu suốt các duyên thì không hề có bệnh nhặm. Cái biết và cái được biết là bệnh nhặm, còn tánh giác vốn sẵn thì không ở trong bệnh nhặm. Đó là cái thấy hằng thấy, làm sao có thể đồng hoá với cái thấy nghe hay biết của thế gian?

 

Vậy nên, nay ông nhìn thấy ta, nhìn thấy ông cùng mười loại chúng sanh trong thế gian đều là cái thấy của bệnh nhặm, mà chẳng phải là tánh thấy thấy được bệnh nhặm. Tánh thấy chân thật kia vốn chẳng hề nhặm, cho nên cũng không gọi là thấy nữa”.

 

Lìa được bệnh nhặm vọng thấy điên đảo phân biệt này thì thấy thực tại tối hậu, thấy Phật: “Thấy các tướng chẳng phải tướng tức là thấy Như Lai.” (Kinh Kim Cương).

 

Một thí dụ kinh luận thường dùng là tấm gương. Tấm gương sáng giống như tánh thấy không bị ô nhiễm bởi các bóng vì các bóng chẳng thể nào in dính vào gương. Còn các bóng là do cái thấy đồng phận và biệt nghiệp. Phân biệt chấp chặt vào các bóng trong gương thì chỉ thấy bóng không thấy gương. Còn khi không trụ vào các bóng thì thấy được tấm gương. Khi ấy dù bóng có đến có đi, có xanh có đỏ… cũng chẳng dính dáng gì đến gương. Khi là tấm gương thì các bóng tự giải thoát chính chúng.

 

Khi thấy mà không “điên đảo phân biệt” thì cái thấy ấy chính là tánh thấy. Khi thấy các bóng đều đồng một tánh gương thì tất cả bóng là gương mà một bóng cũng là gương.

 

Căn bệnh vọng thấy không nằm ở tánh thấy vì tánh thấy vốn thanh tịnh không ô nhiễm từ xưa đến nay. Cũng không nằm ở tướng bóng đèn hay tướng mặt trăng. Thấy có bóng đèn thứ hai, mặt trăng thứ hai là do người bệnh mắt vọng thấy. Bệnh ấy chính là sự bám luyến vào các tướng mà có. Đại thành tựu giả Tilopa nói: “Không phải các tướng trói buộc con, mà chính là sự bám luyến vào các tướng trói buộc con”.

 

Thiền sư Lâm Tế nói: “Một tâm không sanh thì muôn pháp không lỗi”. Gương sáng vốn không có bệnh; các tướng ở trong đó cũng không có bệnh, cái bệnh là do “điên đảo phân biệt”.

 

Trở về nguồn của cái thấy thì trong tánh thấy không có sự phân biệt chủ và khách, đến và đi, tăng và giảm…Trong ấy không những không có điên đảo phân biệt mà các tướng cũng tự giải thoát vì duyên sanh vô tự tánh.

 

3.Trực tiếp với tánh thấy

Trong kinh Lăng Nghiêm, chỉ riêng phần khai thị tánh thấy một cách trực tiếp cho ngài A-nan đã chiếm một phần năm bộ kinh. Ở những kinh khác như Viên Giác, Kim Cương, Pháp Hoa, Duy Ma Cật… tuy không dùng từ tánh thấy, nhưng sự khai thị trực tiếp cái thấy thực tại cũng rất nhiều, bởi vì Đại thừa là sự khai thị ngộ nhập tánh giác bổn nguyên hay tánh thấy vốn sẵn này. Ở đây chúng ta trích ra từ vài vị Thiền sư. Khai thị của các vị là những chỉ thẳng, để khi thấy được thì y vào thực tại ấy mà sống bằng toàn bộ thân tâm cho đến lúc trọn vẹn.

 

Lục tổ Huệ Năng nói: “Đại chúng! Người đời sắc thân là thành, mắt tai mũi lưỡi là cửa. Ngoài có năm cửa, trong có cửa ý. Tâm là cõi đất, tánh là vua. Vua ở trên cõi đất tâm… Trên cõi đất tâm là tánh giác Như Lai, phóng ánh sáng lớn, ngoài soi sáu cửa thanh tịnh, phá sạch các cõi trời Lục dục. Tự tánh chiếu bên trong, ba độc liền trừ, các tội địa ngục liền đều tiêu diệt. Trong ngoài sáng rỡ thấu suốt không khác cõi Tây phương” (Phẩm Quyết Nghi).

 

Chúng ta cần chú ý đến chữ “người đời”. Người đời ai cũng có tánh giác Như Lai, chỉ vì ý khởi lên phân biệt làm che mờ ánh sáng tự tâm, cái thấy trở thành méo mó mà thành ra cái thấy sanh tử. Cho nên khi thấy mà không có phân biệt thì đây là tánh thấy. Khi gương sáng không có thương ghét, lấy bỏ theo bóng thì gương vẫn là gương sáng xưa nay.

 

Tông phong của Thiền Sư Bá Trượng nói:

Linh quang độc chiếu

Thấu thoát căn trần

Hiển lộ chân thường

Chẳng vướng văn tự.

Tâm tánh không nhiễm

Vốn tự viên thành

Chỉ lìa vọng duyên

Tức Như Như Phật.

 

Thiền Sư Trường Sa nói: “Nếu ta cứ một mực nêu cao tông giáo thì trong pháp đường cỏ sẽ lên cao cả thước! Cực chẳng đã mà nói với các ông: Cùng khắp mười phương thế giới là con mắt của Sa-môn! Cùng khắp mười phương thế giới là toàn thân của Sa-môn! Cùng khắp mười phương thế giới là ánh sáng của Chính Mình! Cùng khắp mười phương thế giới không ai chẳng phải là Chính Mình.

Ta thường nói với các ông: Ba đời chư Phật, pháp giới chúng sanh là cái ánh sáng của Ma-ha Bát-nhã”.

 

Các Thiền Sư thường nói đến “một con mắt đơn nhất” (nhất chích nhãn): “Toàn thể pháp giới là một con mắt đơn nhất của Sa-môn”.

 

Thiền sư Bá Trượng nói: “Ngoài tâm không pháp, ngập mắt núi xanh”.

 

Tánh thấy được Thiền sư Triệu Châu nói trực tiếp và giản dị: “Có vị tăng hỏi: ‘Thế nào là ý chỉ của Tổ Đạt-ma từ Tây sang?’.

Sư đáp: ‘Cây bách trước sân’.”

 

Với Thiền sư Thạch Đầu thì:

“Có sư Ngũ Duệ Linh Mặc từ xa đến ra mắt ngài Thạch Đầu, rồi hỏi: ‘Một lời hợp nhau thì ở, chẳng hợp nhau thì đi’.

Sư Thạch Đầu vẫn ngồi, sư Duệ bèn đi.

Sư Thạch Đầu gọi: Xà-lê!

Sư Duệ xoay đầu lại.

Sư Thạch Đầu nói: ‘Từ sanh đến tử, chỉ là Cái Ấy, xoay đầu chuyển não làm gì!’

Sư Duệ ngay dưới câu nói đại ngộ, bèn bẻ ném cây trụ trượng mà ở lại”.

 

Câu chuyện của Thiền sư Mục Châu:

“Có vị quan hỏi ngài Mục Châu: ‘Ba cửa đều mở, theo cửa nào nhập?’.

Sư gọi lớn: ‘Thượng thơ!’.

Quan cất tiếng: ‘Dạ’.

Sư nói: ‘Theo cửa tin mà vào’.

Vị quan thấy có bức hoạ trên vách, hỏi rằng: ‘Hai vị tôn giả đối mặt nhau bàn luận chuyện gì?’.

Thiền sư Mục Châu đánh cây trụ, nói: ‘Trong Ba Thân, Thân nào chẳng nói pháp!’”.

 

(Văn Hóa Phật Giáo 205)

 

 

  • "Tibetan Meditation Instructions" là một bản văn cô đọng về Thiền Tây Tạng do Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đời 14 viết cho ấn bản điện tử của Tricycle, một tạp chí Phật Giáo tại Hoa Kỳ. Nơi đây, ngài nói về pháp thiền này là hãy để tâm vào trạng thái tự nhiên, và hãy quán sát tâm này - mà tâm là một thực thể, theo ngài, có tánh sáng và tánh biết, nơi đó bất kỳ những pháp gì, hiện tượng gì, sự kiện gì trong thế giới xuất hiện với chúng ta cũng đều qua nhận biết của thức. Khi ngồi, tóm gọn, chỉ để tâm thả lỏng tự nhiên và nhìn vào tâm này, dần dần sẽ thấy bản tánh của tâm.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 2.677
  • Mệnh vận của con người là do nghiệp lực chiêu cảm mà ra. Chúng ta không nên để bẩm chất, thói quen dắt dẫn mình, cũng đừng để dục vọng, vật chất làm mê mờ. Mình cần phải sáng tạo vận mệnh, lèo lái vận mạng. Muốn sửa đổi vận mạng thì phải làm cho nhiều việc công đức. Lúc ấy, khi bạn gặp nạn tự nhiên điều lành sẽ tới. Ðiều dữ sẽ biến thành điều kiết tường. Rằng: Hãy làm việc tốt, chớ hỏi sẽ được kết quả gì trong tương lai.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 2.109
  • Giới luật của Phật giáo có nghĩa là: “Anh đừng tự làm thương tổn mình, anh đừng tự làm hại mình”.

    1. Tự do của lệ thuộc và tự do của hỗn loạn

    Trong những tôn giáo độc thần, giới luật là những định luật vật lý và tâm lý được một Thượng Đế độc thần gài vào trong khi sáng tạo vũ trụ. Và vị Thượng Đế độc thần ấy ra lệnh cho con người – cũng do ngài tạo ra – phải tuân thủ những giới luật ấy, nếu không, trong ngày cánh chung hay tận thế, cũng chính vị ấy sẽ xét xử những ai phạm tội bất tuân những điều luật do vị ấy đặt ra và quẳng họ vào địa ngục đời đời.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.566
  • Bằng cách dần dần trở nên quen biết với bản tánh này, sẽ có được quán chiếu đích thực, nó đạt đến tột đỉnh với sự có được tự tin. Một khi đã có tự tin này, bạn chỉ đơn giản ở trong trạng thái đó và giữ gìn sự tự tin đó mà không thêm vào bất kỳ tạo tác nào. Bản tánh tối vi tế này không nhiễm ô bởi những lỗi lầm của sanh tử, thế nên chớ trộn lẫn nó với bất kỳ cái gì khác. Chớ cố gắng tìm kiếm cái gì khác để làm ; chỉ đơn giản ở trong sự tự tin đã đạt được. Hãy an trụ thường hằng trong trạng thái này và thỏa mãn với sự nhận biết đó.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.468
  • Ta cần phải thực tập cả hai phương cách, Thanh tịnh và Tỉnh giác, để đạt được những kết quả mà Thiền sẽ mang đến cho ta. Phần đông chúng ta đều muốn được an lạc. Ai cũng muốn được bình yên, muốn được có cảm giác vui sướng, mãn nguyện. Trong Thiền định, nếu ta thoáng bắt được cảm giác an lạc đó, ta sẽ hạnh phúc biết bao. Nhiều người đã thỏa mãn khi đạt được đến trình độ đó. Nhưng thanh tịnh không phải là mục đích của Thiền. Đó chỉ là phương tiện đưa đến cứu cánh. Thanh tịnh là phương tiện. Sự tỉnh giác trong nội tâm mới là cứu cánh. Phương tiện rất cần thiết nhưng không thể lầm lẫn chúng với cứu cánh. Nhưng vì phương tiện đó tạo ra sự thoải mái, dễ chịu, ta trở nên bám víu vào chúng.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.749
  •  bất cứ một trường học nào của các quốc gia trên thế giới cũng đều có dạy môn nầy. Ngày xưa tại Việt Nam ở bậc tiểu học có dạy môn: Công Dân Giáo Dục hay Đức Dục. Cứ mỗi sáng Thầy Cô giáo trước khi dò bài học sinh đều viết lên bảng đen một câu cách ngôn hay tục ngữ.

    Ví dụ:
    - Tiên học lễ, hậu học văn

    - Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây

    - Nhơn bất học bất tri lý, ngọc bất trác bất thành khí, ấu bất học lão hà vi?

    - Bầu ơi thương lấy bí cùng,
      Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn v.v...

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 2.089
  • Chúng ta sống nơi này, phút giây này nhưng vẫn ‘ly dị’ với nơi này phút giây này; tâm cứ nghĩ đến nơi khác, phút giây khác, một đời sống không thực vì đã qua hoặc chưa tới.

    Chỉ nói riêng ở Nhật Bản, trà đạo hay trà thiền là do Thiền sư Vinh Tây (1141-1215) chế tác ra, sau khi “du học” ở Trung Hoa và đem hạt giống về trồng. 

    Biến việc uống trà thành nghệ thuật, biến khu vườn thành tác phẩm nghệ thuật, biến thi ca, hội họa, bắn cung, võ thuật, múa, cắm hoa…thành nghệ thuật đã trở thành một lối sống kể từ khi Thiền trở thành một sức sống văn hóa để kết hợp với văn hóa của từng nước vùng Đông Á. Do đó mà có trà đạo, hoa đạo, võ đạo…

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.492
  • Các thói quen có hại và hành xử bất cẩn là nguyên nhân dẫn đến đau khổ. Nếu nỗ lực sống trọn vẹn, ta sẽ không bị rơi vào bẫy của những thói quen..Khi con ong đậu trên một bông hoa để hút mật nghĩa là nó đã bị hương hoa thu hút. Không nhận ra là màn đêm đang buông xuống, con ong bị mắc kẹt khi những cánh hoa từ từ khép lại. Là con người, ta cần sử dụng trí tuệ và mài giũa nhận thức của mình để các thói quen không trói buộc và cướp đi tự do của ta.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.456
  • Shri_SinghaĐại Toàn Thiện là nền tảng tối thượng chung của Sinh tử và Niết bàn - Hư không căn bản tối thượng . Trong đó có ba cách thái : Sinh tử , Niết bàn, và Con đường đều toàn thiện và viên mãn . Hiểu được bản tánh này như nó thực sự là . . . Đây là cái thấy ( Tri kiến hay Kiến giải ) . Đạt được sự thông thạo trong nền tảng vô thượng bổn nguyên nguyên sơ và không có thời gian . Bằng sự tự giác và mở rộng trong thực trạng hiện tiền của chính mình là : Thiền định tự do thoát khỏi mọi khuôn khổ quy chiếu cố định .

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.207
  • Theo lối giải thích của Phật giáo,tâm thức được cho là không hề bị trở ngại và cũng không có tính cách vật chất.Tất cả mọi tình tự cảm giác,mọi phiền não,mọi lỗi lầm của con người đều khởi nguồn từ những hành vi của tâm thức.Tuy nhiên,cũng vì bản chất cố hữu của tâm thức này mà con người có thể loại trừ tất cả những sai quấy và phiền  não ấy hầu mang lại một nền hòa bình vĩnh cửu và niềm an lạc thường hằng.Bởi vì ý thức là nền tảng của mọi hiện hữu và của sự giác ngộ nên còn có rất nhiều bài khảo thuyết uyên áo bàn luận về vấn đề này.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.217
  • 10 Thắng cảnh đẹp nhất Việt Nam trong mắt du khách quốc tế. 11Nói đến Phật giáo là nói đến giải thoát, và giải thoát là giải thoát cái gì? Như thế nào là giải thoát? Trong phạm vi bài viết này, chúng ta hãy lượt qua cái thấy giải thoát của Phật và các vị Tổ. Và chúng ta xem chúng ta tu như thế nào mới thật sự chạm tới giải thoát?

     

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.268
  • Không có gì như tình thương của bậc cha mẹ đối với con cái. Khi ta suy xét về lòng tốt mà cha mẹ ta đã biểu lộ với ta thì chúng ta nên suy tưởng rằng tất cả chúng sinh chịu đau khổ trong vòng sinh tử đã có lúc này hay lúc khác từng là những cha mẹ tốt lành và từ ái của chúng ta. Đây quả nhiên là nguyên nhân để sự phát khởi tự nhiên của lòng bi mẫn, là Bồ đề tâm, tràn trề trong chúng ta, Bồ đề tâm dâng tràn đối với tất cả chúng sinh, thậm chí đối với một con côn trùng bé xíu, con muỗi nhỏ bé nhất.Là các Phật tử, những hành giả Dzogchen, các bạn phải từ bỏ mọi hành vi làm hại bởi các bạn phải nhận ra rằng tất cả chúng sinh đã từng là những cha mẹ của các bạn. Nhận thức đó phải hiện diện trong tâm các bạn. Các bạn cần cảm nhận lòng thương yêu hơn nữa đối với chúng sinh đang ở trong tình huống khó khăn và kém may mắn hơn các bạn và nỗ lực trong khả năng tốt nhất của các bạn để làm lợi lạc cho họ.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.263
  • Có lần bật tivi: hình ảnh sông nước trời mây miền Tây thu hút mắt tôi, và có hai người nhạc sĩ, một thổi kèn saxo, một chơi guitare, đang trình diễn một bài nhạc về quê hương. Coi ít phút cảnh sông nước bao la, tôi đứng dậy, định tắt, vì hai chàng nhạc sĩ đã đứng tuổi, vóc dáng chẳng hấp dẫn gì cho lắm, mặc dù có khi người thổi kèn đứng hẳn trong nước. Ngay lúc đó, tôi thấy mình không trân trọng công sức của những người tạo ra chương trình này. Rồi tôi tiếp tục xem thêm một bài nữa mới tắt.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.235
  • Có một số câu hỏi đã được nêu lên để hỏi Đức Phật, nhưng Ngài không trả lời vì đó là những câu hỏi đặt sai và vô ích. Bám víu vào những câu hỏi ấy bằng những biện luận thuần lý sẽ rơi vào cạm bẫy của sự hiểu biết quy ước, công thức và nhị nguyên. Cạm bẫy ấy sẽ đưa đến tranh luận vô tận và thắc mắc tiếp nối nhau, đánh lạc hướng sự tu tập. Nhiều vị thầy sống đồng thời với Đức Phật, tức là vào thế kỷ thứ VI trước Tây lịch, đã từng chủ xướng nhiều chủ thuyết trong lãnh vực triết học siêu hình. Nhưng Đức Phật đã che chở cho các đệ tử của Ngài tránh khỏi những cạm bẫy ấy, không phải bằng cách cấm đoán, bằng biện luận hay giải thích, nhưng bằng sự yên lặng. Có tất cả 14 câu hỏi đại loại như sau mà Phật không giải đáp.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.541
  •  

     Vì hay đồng hóa bản thân với đủ mọi cảm xúc, tư tưởng, thiên kiến và định kiến nên chúng ta không còn chỗ cho chính mình để có thể nhìn mọi thứ một cách chân xác trong mọi hoàn cảnh. Đắm chìm trong "vũng lầy" vô minh ấy, ta thường có những lựa chọn sai lầm trong hầu hết mọi tình huống. Giống như bị quăng quật, quay cuồng giữa cơn bão biển, cuộc sống cũng tương tự vậy, chúng ta phải học cách giữ định tâm giữa những bão tố của đời thường. Cách tốt nhất là tỉnh thức và rộng mở tâm hồn đón nhận khoảnh khắc hiện tại. Như vậy được gọi là chính niệm. Bậc Đại thành tựu giả Milarepa từng nói rằng càng trải qua bão tố thăng trầm của hạnh phúc và khổ đau, càng có cơ hội tu tập và thành tựu giác ngộ trong cuộc đời.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.599
  • Hạnh phúc chân thật trong cuộc sống bắt đầu có được khi bạn bắt đầu thương yêu chăm sóc mọi người.

    http://2.bp.blogspot.com/-4wXY-CC0Y68/UfE1bAMhdII/AAAAAAAAUF8/bx5XJH-IjLU/s1600/lamazopa.jpgTƯ TƯỞNG BỒ ĐỀ TÂM thật vĩ đại không gì so sánh nổi. Bồ Đề Tâm làm nên mọi sự và khiến cho mọi người ưa thích, hài lòng. Bồ đề tâm đích thực là điều mà ta quan tâm trong cuộc sống này. Ngoài ra, bất cứ cái gì khác đều vô nghĩa, trống rỗng, vô ích.Hạnh phúc chân thật và sự mãn nguyện chân thật sẽ xuất hiện khi bạn bắt đầu sống một cuộc sống vì người khác. Bạn nhập thất ẩn tu vì người, làm việc ở cơ quan cho người, nấu ăn cho người. Khi thái độ của bạn thay đổi nhằm để làm mọi việc, vì người khác, giúp dẹp bỏ khổ đau và tích luỹ hạnh phúc cho họ, lúc đó bạn sẽ có được sự mãn nguyện và bình an chân thật trong tâm.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.089
  • ss

    Đây là một cái nhìn sơ lược tổng quát về Bốn Yoga. Tính chất định nghĩa của yoga thứ nhất, nhất tâm, là nhận biết bản tánh của tâm bạn. Hơn nữa, bạn chứng ngộ rằng những xuất hiện không là gì khác hơn bản tánh của tâm bạn, và bản tánh ấy giống như sự trống không của không gian. Yoga thứ hai thoát khỏi tạo tác ý niệm, gồm nhận biết rằng mọi xuất hiện là giả hợp ; bạn chứng ngộ rằng bản tánh thật sự của tâm là trống không và thoát khỏi mọi tạo tác ý niệm. Thứ ba, trong yoga của một vị, bạn nhận biết rằng sanh tử và niết bàn đồng một bản tánh, nó là chìa khóa để đạt đến giác ngộ. Trong yoga thứ tư, yoga của không-thiền định, bạn nhận biết rằng toàn bộ sanh tử và niết bàn vốn là không sanh, không trụ và không diệt. Nhị nguyên căn bản nhất của chủ thể và đối tượng vốn là không có nền tảng và là một bản tánh, Pháp thân.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.862
    1. Khi vị tăng Trí Thông hỏi về Bốn Trí, Lục tổ nói bài kệ:

    Đại viên cảnh trí: tánh thanh tịnh
    Bình đẳng tánh trí: tâm không bệnh
    Diệu quan sát trí: thấy chẳng công
    Thành sở tác trí: đồng viên cảnh
    Năm, tám, sáu, bảy quả nhân chuyển
    Chỉ dùng danh ngôn không thật tánh
    Nếu nơi chỗ chuyển chẳng lưu tình
    Rộn ràng vẫn mãi Na-già định.

    “Đại viên cảnh trí: tánh thanh tịnh”. Đại viên cảnh trí là trí như tấm gương lớn tròn sáng. Đây là bản tâm Phật tánh, hay nói theo Lục tổ, là tự tánh mà mỗi chúng sanh đều có. Ở chúng sanh, tấm gương tâm ấy bị nhiễm ô, chứa tất cả những kinh nghiệm của chúng sanh, như gương chứa tất cả hình bóng, và những hình bóng ấy che khuất tấm gương. Còn ở người giải thoát thì vẫn là tấm gương ấy nhưng chẳng bị các bóng làm nhiễm ô, các bóng chẳng “lưu tình”, nên gương vẫn hằng sáng, hằng “vẫn mãi Na-già định”.


    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 2.036
  • Nói chung, mọi hiện tượng do duyên đều vô thường và đặc biệt đời sống của chúng sanh hữu tình thì vô thường như bọt nước. Con không bao giờ biết khi nào con sẽ chết. Không chắc chắn con sẽ không chết ngay bây giờ. Hơn nữa, vào lúc chết không có gì cứu giúp con được ngoại trừ Pháp. Nếu con làm việc cho những việc vô nghĩa của thế gian, con sẽ không thể vượt khỏi những nguyên nhân tạo ra khổ đau. Thế nên con hãy phát nguyện rằng bất cứ khi nào tâm con lang thang dù chỉ một khoảnh khắc theo những tư tưởng về thức ăn, y phục v.v... cho cuộc đời này, thì con sẽ nghĩ về cái chết.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 2.728
  •  Chúng ta thường nghe những câu nói như : “Chết là lúc nói sự thật” , hay “Chết là thời điểm ta đối mặt với chính ta”. Như ta đã thấy những người qua kinh nghiệm cận tử đôi khi kể lại rằng họ chứng kiến cả cuộc đời họ quay lại trước mắt, và họ được hỏi những câu như : “Ngươi đã làm gì với cuộc đời ngươi ? Ngươi đã làm gì cho người khác ?” . Tất cả những chuyện này ám chỉ một điều duy nhất rằng : khi chết, ta không thể tránh thoát đối diện với sự thật ta là ai, ta là gì ? Dù ta muốn hay không, bản chất thực của ta cũng hiển lộ. Nhưng điều quan trọng cần biết là có hai khía cạnh con người của ta hiển lộ vào lúc chết : bản chất tuyệt đối của ta và bản chất tương đối - ta hiện tại như thế nào, và đã như thế nào, trong cuộc đời.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.180

Top Bài Viết

Top Music

Top Book Mp3

Top Music Album

 
© Copyright 2013 - 2019 PHATAM.ORG - Chịu trách nhiệm nội dung: Thị Đức bienman0811@yahoo.com - Hỗ trợ kỹ thuật votamthoai@gmail.com