PHẬT LUÔN Ở ĐÂY - SHUNRYU SUZUKI | VIÊN CHIẾU

 Linh nguyên minh hạo khiết - Nguồn linh sáng trong veo. Mạch nguồn là một cái gì đó tuyệt diệu, không thể mô tả bằng lời, không ngôn ngữ nào có thể chạm đến. Điều Đức Phật nói đến là mạch nguồn của giáo lý, siêu việt mọi so sánh xấu tốt. Điều này rất quan trọng. Những gì mà tâm quý vị có thể nắm bắt và hình thành khái niệm đều không phải là mạch nguồn. Mạch nguồn là điều mà chỉ một vị Phật mới biết được. Chỉ khi toạ thiền quý vị mới có nó. Dù vậy, quý vị tu tập hay không tu tập, quý vị liễu ngộ hay không liễu ngộ, có cái gì đó vẫn luôn tồn tại, trước cả khi ta nhận ra nó, đó chính là mạch nguồn. Đó không phải là những gì quý vị có thể nếm. Mạch nguồn đích thực không đậm đà hương vị mà cũng không vô vị.

Câu cuối cùng trong đoạn này ngài Thạch Đầu nói:

Khế lý diệc phi ngộ

Khế lý đã ngộ đâu

Thế thì liễu ngộ chân lý cũng không phải là ngộ đạo. Thường thì chúng ta cảm giác rằng chân lý là điều mà chúng ta nên nhận thấy hoặc luận ra. Nhưng trong đạo Phật đó không phải là chân lý. Chân lý là cái gì đó siêu việt mọi khả năng biểu đạt, siêu việt tư tưởng. Chân lý cũng có thể là “mạch nguồn tuyệt diệu”, tuyệt diệu vượt lên khả năng của ngữ ngôn. Đó là mạch nguồn của mọi chúng sinh.

Nhân tiện, khi chúng ta nói “chúng sinh”, “chúng sinh” bao gồm cả tư tưởng lẫn những gì chúng ta nhìn thấy. Thường thì khi chúng ta nói “chân lý”, chúng ta muốn nói đến một nguyên lý cơ bản. Việc mặt trời mọc ở phương Đông và lặn ở phương Tây, hay trái đất xoay theo một hướng cố định nào đó là chân lý. Nhưng trong đạo Phật, đó không phải là chân lý tuyệt đối; nó cũng là “chúng sinh”, chúng sinh này nằm trong tâm rộng lớn. Bất cứ điều gì có trong tâm quý vị - lớn hay nhỏ, tốt hay xấu - đều là một chúng sinh. Nếu quý vị nghĩ về một điều gì đó theo khía cạnh đúng sai, quý vị có thể sẽ nói “Đây là một chân lý bất diệt”. Nhưng đối với chúng ta, ý tưởng về một chân lý bất diệt vẫn còn nằm trong phạm trù chúng sinh, vì nó đơn giản chỉ tồn tại trong tâm chúng ta.

Chúng ta không phân biệt kỹ càng giữa những gì tồn tại bên ngoài chúng ta và những gì tồn tại trong tâm chúng ta. Quý vị có thể nói điều gì đó tồn tại bên ngoài mình, quý vị có thể cảm giác đúng là như vậy, nhưng điều này không đúng. Khi nói “Có một dòng sông”, dòng sông ấy đã ở trong tâm quý vị. Một người nhanh nhảu sẽ nói  “Dòng sông ở đằng kia”, nhưng nếu nghĩ thêm về điều này, quý vị sẽ thấy dòng sông tồn tại trong tâm dưới dạng một tư tưởng. Thấy mọi vật tồn tại ngoài mình là một lối hiểu về mọi vật rất hời hợt, ấu trĩ và nhị nguyên.

Câu “Linh nguyên minh hạo khiết” - Nguồn linh sáng trong veo, muốn đề cập tới lý. Lý là mạch nguồn của giáo lý siêu việt ngữ ngôn. Mạch nguồn chân thật, lý, vượt lên trên khả năng tư duy của chúng ta; nó thanh khiết không một vết nhơ. Khi mô tả nó, quý vị đã đặt nó trong một giới hạn rồi. Cũng giống như quý vị làm nhơ chân lý vậy. Tâm Kinh nói, “không sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp…” – đó chính là lý.

Câu tiếp theo là “Chi phái ám lưu chú” Chi phái thầm tuôn trào, hay “Những nhánh sông thầm trôi”. Chi phái có nghĩa là những chi nhánh. Ngài Thạch Đầu dùng từ “chi phái” như một thủ pháp nghệ thuật: hai câu thơ có mỹ cảm hơn và hai từ “nguồn linh” và “chi phái” đối nhau. Nguồn linh thuộc về bản thể nhiều hơn, trong khi chi phái thiên về hiện tượng hơn. Nói “bản thể” hay “hiện tượng” đều không hoàn toàn đúng, nhưng tôi phải tạm nói như vậy. Vì thế cần phải nhớ hai thuật ngữ lý và sự. Sự, được nhắc đến trong câu thứ ba, đề cập đến hiện tượng - những gì quý vị có thể thấy, nghe, ngửi, nếm và cả nhửng đối tượng như tư tưởng hay ý tưởng. Những gì mà ý thức chúng ta có thể xác định được đều là Sự. Những gì vượt ra ngoài ý thức của chúng ta - bản chất thực tại – chính là Lý.

Trong bóng tối, những chi nhánh toả ra lan chảy khắp nơi, cũng giống như nước vậy. Mặc dù chúng ta không để ý tới nước, nước có ở đó. Nước có trong cơ thể của chúng ta và có trong thân cây; ở đâu cũng có nước. Cũng như vậy, mạch nguồn tinh khiết có khắp mọi nơi. Bản thân mỗi chúng sinh là mạch nguồn tinh khiết, và mạch nguồn tinh khiết là mỗi chúng sinh. Không phải là hai sự vật khác nhau. Không có sự khác biệt giữa lý và sự, mạch nguồn tinh khiết và chi nhánh. Chi nhánh là mạch nguồn tinh khiết và mạch nguồn tinh khiết là chi nhánh. Mạch nguồn tinh khiết chảy khắp nơi cho dù quý vị không biết tới nó. Sự “không biết” này chính là cái chúng ta gọi là “bóng tối”, và đây là một điều rất quan trọng.

“Chấp sự nguyên thị mê” - Chấp sự vốn mê muội. Chấp sự có nghĩa là dính mắc vào những gì quý vị thấy. Khi hiểu mỗi chúng sinh đều khác biệt nhau, quý vị nhìn mỗi chúng sinh như một thực thể đặc biệt và thường thì quý vị dính mắc vào điều gí đó. Tuy vậy, ngay cả khi quý vị thông hiểu sự thật rằng mọi sự vật đều chỉ là một, điều đó không phải lúc nào cũng là giác ngộ. Nó có thể là giác ngô, nhưng không phải lúc nào cũng là như thế. Nó có thể chỉ là một sự thông hiểu trên bình diện tri thức. một người đã giác ngộ không bỏ qua mọi việc nhưng cũng không dính mắc với điều gì, kể cả khi điều đó là chân lý. Không có sự thật nào khác với sự hiện hữu của mỗi chúng sinh. Tự thân mỗi chúng sinh là chân lý. Quý vị có thể nghĩ rằng có một chân lý nào đó vận động đằng sau mỗi chúng sinh, điều khiển và dẫn dắt mọi sự. Chân lý này, quý vị có thể nghĩ, cũng giống như chân lý về trọng lực. Nếu mỗi trái táo là một chúng sinh thì phía sau trái táo là một chân lý tác động lên chính trái táo, như trọng lực chẳng hạn. Hiểu mọi việc theo cách ấy không phải là giác ngộ. Dính mắc vào chúng sinh, tư tưởng, hay thậm chí là vào giáo lý của Đức Phật và nói rằng, “Giáo lý của Đức Phật nói thế này”, là vẫn còn chấp vào sự. Đây là cốt lõi của Tham Đồng Khế.

“Khế lý diệc phi ngộ” - Khế lý đã ngộ đâu. Liễu ngộ chân lý cũng chưa phải là ngộ. Tốt nhất là đừng nói năng gì cả. Khi tôi dịch từ “lý” sang tiếng Anh, nó đã thành “sự” rồi. Thật sự thì ngộ không phải là điều quý vị có thể cảm nghiệm. Ngộ siêu việt khả năng cảm nghiệm của quý vị. Nếu một người nói, “Tôi đã đạt ngộ”, thì đã sai rồi. Nó chứng tỏ người đó đã dính mắc vào một ý tưởng nào đó về ngộ. Đó là mê, Đồng thời, nếu quý vị cho rằng ngộ nằm ngoài khả năng cảm nghiệm của chúng ta, rằng chúng ta không thể trải nghiệm nó; tuy vậy, giác ngộ vẫn tồn tại. Vì thế quý vị không thể nói có giác ngộ hay không có giác ngộ. Ngộ không phải là điều mà quý vị có thể nói có hoặc không có. Và cùng lúc, những gì quý vị có thể cảm nghiệm cũng chính là giác ngộ.

Trong bài giảng trước tôi đã nói về cuộc tranh chấp gay cấn vào thời ngài Thạch Đầu giữa Thiền đốn ngộ và Thiền tiệm ngộ. Pháp Bảo Đàn Kinh của Lục Tổ phản bác lối Thiền tiệm ngộ của ngài Thần Tú và tuyên bố thiền của Lục Tổ là Thiền đốn ngộ. Theo Pháp Bảo Đàn Kinh, có vẻ như chỉ ngồi thiền mà thôi thì không phải là tu tập chân chánh.

Nhưng có thể đó không phải thực sự là lời của Lục Tổ. Thật sự thì đường lối thiền của Thần Tú và của Lục Tổ không khác nhau là bao Pháp Bảo Đàn Kinh được biên soạn ngay sau khi Lục Tổ thị tịch, và có thể năm mươi năm sau những phê phán đối với lối thiền của ngài Thần Tú đã được một trong những đệ tử của Lục Tổ là Hà Trạch Thần Hội hoặc đệ tử của Hà Trạch Thần Hội đưa thêm vào. Hà Trạch Thần Hội là một thiền sư vĩ đại. Ngài là người rất năng nổ và tích cực chỉ trích đường lối tu tập mà ngài Thần Tú vạch ra, nhưng có thể ngài đã không quá gay gắt như những gì mà Pháp Bảo Đàn Kinh chuyển tải.

Hà Trạch Thần Hội hoặc đệ tử của ngài có thể cũng đã đưa vào Pháp Bảo Đàn Kinh câu kệ đã trở nên nổi tiếng:

Bồ đề vốn không cội

Gương báu vốn không đài

Xưa nay không một vật

Chỗ nào nhiễm trần ai.

Có thể vì đây không phải là một bài kệ hay nên đã bị nhiều người chỉ trích và cho rằng Lục Tổ thật sự không thể làm một bài kệ như vậy.

Vào thời ấy, việc sở hữu một bản Pháp Bảo Đàn Kinh là một vinh dự. Pháp Bảo Đàn Kinh có rất nhiều dị bản, và trong dị bản cổ nhất không có bài kệ này và cũng không có cả những đoạn chỉ trích dòng thiền của ngài Thần Tú.

Vì thế, một trong những mục đích của Tham Đồng Khế là làm sang tỏ sự hiểu biết sai lệch về Thần Tú, người bị ám chỉ là chấp mắc vào các nghi lễ cũng như chỉ trau dồi học vấn. Học vấn thuộc về sự. Lý là điều chỉ có thể cảm nhận được qua sự tu tập. Quý vị có thể nghĩ học vấn là lý, nhưng đối với chúng ta thì không phải như vậy. Việc tu tập của chúng ta là để trực nhận hoặc liễu ngộ và chấp nhận lý. Nhưng mặc dù quý vị toạ thiền và nghĩ rằng đó là lý hay là chứng ngộ lý, nhưng theo Tham Đồng Khế thì không phải lúc nào cũng là như vậy. Chỉ hiểu chừng đó thôi là đã hiểu toàn bộ bài tụng Tham Đồng Khế rồi.

Những câu đầu tiên trong bài tụng là phần dẫn nhập. “Tâm Đại Tiên Tây Trúc, mật truyền Tây và Đông”. Ở đây “Đại Tiên” cũng có thể mang ý nghĩa là một ẩn sĩ. Vào thời của Thạch Đầu Hy Thiên, có rất nhiều ẩn sĩ Đạo giáo tự hào vì có phép thần thông và luyện thuốc tiên để được trường thọ. Họ không mấy quan tâm đến Phật pháp và không thể hiểu tại sao thiền tập lại cần thiết đến thế. Đây cũng là câu hỏi mà thiền sư Đạo Nguyên đã đặt ra. Nếu tất cả chúng ta đều có tánh Phật thì tại sao lại cần phải tu? Đạo Nguyên đã trăn trở rất nhiều cũng vì như vậy. Ngài không thể quyết nghi điều này dựa trên sở học.

Khi nào thật sự biết mình, quý vị sẽ nhận ra thiền tập cần thiết đến mức nào. Trước khi biết mình đang làm gì, quý vị không biết tại sao mình tu tập. Quý vị nghĩ mình hoàn toàn tự do, rằng tất cả những gì quý vị làm đều là sự lựa chọn của mình, nhưng trên thực tế quý vị chỉ đang tạo ra nghiệp cho bản thân mình và cho mọi người. Không biết mình đang làm gì, vì thế quý vị không nghĩ rằng cần phải toạ thiền. Nhưng chúng ta phải trả những món nợ của riêng mình; không người nào khác có thể trả món nợ của chúng ta. Đó là tại sao cần phải tu tập. Để hoàn tất trách nhiệm của mình, chúng ta tu tập. Chúng ta phải làm như vậy. Nếu không tu tập, quý vị không thể trở nên tốt hơn mà còn gây rắc rối cho những người khác. Không hiểu biết điều này, quý vị sẽ nói “Tại sao cần phải toạ thiền?”. Hơn thế nữa, khi nói “Chúng ta có Phật tánh”, quý vị có thể nghĩ rằng Phật tánh cũng giống như hạt châu nơi chéo áo. Hạt châu là sự, không phải là lý. Chúng ta luôn luôn ở trong thế giới của sự mà không hề nhận ra lý.

Có một điều nữa mà tôi rất quan tâm. Theo truyền thống, như quý vị cũng có thể đã biết, các Phật tử nói rằng đạo Phật sẽ không mãi mãi tồn tại. Kinh văn đưa ra rất nhiều thời hạn, nhưng thường thì người ta nói rằng 1.500 năm sau khi Phật diệt độ, Phật pháp sẽ hoại diệt.

Theo kinh điển, trong năm trăm năm đầu tiên, vào thời của các đệ tử và đệ tôn của đức Phật, sẽ có những vị thánh tăng cũng như đức Phật vậy. Đây là thời chánh pháp. Trong năm trăm năm sau đó, sẽ có người toạ thiền và tham học Phật pháp. Đây là thời tượng pháp. Trong thời mạt pháp bắt đầu từ một ngàn năm sau khi Phật diệt độ, học nhân sẽ không giữ giới, họ sẽ đọc tụng kinh điển nhưng sẽ không hứng thú toạ thiền. Người thực hành thiền tập và thông hiểu giáo lý rất khó tìm. Điều này thật đúng. Người tu ngày nay không giữ giới.

Còn trong thời mạt pháp, con người thích luận bàn về sắc – không mà thật sự chẳng hiểu gì về sắc – không cả. Chúng ta nói về không, và quý vị có thể cho rằng mình hiểu về điều đó; nhưng dù quý vị có thể giảng giải về điều đó khá lưu loát chăng nữa, điều đó vẫn là sự, không phải là lý. Tánh không thật sự phải được trực nghiệm – không phải là trực nghiệm, mà phải liễu ngộ - qua việc tu tập nghiêm cẩn. Vì thế, mục đích của bài tụng Tham Đồng Khế là soi sáng để ta thấy được không là gì, sắc là gì, bóng tối là gì, ánh sáng là gì, nguồn chân thật của giáo pháp là gì, và những chúng sinh được nâng đỡ bởi nguồn chân thật này thật sự là gì.

Tôi mượn một cuốn sách của Masa, vợ của thi sĩ Gary Snyder. Cuốn sách viết về Sangaikyo, một trường phái thuộc tông Chân Ngôn tại Nhật Bản. Cuốn sách nói rằng một ngàn năm sau khi đức Phật nhập diệt, sẽ có hai loại người tu: ngây thơ và không biết hổ thẹn. Cuốn sách này lý giải những gì mà người tu đang làm tại Mỹ và tại Nhật Bản. Nghiêm túc mà nói, cả người tu Mỹ lẫn người tu Nhật đều không giữ giới. Chúng ta ăn cá và giết hại động vật. Nhưng tại Mỹ quý vị ngây thơ, không biết mình thật sự đang làm gì khi quý vị phá giới. Ở Nhật Bản chúng tôi không biết hổ thẹn vì chúng tôi biết rõ mình đang làm gì khi phá giới. Những người thật sự ngây thơ thì có vẻ như không biết hổ thẹn, nhưng thật sự thì không phải như vậy.

Vì thế quý vị có thể hỏi, “Đại ý Phật pháp là gì?”. Nếu không hiểu, quý vị sẽ bị buộc phải hỏi hoài, “Nó là gì? Nó là gì?”. Quý vị chỉ đang đi tìm cái mà mình có thể hiểu mà thôi. Đó là một lỗi lầm rất lớn. Chúng ta không tồn tại theo cách ấy. Thiền sư Đạo Nguyên nói, “Không cánh chim bay nào biết được giới hạn bầu trời, không chú cá nào đến được nơi tận cùng biển cả”. Chúng ta tồn tại trong vũ trụ vô hạn. Chúng sinh thì vô biên còn phiền não thì vô tận, nhưng chúng ta vẫn phải cố tinh tấn, giống như chim bay và cá lội vậy. Vì thế thiền sư Đạo Nguyên nói “Chim thì bay như chim, cá thì lội như cá”. Đó chính là Bồ-tát đạo, và đó cũng là cách mà chúng ta tu tập.

Theo ngài Đạo Nguyên, khi chúng ta nhìn và hiểu mọi việc theo cách này, chúng ta không phải là những người sống thời mạt pháp. Sự tu tập của chúng ta lúc đó không còn bị giới hạn bởi thời gian và không gian nữa. Đạo Nguyên nói, “Phật luôn ở ngay đây”. Bằng một cách nào đó, đạo Phật vẫn tồn tại, và khi chúng ta thật sự hiểu đức Phật muốn nói gì, chúng ta đang ở trong thời chánh pháp.      

 

  • Bằng cách dần dần trở nên quen biết với bản tánh này, sẽ có được quán chiếu đích thực, nó đạt đến tột đỉnh với sự có được tự tin. Một khi đã có tự tin này, bạn chỉ đơn giản ở trong trạng thái đó và giữ gìn sự tự tin đó mà không thêm vào bất kỳ tạo tác nào. Bản tánh tối vi tế này không nhiễm ô bởi những lỗi lầm của sanh tử, thế nên chớ trộn lẫn nó với bất kỳ cái gì khác. Chớ cố gắng tìm kiếm cái gì khác để làm ; chỉ đơn giản ở trong sự tự tin đã đạt được. Hãy an trụ thường hằng trong trạng thái này và thỏa mãn với sự nhận biết đó.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.466
  • Không có gì như tình thương của bậc cha mẹ đối với con cái. Khi ta suy xét về lòng tốt mà cha mẹ ta đã biểu lộ với ta thì chúng ta nên suy tưởng rằng tất cả chúng sinh chịu đau khổ trong vòng sinh tử đã có lúc này hay lúc khác từng là những cha mẹ tốt lành và từ ái của chúng ta. Đây quả nhiên là nguyên nhân để sự phát khởi tự nhiên của lòng bi mẫn, là Bồ đề tâm, tràn trề trong chúng ta, Bồ đề tâm dâng tràn đối với tất cả chúng sinh, thậm chí đối với một con côn trùng bé xíu, con muỗi nhỏ bé nhất.Là các Phật tử, những hành giả Dzogchen, các bạn phải từ bỏ mọi hành vi làm hại bởi các bạn phải nhận ra rằng tất cả chúng sinh đã từng là những cha mẹ của các bạn. Nhận thức đó phải hiện diện trong tâm các bạn. Các bạn cần cảm nhận lòng thương yêu hơn nữa đối với chúng sinh đang ở trong tình huống khó khăn và kém may mắn hơn các bạn và nỗ lực trong khả năng tốt nhất của các bạn để làm lợi lạc cho họ.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.262
  • ss

    Đây là một cái nhìn sơ lược tổng quát về Bốn Yoga. Tính chất định nghĩa của yoga thứ nhất, nhất tâm, là nhận biết bản tánh của tâm bạn. Hơn nữa, bạn chứng ngộ rằng những xuất hiện không là gì khác hơn bản tánh của tâm bạn, và bản tánh ấy giống như sự trống không của không gian. Yoga thứ hai thoát khỏi tạo tác ý niệm, gồm nhận biết rằng mọi xuất hiện là giả hợp ; bạn chứng ngộ rằng bản tánh thật sự của tâm là trống không và thoát khỏi mọi tạo tác ý niệm. Thứ ba, trong yoga của một vị, bạn nhận biết rằng sanh tử và niết bàn đồng một bản tánh, nó là chìa khóa để đạt đến giác ngộ. Trong yoga thứ tư, yoga của không-thiền định, bạn nhận biết rằng toàn bộ sanh tử và niết bàn vốn là không sanh, không trụ và không diệt. Nhị nguyên căn bản nhất của chủ thể và đối tượng vốn là không có nền tảng và là một bản tánh, Pháp thân.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.861
  •  

     

    Nói đến tâm này, Padmasambhava nói rằng bản tánh vốn có của nó, tánh giác nội tại, đã hiện hữu từ nguyên thủy, nghĩa là nó không được tạo ra ở một điểm nào đó trong thời gian. Nhưng nó đã không được nhận biết vì vô minh hay không giác của chúng ta trong mọi đời trước. Nó giống như một viên ngọc quý tự tỏa sáng mà trải qua vô số thế kỷ đã bị bọc thêm nhiều lớp tạp chất. Những lớp che chướng này là phiền não chướng và sở tri chướng. Những phiền não chướng chủ yếu là những phiền não tiêu cực và ích kỷ của chúng ta, như giận dữ, tham lam, ghen tỵ, kiêu căng... Những sở tri chướng là những ý niệm tri giác sai và lầm lẫn về thực tại.

    Ngay lúc này, dù cho sự hiện diện sáng rõ hay tánh giác vẫn không ngừng dứt, nhưng chúng ta không trực tiếp gặp nó mặt đối mặt. Và dù sự hiện hữu của nó thì không chỗ nào bị che ám chướng ngại hay đứt đoạn, chúng ta vẫn không nắm hiểu hay nhận ra nó. Ba dòng ở trên của bản văn ám chỉ bản tánh của tâm theo Tinh Túy của nó, đó là tánh Không, Bản Tánh của nó là sự sáng tỏ quang minh, và Năng Lực của nó thì không bị chướng ngại hay đứt đoạn và thấm nhuần khắp.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.120
  • canh-dep-que-lam      Cần phải ngộ mới được! Sau khi ngộ rồi, cần phải gặp thiện tri thức. Nhà ngươi nói: Ngộ rồi là xong, đâu cần gặp thiện tri thức. Nếu ngộ rồi lại gặp thiện tri thức thì đương lúc ra tay làm phương tiện hằn tự có đường xuất thân, chẳng làm mù mắt người học. Còn nếu chỉ ngộ được đầu cây cải khô thì chẳng những làm mù mắt người học mà khi chính mình cử động trước tiên phạm nhằm mũi nhọn bị thương tay.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.157
  •     Có nhiều phương diện của tâm, nhưng có hai phương diện nổi bật hơn cả. Đầu tiên là cái tâm thông thường mà người Tây Tạng gọi là Sem. Một bậc thầy đã định nghĩa: “ Đó là cái tâm có khả năng phân biệt, có ý thức về nhị nguyên( hoặc lấy hoặc bỏ một đối tượng bên ngoài) đó là tâm”. Đó là thứ có thể giao thiệp với một thứ gì khác, bất cứ thứ gì khác, vốn được xem là điều lĩnh hội, khác với năng lực lĩnh hội. Sem là cái tâm suy nghĩ, tâm nhị nguyên, phân biệt, chỉ có thể vận hành tương quan với một điểm quy chiếu ở ngoài, bị nhận lầm và chỉ là một cái bóng được chiếu ra.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 2.006
  • Tám Tỉnh Giác của bậc Đại Nhân
    (Hachidaininkaku) 

     

    Rốt ráo, Phật giáo được cho là thực tiễn, và sự dè dặt truyền thống của nó về triết học là do bởi trong sự kích thích tập luyện trí thức có khuynh hướng quên đi rằng những giáo lý là để áp dụng. Một vị thầy vĩ đại của Phật giáo Trung Hoa đã nêu điều đó trong những lời này : trước hết là hiểu, không có nó hành động sẽ mù lòa ; rồi đến hành động, không có nó hiểu sẽ không có hiệu lực ; cuối cùng hiểu và hành động thành một.  

    “Chớ làm điều xấu, hãy làm điều tốt, hãy làm trong sạch tâm – đây là lời dạy của chư Phật”. Công thức cổ này của Phật giáo tóm tắt thông điệp của ba chương cuối của Chánh Pháp Nhãn Tạng như được trình bày trong cuốn sách này. Chúng cùng làm rõ ba giai đoạn hay ba yếu tố căn bản của Thiền được tìm thấy khắp toàn bộ giáo lý Phật giáo : xa lìa, hòa nhập và sự hòa hợp giữa xa lìa và hòa nhập.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.448
  • say me voi nhung phong canh thien nhien binh yen 4 Say Mê Với Những Phong Cảnh Thiên Nhiên Bình Yên           Phải tọa thiền như thế nào mới đúng? Khi tọa thiền thân thể cần phải thoải mái mới đúng.

              Tọa thiền là đang tu hành “thân là Bồ-đề(1) (khai ngộ)”, cũng là thể chứng Bồ-đề; vì nếu chúng ta thực sự đang Tọa thiền thì sẽ không có phân biệt giữa tu hành và thể chứng. Đó là trí tuệ “Như thị” (as, is), là trí tuệ “sự vật thế nào thì chính là thế ấy”. Tọa thiền là đang tu Phật đạo, cho nên cũng là đang tu sinh mệnh chính mình.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 818
  •  

    Ngồi yên - hay thiền định - chẳng phải là nhất định phải ngồi. Ngồi yên thực sự là chẳng hiện thân ý trong ba cõi, đó là tâm thiền định. Tâm thiền định này là tâm Không, không trụ vào đâu cả và tâm thiền định ấy đạt đến pháp tánh. Tâm thiền định ấy chính là pháp tánh. Theo ngài Duy Ma Cật, thiền định không phải là một hình tướng ngồi hay đứng, mà thiền định là tương ưng với pháp tánh, và pháp tánh này thì không sanh không diệt, không đến không đi, không nằm không ngồi. Pháp tánh này xưa nay thường định. Và thiền định là ngộ nhập pháp tánh ấy, không cứ gì ngồi hay nằm. Thấu đạt pháp tánh tức là ngồi yên, dù thân có đang làm gì.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 803
  •    I. THỰC TẠI THẾ NÀO ?

    Lâu nay bao người cứ bàn về thực tại, nói về thực tại, luận về thực tại và cãi về thực tại rất nhiều, song thế nào là thực? Thực tại có hay không? Ở đâu ? Dường như câu hỏi vẫn còn đang…! Bởi lẽ, thực tại là cái luôn luôn hằng hữu chưa từng thiếu vắng mà luận về nó, bàn về nó thì sao? Có thực tại chưa ?

    Chính đây là điểm lầm lẫn mà người không hay biết. khi chúng ta nói về nó, tức đã gián tiếp với nó rồi. Thí dụ có người hỏi về anh A, ta trả lời: Anh A cao lớn, mắt to, da trắng, tiếng nói sang sảng v.v… thì lúc đó có mặt anh A ở đó chăng? Nếu lúc đó đang có mặt anh A thì ta chỉ cần trỏ ngay anh, bảo: Đây này! là xong, khỏi diễn tả dài dòng.

     

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.002
  •  

          Vấn đề lớn này, Đạo, mọi người đều sở hữu nó từ đầu. Đạo luôn luôn ở cạnh chư vị. Điều khó khăn là từ vô thủy đến giờ Diệu Giác vẫn bị che khuất bởi các hạt giống của tham ái, các dòng tư tưởng, sự lưu xuất của tư lương phân biện, và lề lối suy tưởng tập tục đã ăn sâu. Vì thế chúng ta chưa bao giờ nắm giữ được Chính giác, thay vì thế chỉ lẩn quẩn giữa những chiếc bóng vọng tưởng về tâm, thân và thế gian. Chính vì thế mà trôi lăn mãi trong Luân Hồi. Xưa chư Phật Tổ hiện thân trong thế giới này, sử dụng hàng vạn lời lẽ và nhiều phương pháp dạy, hoặc Giáo hoặc Thiền(1). Tất cả lời dạy của chư Phật Tổ chẳng là gì khác hơn những dụng cụ để đập tan sự “chấp trước” quen thói thâm nhiễm tư tưởng chúng sinh.

     

          

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 960
  • Giải thoát hay Tánh Không thì không chỗ nào không có,nên bất cứ ở đâu chúng ta cũng có thể gặp nó. Tánh không, vô tự tánh của cái tôi và tất cả sự vật thì có thể tìm thấy nơi sự vật cũng như chính nơi tâm thức này. Bởi vì tánh không là bản tánh của sự vật và của tâm thức.

    Trong bài này, chúng ta tìm hiểu và thể nghiệm tánh không nơi tâm thức hiện có của chúng ta, nơi không có tư tưởng và nơi đang có tư tưởng. Tánh không nằm giữa hai tư tưởng thường được nói đến trong hai truyền thống phật giáo Tây Tạng và Trung Hoa, mà Thiền tông , Đại Toàn Thiện (Dzogchen), và Đại Ấn (Mahamudra) là những đại diện tiêu biểu.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 852
  •  

    Hỏi: Nếu nói Phật tánh hiện ở thân này, đã ở trong thân không lìa phàm phu. Cớ sao nay tôi chẳng thấy Phật tánh? Xin giải rõ khiến được khai ngộ.

     

     

    Ðáp: Ở tại thân ông mà tự ông chẳng thấy. Suốt mười hai giờ ông biết đói biết khát, biết lạnh, biết nóng, hoặc vui, hoặc giận,v.v... Trọn là vật gì? Lại sắc thân là địa thủy hỏa phong bốn duyên hội hợp, cái chất của nó là vô tình, đâu hay thấy nghe hiểu biết? Cái thấy nghe hiểu biết nhất định là Phật tánh của ông. Tổ Lâm Tế nói rằng: “Bốn đại chẳng biết nói pháp, chẳng nghe pháp. Hư không chẳng biết nói pháp, chẳng nghe pháp. Chỉ cái rõ ràng riêng sáng ở trước mẳt của ông, cũng chớ phân tích nó, cái ấy mới biết nói pháp và nghe pháp”.
    Ba chữ “Chớ phân tích” là pháp ấn của chư Phật và cũng là tâm bổn lai của ông. Thế thì Phật tánh ở tại thân ông, đâu có nhờ cầu bên ngoài? Ông nếu chẳng tin, tôi sẽ nêu lên nhơn duyên nhập đạo của các bậc thánh xưa, để cho ông trừ hết nghi hoặc. Ông sẽ tin là chơn thật.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 947
  • một số người băn khoăn vì không biết có cần thiết phải có một vị đạo sư tâm linh hay không? Chúng ta có thể tự học đạo được hay không? Để học được những kỹ năng như đọc sách, nghề mộc, giải phẫu hay ngay cả lái một chiếc xe chúng ta cần phải có người dạy. Tự học là một việc khó khăn đôi khi rất nguy hiểm. Thử hình dung ra cảnh chúng ta cố gắng tự học lái một chiếc máy bay! Rõ ràng là có nhiều hiểm họa không lường được. Để học những nghề nghiệp thông thường chúng ta còn phải có thầy dạy đàng hoàng mới nên thì chắc chắn rằng để học đạo chúng ta phải cần sự hướng dẫn của những bậc đạo sư có phẩm hạnh. Chúng ta không thể xem nhẹ và bất cẩn trong những vấn đề tâm linh, những vấn đề cao sâu có ảnh hưởng lâu dài trong đời này và trong những đời sau.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 909

  • Với sự tin hiểu, ở đâu người ta cũng thấy Diệu Pháp Liên Hoa, thời gian nào cũng là sự hiển xuất của Diệu Pháp Liên Hoa. Không gian và thời gian đã ngấm đầy Phật chất để chuyển hóa thành một cách thế biểu hiện của Phật lực, một sự diễn xuất của Phật tánh và do đó không còn ngăn ngại, không còn ta người, không còn đây kia, sống chết, khổ đau…

    Sống trong Pháp Hoa, nói theo kinh Lăng Nghiêm, là chuyển năm ấm, sáu nhập, mười hai xứ, mười tám giới và bảy đại, nghĩa là toàn bộ thế giới, chúng sanh về bản tánh của chúng là Như Lai tạng. Khi người ta lặn đến đáy cùng của tâm thức rồi đi ngược ra trở lại, bấy giờ thế giới và chúng sanh chính là sự “lộn trái” của tâm, là sự bùng vỡ thành muôn ngàn hình tướng của tâm, bởi thế tất cả chỉ là sự ứng hiện của tâm, tất cả chỉ là tâm.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 771
  •   Trong ngoài lặng lẽ chẳng vin đâu   

    Sáng suốt, hồn nhiên khỏi vọng cầu   

    Buông hết một phen đừng luyến tiếc

    Mới hay ngay đó thấy đạo mầu!

                (Viên Minh)

     Ngày nay, nhân loại đã tiến bộ rất xa về mặt khoa học, kỹ thuật, đã làm thay đổi bộ mặt thế giới từng ngày, từng giờ và thậm chí từng phút, từng giây, nên đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội v.v… đều được nâng cao một cách đáng kể.

    Nhờ phương tiện giao thông vận tải, phương tiện truyền thanh, truyền hình, mạng internet, vô tuyến viễn thông mà thế giới đã và đang hội nhập thành một cộng đồng quốc tế với qui mô toàn cầu hóa. Điều này đem đến biết bao phúc lợi xã hội, tiện nghi đời sống đủ để đáp ứng nhu cầu hưởng thụ ngày càng đa diện và phong phú của con người.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 810
  • Mục đích của tham thiền là minh tâm kiến tánh, tức quét trừ tự tâm ô nhiễm, để chân thật thấy rõ bổn lai diện mục của tự tánh. Ô nhiễm tức là vọng tưởng chấp trước. Tự tánh tức là trí huệ đức tướng của Như Lai. Đối với đức tướng trí huệ của Như Lai, Phật và chúng sanh đều đồng có đầy đủ, không hai không khác. Nếu xa rời được vọng tưởng chấp trước thì tự mình sẽ đắc được trí huệ đức tướng của Như Lai, tức là Phật. Ngược lại thì làm chúng sanh. Chỉ vì chúng ta từ vô lượng kiếp cho đến nay, mê mờ lưu lạc trong vòng sanh tử và bị nhiễm ô đã lâu, nên không thể thoát khỏi được vọng tưởng chấp trước mau chóng được. Muốn thấy rõ bổn tánh chân thật, phải nên tham thiền. Vì thế, điều kiện tiên quyết nhất khi tham thiền là phải dẹp trừ vọng tưởng. Làm sao dẹp trừ vọng tưởng ? Phật Thích Ca thuyết pháp rất nhiều, nhưng đơn giản không ngoài chữ "ngưng". "Ngưng tức Bồ Đề".

    Thiền tông do Đạt Ma Tổ Sư từ bên Ấn Độ truyền qua Đông Độ; đến đời Lục Tổ thì gió thiền lan rộng khắp nơi, chấn động chiếu sáng cổ kim. Những điều tối quan trọng mà Đạt Ma Tổ Sư cùng Lục Tổ thường dạy là "dẹp hết muôn duyên, chẳng sanh một niệm".

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 898
  • http://bndosomething.files.wordpress.com/2013/07/page3_1.jpg

    Linh nguyên minh hạo khiết

    Chi phái ám lưu chú

    Chấp sự nguyên thị mê

    Khế lý diệc phi ngộ

    Nguồn linh sáng trong veo

    Chi phái thầm tuôn trào

    Chấp sự vốn mê muội

    Khế lý đã ngộ đâu

    Mạch nguồn là một cái gì đó tuyệt diệu, không thể mô tả bằng lời, không ngôn ngữ nào có thể chạm đến. Điều Đức Phật nói đến là mạch nguồn của giáo lý, siêu việt mọi so sánh xấu tốt. Điều này rất quan trọng. Những gì mà tâm quý vị có thể nắm bắt và hình thành khái niệm đều không phải là mạch nguồn. Mạch nguồn là điều mà chỉ một vị Phật mới biết được.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 940
  •  

    Tâm đến từ tánh Không và tan hòa trở lại vào tánh Không, giống như nước đông lại thành băng và lại tan chảy ra.  

    Tượng Đức Milarepa trong Tu viện Drirapuk, Núi Kailash, Tây Tạng 

    Vào mùa thu Milarepa đi tới một địa điểm được gọi là Gepa Lesum, nơi người dân đang thu hoạch mùa màng. Ngài đang khất thực thì một thiếu nữ tên là Nyama Paldarbum nói: “Ông đi tới căn nhà ở đằng kia, con sẽ gặp ông và tặng ông thực phẩm.”  

    Milarepa tới trước căn nhà và dùng gậy gõ nhẹ vào cửa. Không có tiếng trả lời. Ngài gõ lại lần nữa, một bà lão bước ra và nói: “Những người được gọi là hành giả như các ông xin ăn rất nhiều và khi không có người ở nhà thì các ông xông vào và trộm cắp, đó chính là những gì ông đang dự định làm!”

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 997
  •  

    VÔ NIỆM CỦA LỤC TỔ HUỆ NĂNG
    Nguyễn Thế Đăng

     

    1. Tâm vô niệm

    Luận Đại thừa Khởi tín của ngài Mã Minh nói:

    “Thể của tâm lìa tất cả niệm, nghĩa là vốn vô niệm. Nó như hư không, không chỗ nào mà chẳng toàn khắp. Pháp giới Một tướng này tức là Pháp thân bình đẳng của chư Như Lai. Pháp thân này tất cả chúng sanh vốn có, nên gọi là Bản giác”.

    Luận nói tiếp:

    “Thế nên chúng sanh nào quán sát vô niệm thì chúng sanh đó đã hướng về Trí Phật”.

    Kinh Thắng Man, chương Tự tánh Thanh tịnh nói: “Như Lai tạng không có sanh không có tử. Như Lai tạng không có tướng hữu vi. Như Lai tạng thường trụ bất biến… Như Lai tạng là pháp giới tạng, là pháp thân tạng, là xuất thế gian thượng thượng tạng, là tự tánh thanh tịnh tạng. Như Lai tạng tự tánh vốn thanh tịnh, vọng tưởng phiền não chẳng thể nhiễm ô vì chúng chẳng thể xúc chạm”.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.219

Top Bài Viết

Top Music

Top Book Mp3

Top Music Album

 
© Copyright 2013 - 2019 PHATAM.ORG - Chịu trách nhiệm nội dung: Thị Đức bienman0811@yahoo.com - Hỗ trợ kỹ thuật votamthoai@gmail.com