PHÁP NGỮ CỦA HÁM SƠN ĐẠI SƯ - Trích từ Thiền Đạo Tu Tập của Chang Chen Chi, Bản dịch Như Hạnh 1972.

       Vấn đề lớn này, Đạo, mọi người đều sở hữu nó từ đầu. Đạo luôn luôn ở cạnh chư vị. Điều khó khăn là từ vô thủy đến giờ Diệu Giác vẫn bị che khuất bởi các hạt giống của tham ái, các dòng tư tưởng, sự lưu xuất của tư lương phân biện, và lề lối suy tưởng tập tục đã ăn sâu. Vì thế chúng ta chưa bao giờ nắm giữ được Chính giác, thay vì thế chỉ lẩn quẩn giữa những chiếc bóng vọng tưởng về tâm, thân và thế gian. Chính vì thế mà trôi lăn mãi trong Luân Hồi.           

 

Xưa chư Phật Tổ hiện thân trong thế giới này, sử dụng hàng vạn lời lẽ và nhiều phương pháp dạy, hoặc Giáo hoặc Thiền(1). Tất cả lời dạy của chư Phật Tổ chẳng là gì khác hơn những dụng cụ để đập tan sự “chấp trước” quen thói thâm nhiễm tư tưởng chúng sinh. Không có pháp theo ý nghĩa một cái gì thực hay cụ thể trong cái mà chư Phật Tổ trao truyền cho chúng ta. Cái gọi là tu tập hay dụng công chỉ là một phương pháp tịnh luyện những chiếc bóng của lối suy tưởng tập tục và dòng tư tưởng của chúng ta. Tập trung tất cả sức lực để đến cứu cánh này gọi là “dụng công”. Nếu hốt nhiên các tư tưởng vọng động dừng lại, ta thấy rõ rệt tự tâm mình bổn lai thanh tịnh, chân thật mênh mông, rực rỡ viên mãn và không có các đối tượng. Đó là “Ngộ”; không có gì ngoài tâm, không có gì để dụng công, và không có gì để ngộ… Tuy nhiên các dục vọng chấp ngã đã tích tập từ lâu và bắt rễ trong chúng ta, rất khó mà dứt bặt.           

 

May thay, trong kiếp này nhờ sự trợ giúp và chỉ dạy của các Chân Sư, hạt giống Bát Nhã ở trong chư vị có cơ tăng trưởng. Nhờ thế lòng mộ đạo và quả quyết của chư vị được thức tỉnh. Nhưng chư vị phải nhận thức rằng không dễ gì nhổ được lập tức các gốc rễ của Luân Hồi đã ăn sâu trong chư vị từ vô thủy. Công việc này không phải là tầm thường! Chỉ có những người có ý chí và sức mạnh đầy đủ can đảm để đảm đương một gánh nặng như vậy và dấn thân tới trước không chút do dự hay rụt rè, mới vào được Đạo. Còn đối với những người khác dịp ấy thật là hết sức mong manh. Một châm ngôn xưa nói, “Vấn đề này cũng như một chống lại vạn quân địch”. Lời ấy đúng biết dường nào! Nói chung, vào thời này, Phật Giáo đang ở thời kỳ mạt pháp(2), có rất nhiều hành giả tu Đạo, nhưng có ít người thực Ngộ. Kẻ mò mẫm, kẻ dụng công cần mẫn thì nhiều, nhưng người thụ ích và tầm Đạo vẫn hiếm. Sao vậy? ấy là bởi vì phần đông hành giả không hiểu phải dụng công ra sao, và khởi sự tu tập ra sao ngay từ lúc đầu. Họ chỉ lo chất đầy tâm trí bằng những chữ nghĩa và khái niệm mà họ có được qua suy tưởng, hoặc họ đạc lượng sự vật bằng tâm phân biện;  hoặc họ dằn nén dòng tư tưởng, hoặc tự làm chóa mắt bởi những mê hoặc hư ảo. Có người chất đầy đầu óc những lời bí hiểm của chư Tổ, và coi những lời dạy hoặc kiến giải này là của mình. Họ đâu có biết tất cả những thứ ấy là vô ích. Đó là ý nghĩa của câu nói, “Thâu đạt kiến thức dưới tay kẻ khác là đóng cửa sự tự giác ngộ”. Bước đầu của sự tu thiền là phải quên tất cả những kiến văn giác tri (thấy nghe hay biết) và chuyên tâm vào một ý tưởng (nhất niệm). Thâm tín rằng tư tâm mình bổn lai thanh tịnh không mãy may dấu vết của hiện hữu nào, trạm nhiên, viên mãn, biến tại khắp thái hư. Từ khởi thủy không có thân, tâm, hay thế giới, không môt vọng niệm hay dục vọng nhiễm cấu. Ngay vào khoảnh khắc này [sự xuất hiện của] tâm này [thật ra] phi hữu. Tất cả các tướng trước mắt tôi cũng đều là ảnh không có tự tính. Chúng chỉ là những chiếc bóng trong tâm. Với cái tri thức rõ rệt này, ta phải dụng công như sau: Tìm cho ra cái điểm mà tư tưởng ta khởi dậy và biến mất. Xem một tư tưởng hiện hành ở đâu và biến mất ở đâu. Giữ điểm này trong tâm trí và cố phá thấu nó, cố nghiền nát nó bằng tất cả sức mạnh! Nếu chư vị có thể nghiền nó ra từng mảnh, tất cả sẽ tiêu tan và biến mất. Tuy nhiên, vào lúc ấy, ta không được theo nó [cái kinh nghiệm lập tức] cũng không được tiếp tục nó. Thầy Vĩnh Gia một lần cảnh giới, “phải cắt đứt thường kiến”, như thế là vì vọng tưởng thực ra không có căn để và không thực. Đừng bao giờ coi vọng tưởng là một cái gì cụ thể. Khi nó móng khởi, nhận biết nó ngay, nhưng đừng bao giờ cố dằng nén nó. Để nó trôi nổi và quan sát nó như ta quan sát trái bầu trôi trên mặt nước.           

 

Điều chư vị phải làm là nắm lấy cái ý thức này như thể cầm một lưỡi gươm bén trong tay. Bất chấp Phật hay ma đến, cứ việc chém như cắt một cuộn tơ rối. Dùng sự chú ý và sức mạnh một cách kiên nhẫn để đẩy tâm trí chư vị đến tận cùng [của ý thức]; cứ tiếp tục xô đẩy nó mãi.           

 

Những người quyết tu Đạo phải thâm tín giáo lý duy tâm. Đức Phật nói “ba cõi là tâm, vạn pháp là thức (tam giới duy tâm vạn pháp duy thức). Tất cả Phật giáo chỉ là triển khai câu văn này. Vô minh hay giác ngộ, thiện hay ác, nhân hay quả, chỉ là tâm ta. Không có mảy may nào hiện hữu ngoài tâm. Thiền giả hoàn toàn gạt bỏ các kiến văn giác tri trước của mình. Ở đây uyên bác hay thông minh đều vô ích. Đúng ra Thiền giả phải xem cả Thế Giới như là hư ảo. Tất cả những gì ý thấy chỉ là ảo ảnh, hình ảnh trong gương như mặt trăng phản chiếu dưới nước, những âm thanh mà y nghe là những tiếng thầm thì của gió thổi qua rặng cây. Y phải xem tất cả các tướng như là mây trôi trên trời – biến đổi và không thực. Không những chỉ thế giới bên ngoài, mà tất cả những tư tưởng tập tục, say mê cuồng si, và dục vọng trong tâm cũng vậy, vô tự tính, không thực hữu vô căn để, và phù trầm. Bất cứ khi nào một ý tưởng móng khởi, phải cố tìm ra căn nguyên nó; đừng để nó hiện hành dễ dàng hoặc bị nó loạn hoặc. Nếu chư vị tu tập được như vậy, tức là chư vị đang làm một công việc vững chắc.

 

          Có rất nhiều công án giúp chư vị tu tập giữa sự náo động của hoạt động thế tục, chẳng hạn như công án, “Ai là kẻ niệm danh Phật?”. Mặc dù công án này hữu ích nhất, ông phải nhìn nhận rằng nó chỉ là một viên đá để gõ cửa; khi cửa mở rồi phải dứt nó đi. Để tham công án ông phải có tính cương quyết, lòng quả quyết chắc chắn, và lòng nhẫn nại vững bền. Không được có một chút do dự lưỡng lự, cũng không được hôm nay tham một công án, mai tham một công án khác. Không được có bất cứ một hoài nghi gì về việc đạt được Ngộ, hoặc về công án quá sâu xa bí hiểm.v..v.. Tất cả những tư tưởng như vậy là trở ngại.

 

Bây giờ tôi vạch ra cho chư vị, để chư vị có thể nhận ra chúng sau này khi chúng khởi dậy. Khi dụng công được tốt đẹp, các sự vật ở thế giới ngoại tại sẽ không làm phiền chư vị lắm. Nhưng phiền phức ở cái chỗ là các vọng tưởng sẽ khởi dậy kịch liệt trong tâm trí chư vị mà không có nguyên do rõ rệt nào cả. Đôi khi khát vọng và lòng dục tuôn trào; đôi khi một mối xao xuyến không mô tả được lộ ra. Nhiều trở ngại khác cũng xuất hiện. Tất cả những khó khăn này sẽ làm mệt thân tâm chư vị, đến nỗi chư vị không còn biết phải làm gì. Lúc ấy chư vị phải nhận thức rằng tất cả những kinh nghiệm phiền não này là do nỗ lực thiền định của chư vị gây ra, làm hiện các chủng tử tập tục ẩn sâu trong Tàng Thức (A- lại- da) của chư vị từ thời vô thủy. Ở giai đoạn quyết định này, chư vị phải nhận ra chúng hoàn toàn và vượt qua chúng. Đừng bao giờ xem chúng là thực; đừng bao giờ để chúng kiểm soát và loạn hoặc. Chư vị phải tịnh dưỡng tâm trí. Luôn luôn chú ý, và dạn dĩ nhìn ngay vào khởi điểm của vọng niệm. Nhìn vào nó tận đáy; xô đẩy tâm trí tới, mãi đến [cảnh giới bất khả thâm nhập]! Tự nói với mình, “Ở trong ta không có cái gì như vậy; người từ đâu tới? ta phải thấy bản mặt người!”. Bằng cách này nỗ lực tâm trí, cho đến tận cùng tận diệt tất cả dấu vết của [tư tưởng] giết chúng và làm tất cả các thần linh và ma quỉ phải kêu gào. Nếu chư vị dụng công như vậy, chẳng mấy chốc tin lành sẽ đến với quý vị.

 

Nếu chư vị có thể phá vỡ một tư tưởng ra thành từng mảnh, tất cả các tư tưởng lập tức bị tước lột. Điều này hẳn giống như sự ló dạng của một hồ nước trong trẻo khi sương mù đã tan biến. Sau trạng thái này; chư vị sẽ cảm thấy dễ chịu và thanh thoát vô cùng, đầy niềm vui vô hạn. Nhưng đây chỉ là bắt đầu biết dụng công, điều ấy không có gì tuyệt diệu cả. Đừng bao giờ vui mừng và đắm mình trong kinh nghiệm cuồng bỉ này, nếu không, con ma vui vẻ ám chư vị.

 

          Những người mà trở ngại quá lớn, chẳng từ tham dục quá mạnh, và tư tưởng tập dục quá thâm căn cố đế trong Tạng Thức, không biết phải quán tâm họ ra sao hoặc tham công án ra sao, phải tập lạy Phật, tụng kinh, và sám hối. Những người này cũng phải trì chú. Vì qua các biểu tượng huyền bí của chư Phật người ta có thể vượt qua trở ngại. Như thế là bởi vì tất cả các chú đều là biểu tượng tâm Kim Cương của chư Phật. Cầm chúng trong tay như là những tầm sét, chúng ta có thể đập tan tất cả chướng ngại. Tinh yếu của lời dạy bí truyền của chư Phật và Tổ quá khứ bao gồm trong các chú. Sự dị biệt ở đây là Đức Phật nói ra cho chúng ta minh bạch, trong khi các Thiền Sư giữ vấn đề bí mật và không nói về nó. Chỉ bởi các Thiền Sư sợ thiên hạ chấp trước, hay hiểu lầm sự tu tập này chứ không phải chính xác các Thiền Sư không dùng chúng. Tuy nhiên, dể tu tập chú, ta phải tập đều đặn. Sau một thời gian ta sẽ thấy chúng rất hữu ích: nhưng ta không bao giờ được hy vọng hay trông mong một đáp ứng kỳ diệu từ chư Phật.           

 

Điều quan trọng là ta phải biết có hai loại Thiền giả: những người đã “Ngộ” trước rồi mới tu, và những người tu trước rồi mới “Ngộ”. Cũng có hai loại “Ngộ”: “Giải Ngộ” và “Chứng Ngộ”. “Giải Ngộ” có nghĩa là biết tâm nhờ giáo lý và lời nói của chư Phật và Tổ, nhưng ở đây đa số người lại rơi vào tư lương và phân biện, và không thể cảm thấy tự do khi chạm mặt với các hoạt động và xung đột của đời sống. Tâm họ và ngoại cảnh gián cách nhau -  không tương dung hay tương nhiếp; vì thế họ luôn luôn chạm phải trở ngại. Như vậy gọi là “Tựa Ngộ” chứ không phải “Chân Ngộ”.            

 

“Chứng Ngộ” là kết quả của sự tham công án bền bỉ và đều đặn. Những người này xô đẩy tâm trí mình đến tận cùng sẽ thấy rằng các tư tưởng của mình hốt nhiên dứt bặt. Tức thì họ thấy tự tâm mình, như thể một đứa con lêu lỏng đã gặp người mẹ ở ngã tư đường ngoài phố. Như người uống nước, hành giả biết nó nóng hay ấm, không còn có chỗ để hoài nghi; hành giả cũng không diễn tả được cảm giác ấy cho ai khác. Đó là “Chân Ngộ”. Đạt được kinh nghiệm “Ngộ” này, người ta hòa tâm mình với tất cả hoàn cảnh của đời sống, rửa tất cả những nghiệp hiện tiền và các dòng tham dục. Ngay cả những hoài nghi và biến dịch cũng hòa với chân Tâm.    

 

Tuy nhiên, “Chứng Ngộ” cũng có những thâm độ khác nhau. Nếu một người có thể tham công án và thâm nhập vào hang ổ của Tám Thức, lật ngược lại cái hang mù tối và bằng một cái nhảy vĩ đại và vượt ngay qua, lúc ấy chẳng còn gì cho người ấy chứng quả. Người ấy thật xứng đáng được coi là có căn cơ cao. Sự thực hiện của người ấy là sâu xa nhất. Nhiều người tu tập qua những bậc dần dần chỉ đạt được mức nông cạn. Điều tệ nhất là thỏa mãn với một sự chứng đắc nhỏ và cạn. Đừng bao giờ để mình rơi vào các ảo giác của ảo tưởng. Sao vậy? Nếu không vượt qua Tám Thức, bất cứ sự vật tuyệt diệu nào mà ta thấy hay làm cũng chỉ là biển Thức và tình. Nếu ta coi các hiện tượng này là thật, tức là nhận giặc làm con. Xưa, các bậc cổ đức nói rõ rệt:           

 

“Các hành giả vô minh không biết Chân Lý, chấp trước cái ‘tâm linh tuyệt đối’ tưởng tượng, mà thật ra là căn do khiến họ trôi lăn trong Luân Hồi từ thời vô thủy. Chỉ những kẻ ngu mới gọi cái tâm linh tuyệt đối chấp trước này là “Bổn Lai Nhân”:           

 

Vô thủy thời lai sinh tử bổn, si nhân hoán tác bổn lai nhân.          

 

Đó là cái cửa duy nhất mà ta phải thấu qua.            

 

Cái gọi là đốn ngộ tiệm tu chỉ người đã được “Ngộ” một cách triệt để, nhưng vẫn chưa tẩy trừ được một lần cho xong tất cả các tư tưởng tập tục trong mình. Người ấy phải cố đồng hóa cái “ngộ” của mình với tất cả những gì người ấy gặp phải trong hoạt động thường nhật, và phải sử dụng thực tiễn cái kiến giải của mình bằng cách hòa hợp nó với các biến cố khách quan. Hễ cứ một phần của tướng khách quan hòa hợp với “Ngộ”, thì một phần của Pháp Thân được khai mở; và cứ một phần của vọng tưởng tiêu tán thì một phần Trí Huệ (Prajñā) phát hiện.            

 

Điểm cốt yếu của việc tu tập này là tinh tấn.

 

 

 

 

 

 

Chú thích:

 

(1) Các môn đồ thiền Trung Hoa chia Phật giáo thành hai nhóm rõ rệt. Một gọi là Tông, và một là Giáo. Tông là giáo lý Thiền, và Giáo là giáo lý của tất cả tông phái Phật giáo khác, gồm tất cả các tông phái của Tiểu Thừa và Đại Thừa Phật giáo.

(2) Như chính Đức Phật tiên tri, Phật giáo đã mạt dần theo sự suy đồi tinh thần của con người. Theo lời tiên tri của đức Phật, Phật giáo sẽ suy tàn dần cho đến khi mất hẳn khỏi trái đất này. Lúc ấy Phật Di Lặc sẽ giáng sinh xuống thế gian này, và Phật giáo của thời sau này – thời kỳ Phật Di Lặc sẽ không bị suy tàn kiểu như Phật giáo của thời hiện tại – thời kỳ của Phật Sakyamuni – đang lâm phải.

 

Kinh Thi in lần thứ I 1972

 

 

 

 

  • Bằng cách dần dần trở nên quen biết với bản tánh này, sẽ có được quán chiếu đích thực, nó đạt đến tột đỉnh với sự có được tự tin. Một khi đã có tự tin này, bạn chỉ đơn giản ở trong trạng thái đó và giữ gìn sự tự tin đó mà không thêm vào bất kỳ tạo tác nào. Bản tánh tối vi tế này không nhiễm ô bởi những lỗi lầm của sanh tử, thế nên chớ trộn lẫn nó với bất kỳ cái gì khác. Chớ cố gắng tìm kiếm cái gì khác để làm ; chỉ đơn giản ở trong sự tự tin đã đạt được. Hãy an trụ thường hằng trong trạng thái này và thỏa mãn với sự nhận biết đó.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.469
  • Không có gì như tình thương của bậc cha mẹ đối với con cái. Khi ta suy xét về lòng tốt mà cha mẹ ta đã biểu lộ với ta thì chúng ta nên suy tưởng rằng tất cả chúng sinh chịu đau khổ trong vòng sinh tử đã có lúc này hay lúc khác từng là những cha mẹ tốt lành và từ ái của chúng ta. Đây quả nhiên là nguyên nhân để sự phát khởi tự nhiên của lòng bi mẫn, là Bồ đề tâm, tràn trề trong chúng ta, Bồ đề tâm dâng tràn đối với tất cả chúng sinh, thậm chí đối với một con côn trùng bé xíu, con muỗi nhỏ bé nhất.Là các Phật tử, những hành giả Dzogchen, các bạn phải từ bỏ mọi hành vi làm hại bởi các bạn phải nhận ra rằng tất cả chúng sinh đã từng là những cha mẹ của các bạn. Nhận thức đó phải hiện diện trong tâm các bạn. Các bạn cần cảm nhận lòng thương yêu hơn nữa đối với chúng sinh đang ở trong tình huống khó khăn và kém may mắn hơn các bạn và nỗ lực trong khả năng tốt nhất của các bạn để làm lợi lạc cho họ.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.265
  • ss

    Đây là một cái nhìn sơ lược tổng quát về Bốn Yoga. Tính chất định nghĩa của yoga thứ nhất, nhất tâm, là nhận biết bản tánh của tâm bạn. Hơn nữa, bạn chứng ngộ rằng những xuất hiện không là gì khác hơn bản tánh của tâm bạn, và bản tánh ấy giống như sự trống không của không gian. Yoga thứ hai thoát khỏi tạo tác ý niệm, gồm nhận biết rằng mọi xuất hiện là giả hợp ; bạn chứng ngộ rằng bản tánh thật sự của tâm là trống không và thoát khỏi mọi tạo tác ý niệm. Thứ ba, trong yoga của một vị, bạn nhận biết rằng sanh tử và niết bàn đồng một bản tánh, nó là chìa khóa để đạt đến giác ngộ. Trong yoga thứ tư, yoga của không-thiền định, bạn nhận biết rằng toàn bộ sanh tử và niết bàn vốn là không sanh, không trụ và không diệt. Nhị nguyên căn bản nhất của chủ thể và đối tượng vốn là không có nền tảng và là một bản tánh, Pháp thân.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.862
  •  

     

    Nói đến tâm này, Padmasambhava nói rằng bản tánh vốn có của nó, tánh giác nội tại, đã hiện hữu từ nguyên thủy, nghĩa là nó không được tạo ra ở một điểm nào đó trong thời gian. Nhưng nó đã không được nhận biết vì vô minh hay không giác của chúng ta trong mọi đời trước. Nó giống như một viên ngọc quý tự tỏa sáng mà trải qua vô số thế kỷ đã bị bọc thêm nhiều lớp tạp chất. Những lớp che chướng này là phiền não chướng và sở tri chướng. Những phiền não chướng chủ yếu là những phiền não tiêu cực và ích kỷ của chúng ta, như giận dữ, tham lam, ghen tỵ, kiêu căng... Những sở tri chướng là những ý niệm tri giác sai và lầm lẫn về thực tại.

    Ngay lúc này, dù cho sự hiện diện sáng rõ hay tánh giác vẫn không ngừng dứt, nhưng chúng ta không trực tiếp gặp nó mặt đối mặt. Và dù sự hiện hữu của nó thì không chỗ nào bị che ám chướng ngại hay đứt đoạn, chúng ta vẫn không nắm hiểu hay nhận ra nó. Ba dòng ở trên của bản văn ám chỉ bản tánh của tâm theo Tinh Túy của nó, đó là tánh Không, Bản Tánh của nó là sự sáng tỏ quang minh, và Năng Lực của nó thì không bị chướng ngại hay đứt đoạn và thấm nhuần khắp.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.123
  • canh-dep-que-lam      Cần phải ngộ mới được! Sau khi ngộ rồi, cần phải gặp thiện tri thức. Nhà ngươi nói: Ngộ rồi là xong, đâu cần gặp thiện tri thức. Nếu ngộ rồi lại gặp thiện tri thức thì đương lúc ra tay làm phương tiện hằn tự có đường xuất thân, chẳng làm mù mắt người học. Còn nếu chỉ ngộ được đầu cây cải khô thì chẳng những làm mù mắt người học mà khi chính mình cử động trước tiên phạm nhằm mũi nhọn bị thương tay.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.163
  •     Có nhiều phương diện của tâm, nhưng có hai phương diện nổi bật hơn cả. Đầu tiên là cái tâm thông thường mà người Tây Tạng gọi là Sem. Một bậc thầy đã định nghĩa: “ Đó là cái tâm có khả năng phân biệt, có ý thức về nhị nguyên( hoặc lấy hoặc bỏ một đối tượng bên ngoài) đó là tâm”. Đó là thứ có thể giao thiệp với một thứ gì khác, bất cứ thứ gì khác, vốn được xem là điều lĩnh hội, khác với năng lực lĩnh hội. Sem là cái tâm suy nghĩ, tâm nhị nguyên, phân biệt, chỉ có thể vận hành tương quan với một điểm quy chiếu ở ngoài, bị nhận lầm và chỉ là một cái bóng được chiếu ra.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 2.007
  • Tám Tỉnh Giác của bậc Đại Nhân
    (Hachidaininkaku) 

     

    Rốt ráo, Phật giáo được cho là thực tiễn, và sự dè dặt truyền thống của nó về triết học là do bởi trong sự kích thích tập luyện trí thức có khuynh hướng quên đi rằng những giáo lý là để áp dụng. Một vị thầy vĩ đại của Phật giáo Trung Hoa đã nêu điều đó trong những lời này : trước hết là hiểu, không có nó hành động sẽ mù lòa ; rồi đến hành động, không có nó hiểu sẽ không có hiệu lực ; cuối cùng hiểu và hành động thành một.  

    “Chớ làm điều xấu, hãy làm điều tốt, hãy làm trong sạch tâm – đây là lời dạy của chư Phật”. Công thức cổ này của Phật giáo tóm tắt thông điệp của ba chương cuối của Chánh Pháp Nhãn Tạng như được trình bày trong cuốn sách này. Chúng cùng làm rõ ba giai đoạn hay ba yếu tố căn bản của Thiền được tìm thấy khắp toàn bộ giáo lý Phật giáo : xa lìa, hòa nhập và sự hòa hợp giữa xa lìa và hòa nhập.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.455
  • say me voi nhung phong canh thien nhien binh yen 4 Say Mê Với Những Phong Cảnh Thiên Nhiên Bình Yên           Phải tọa thiền như thế nào mới đúng? Khi tọa thiền thân thể cần phải thoải mái mới đúng.

              Tọa thiền là đang tu hành “thân là Bồ-đề(1) (khai ngộ)”, cũng là thể chứng Bồ-đề; vì nếu chúng ta thực sự đang Tọa thiền thì sẽ không có phân biệt giữa tu hành và thể chứng. Đó là trí tuệ “Như thị” (as, is), là trí tuệ “sự vật thế nào thì chính là thế ấy”. Tọa thiền là đang tu Phật đạo, cho nên cũng là đang tu sinh mệnh chính mình.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 823
  •  

    Ngồi yên - hay thiền định - chẳng phải là nhất định phải ngồi. Ngồi yên thực sự là chẳng hiện thân ý trong ba cõi, đó là tâm thiền định. Tâm thiền định này là tâm Không, không trụ vào đâu cả và tâm thiền định ấy đạt đến pháp tánh. Tâm thiền định ấy chính là pháp tánh. Theo ngài Duy Ma Cật, thiền định không phải là một hình tướng ngồi hay đứng, mà thiền định là tương ưng với pháp tánh, và pháp tánh này thì không sanh không diệt, không đến không đi, không nằm không ngồi. Pháp tánh này xưa nay thường định. Và thiền định là ngộ nhập pháp tánh ấy, không cứ gì ngồi hay nằm. Thấu đạt pháp tánh tức là ngồi yên, dù thân có đang làm gì.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 804
  •    I. THỰC TẠI THẾ NÀO ?

    Lâu nay bao người cứ bàn về thực tại, nói về thực tại, luận về thực tại và cãi về thực tại rất nhiều, song thế nào là thực? Thực tại có hay không? Ở đâu ? Dường như câu hỏi vẫn còn đang…! Bởi lẽ, thực tại là cái luôn luôn hằng hữu chưa từng thiếu vắng mà luận về nó, bàn về nó thì sao? Có thực tại chưa ?

    Chính đây là điểm lầm lẫn mà người không hay biết. khi chúng ta nói về nó, tức đã gián tiếp với nó rồi. Thí dụ có người hỏi về anh A, ta trả lời: Anh A cao lớn, mắt to, da trắng, tiếng nói sang sảng v.v… thì lúc đó có mặt anh A ở đó chăng? Nếu lúc đó đang có mặt anh A thì ta chỉ cần trỏ ngay anh, bảo: Đây này! là xong, khỏi diễn tả dài dòng.

     

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.004
  •  

          Vấn đề lớn này, Đạo, mọi người đều sở hữu nó từ đầu. Đạo luôn luôn ở cạnh chư vị. Điều khó khăn là từ vô thủy đến giờ Diệu Giác vẫn bị che khuất bởi các hạt giống của tham ái, các dòng tư tưởng, sự lưu xuất của tư lương phân biện, và lề lối suy tưởng tập tục đã ăn sâu. Vì thế chúng ta chưa bao giờ nắm giữ được Chính giác, thay vì thế chỉ lẩn quẩn giữa những chiếc bóng vọng tưởng về tâm, thân và thế gian. Chính vì thế mà trôi lăn mãi trong Luân Hồi. Xưa chư Phật Tổ hiện thân trong thế giới này, sử dụng hàng vạn lời lẽ và nhiều phương pháp dạy, hoặc Giáo hoặc Thiền(1). Tất cả lời dạy của chư Phật Tổ chẳng là gì khác hơn những dụng cụ để đập tan sự “chấp trước” quen thói thâm nhiễm tư tưởng chúng sinh.

     

          

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 963
  • Giải thoát hay Tánh Không thì không chỗ nào không có,nên bất cứ ở đâu chúng ta cũng có thể gặp nó. Tánh không, vô tự tánh của cái tôi và tất cả sự vật thì có thể tìm thấy nơi sự vật cũng như chính nơi tâm thức này. Bởi vì tánh không là bản tánh của sự vật và của tâm thức.

    Trong bài này, chúng ta tìm hiểu và thể nghiệm tánh không nơi tâm thức hiện có của chúng ta, nơi không có tư tưởng và nơi đang có tư tưởng. Tánh không nằm giữa hai tư tưởng thường được nói đến trong hai truyền thống phật giáo Tây Tạng và Trung Hoa, mà Thiền tông , Đại Toàn Thiện (Dzogchen), và Đại Ấn (Mahamudra) là những đại diện tiêu biểu.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 854
  •  

    Hỏi: Nếu nói Phật tánh hiện ở thân này, đã ở trong thân không lìa phàm phu. Cớ sao nay tôi chẳng thấy Phật tánh? Xin giải rõ khiến được khai ngộ.

     

     

    Ðáp: Ở tại thân ông mà tự ông chẳng thấy. Suốt mười hai giờ ông biết đói biết khát, biết lạnh, biết nóng, hoặc vui, hoặc giận,v.v... Trọn là vật gì? Lại sắc thân là địa thủy hỏa phong bốn duyên hội hợp, cái chất của nó là vô tình, đâu hay thấy nghe hiểu biết? Cái thấy nghe hiểu biết nhất định là Phật tánh của ông. Tổ Lâm Tế nói rằng: “Bốn đại chẳng biết nói pháp, chẳng nghe pháp. Hư không chẳng biết nói pháp, chẳng nghe pháp. Chỉ cái rõ ràng riêng sáng ở trước mẳt của ông, cũng chớ phân tích nó, cái ấy mới biết nói pháp và nghe pháp”.
    Ba chữ “Chớ phân tích” là pháp ấn của chư Phật và cũng là tâm bổn lai của ông. Thế thì Phật tánh ở tại thân ông, đâu có nhờ cầu bên ngoài? Ông nếu chẳng tin, tôi sẽ nêu lên nhơn duyên nhập đạo của các bậc thánh xưa, để cho ông trừ hết nghi hoặc. Ông sẽ tin là chơn thật.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 950
  • một số người băn khoăn vì không biết có cần thiết phải có một vị đạo sư tâm linh hay không? Chúng ta có thể tự học đạo được hay không? Để học được những kỹ năng như đọc sách, nghề mộc, giải phẫu hay ngay cả lái một chiếc xe chúng ta cần phải có người dạy. Tự học là một việc khó khăn đôi khi rất nguy hiểm. Thử hình dung ra cảnh chúng ta cố gắng tự học lái một chiếc máy bay! Rõ ràng là có nhiều hiểm họa không lường được. Để học những nghề nghiệp thông thường chúng ta còn phải có thầy dạy đàng hoàng mới nên thì chắc chắn rằng để học đạo chúng ta phải cần sự hướng dẫn của những bậc đạo sư có phẩm hạnh. Chúng ta không thể xem nhẹ và bất cẩn trong những vấn đề tâm linh, những vấn đề cao sâu có ảnh hưởng lâu dài trong đời này và trong những đời sau.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 911

  • Với sự tin hiểu, ở đâu người ta cũng thấy Diệu Pháp Liên Hoa, thời gian nào cũng là sự hiển xuất của Diệu Pháp Liên Hoa. Không gian và thời gian đã ngấm đầy Phật chất để chuyển hóa thành một cách thế biểu hiện của Phật lực, một sự diễn xuất của Phật tánh và do đó không còn ngăn ngại, không còn ta người, không còn đây kia, sống chết, khổ đau…

    Sống trong Pháp Hoa, nói theo kinh Lăng Nghiêm, là chuyển năm ấm, sáu nhập, mười hai xứ, mười tám giới và bảy đại, nghĩa là toàn bộ thế giới, chúng sanh về bản tánh của chúng là Như Lai tạng. Khi người ta lặn đến đáy cùng của tâm thức rồi đi ngược ra trở lại, bấy giờ thế giới và chúng sanh chính là sự “lộn trái” của tâm, là sự bùng vỡ thành muôn ngàn hình tướng của tâm, bởi thế tất cả chỉ là sự ứng hiện của tâm, tất cả chỉ là tâm.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 774
  •   Trong ngoài lặng lẽ chẳng vin đâu   

    Sáng suốt, hồn nhiên khỏi vọng cầu   

    Buông hết một phen đừng luyến tiếc

    Mới hay ngay đó thấy đạo mầu!

                (Viên Minh)

     Ngày nay, nhân loại đã tiến bộ rất xa về mặt khoa học, kỹ thuật, đã làm thay đổi bộ mặt thế giới từng ngày, từng giờ và thậm chí từng phút, từng giây, nên đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội v.v… đều được nâng cao một cách đáng kể.

    Nhờ phương tiện giao thông vận tải, phương tiện truyền thanh, truyền hình, mạng internet, vô tuyến viễn thông mà thế giới đã và đang hội nhập thành một cộng đồng quốc tế với qui mô toàn cầu hóa. Điều này đem đến biết bao phúc lợi xã hội, tiện nghi đời sống đủ để đáp ứng nhu cầu hưởng thụ ngày càng đa diện và phong phú của con người.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 811
  • Mục đích của tham thiền là minh tâm kiến tánh, tức quét trừ tự tâm ô nhiễm, để chân thật thấy rõ bổn lai diện mục của tự tánh. Ô nhiễm tức là vọng tưởng chấp trước. Tự tánh tức là trí huệ đức tướng của Như Lai. Đối với đức tướng trí huệ của Như Lai, Phật và chúng sanh đều đồng có đầy đủ, không hai không khác. Nếu xa rời được vọng tưởng chấp trước thì tự mình sẽ đắc được trí huệ đức tướng của Như Lai, tức là Phật. Ngược lại thì làm chúng sanh. Chỉ vì chúng ta từ vô lượng kiếp cho đến nay, mê mờ lưu lạc trong vòng sanh tử và bị nhiễm ô đã lâu, nên không thể thoát khỏi được vọng tưởng chấp trước mau chóng được. Muốn thấy rõ bổn tánh chân thật, phải nên tham thiền. Vì thế, điều kiện tiên quyết nhất khi tham thiền là phải dẹp trừ vọng tưởng. Làm sao dẹp trừ vọng tưởng ? Phật Thích Ca thuyết pháp rất nhiều, nhưng đơn giản không ngoài chữ "ngưng". "Ngưng tức Bồ Đề".

    Thiền tông do Đạt Ma Tổ Sư từ bên Ấn Độ truyền qua Đông Độ; đến đời Lục Tổ thì gió thiền lan rộng khắp nơi, chấn động chiếu sáng cổ kim. Những điều tối quan trọng mà Đạt Ma Tổ Sư cùng Lục Tổ thường dạy là "dẹp hết muôn duyên, chẳng sanh một niệm".

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 899
  • http://bndosomething.files.wordpress.com/2013/07/page3_1.jpg

    Linh nguyên minh hạo khiết

    Chi phái ám lưu chú

    Chấp sự nguyên thị mê

    Khế lý diệc phi ngộ

    Nguồn linh sáng trong veo

    Chi phái thầm tuôn trào

    Chấp sự vốn mê muội

    Khế lý đã ngộ đâu

    Mạch nguồn là một cái gì đó tuyệt diệu, không thể mô tả bằng lời, không ngôn ngữ nào có thể chạm đến. Điều Đức Phật nói đến là mạch nguồn của giáo lý, siêu việt mọi so sánh xấu tốt. Điều này rất quan trọng. Những gì mà tâm quý vị có thể nắm bắt và hình thành khái niệm đều không phải là mạch nguồn. Mạch nguồn là điều mà chỉ một vị Phật mới biết được.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 940
  •  

    Tâm đến từ tánh Không và tan hòa trở lại vào tánh Không, giống như nước đông lại thành băng và lại tan chảy ra.  

    Tượng Đức Milarepa trong Tu viện Drirapuk, Núi Kailash, Tây Tạng 

    Vào mùa thu Milarepa đi tới một địa điểm được gọi là Gepa Lesum, nơi người dân đang thu hoạch mùa màng. Ngài đang khất thực thì một thiếu nữ tên là Nyama Paldarbum nói: “Ông đi tới căn nhà ở đằng kia, con sẽ gặp ông và tặng ông thực phẩm.”  

    Milarepa tới trước căn nhà và dùng gậy gõ nhẹ vào cửa. Không có tiếng trả lời. Ngài gõ lại lần nữa, một bà lão bước ra và nói: “Những người được gọi là hành giả như các ông xin ăn rất nhiều và khi không có người ở nhà thì các ông xông vào và trộm cắp, đó chính là những gì ông đang dự định làm!”

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 998
  •  

    VÔ NIỆM CỦA LỤC TỔ HUỆ NĂNG
    Nguyễn Thế Đăng

     

    1. Tâm vô niệm

    Luận Đại thừa Khởi tín của ngài Mã Minh nói:

    “Thể của tâm lìa tất cả niệm, nghĩa là vốn vô niệm. Nó như hư không, không chỗ nào mà chẳng toàn khắp. Pháp giới Một tướng này tức là Pháp thân bình đẳng của chư Như Lai. Pháp thân này tất cả chúng sanh vốn có, nên gọi là Bản giác”.

    Luận nói tiếp:

    “Thế nên chúng sanh nào quán sát vô niệm thì chúng sanh đó đã hướng về Trí Phật”.

    Kinh Thắng Man, chương Tự tánh Thanh tịnh nói: “Như Lai tạng không có sanh không có tử. Như Lai tạng không có tướng hữu vi. Như Lai tạng thường trụ bất biến… Như Lai tạng là pháp giới tạng, là pháp thân tạng, là xuất thế gian thượng thượng tạng, là tự tánh thanh tịnh tạng. Như Lai tạng tự tánh vốn thanh tịnh, vọng tưởng phiền não chẳng thể nhiễm ô vì chúng chẳng thể xúc chạm”.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.224

Top Bài Viết

Top Music

Top Book Mp3

Top Music Album

 
© Copyright 2013 - 2019 PHATAM.ORG - Chịu trách nhiệm nội dung: Thị Đức bienman0811@yahoo.com - Hỗ trợ kỹ thuật votamthoai@gmail.com