NHÂN QUẢ ĐỒNG THỜI - Nguyễn Thế Đăng

Nhân quả đồng thời được nói một cách cô đọng trong kinh Pháp Hoa , kinh Hoa Nghiêm… và rãi rác trong kinh điển Đại thừa . Có lẽ người đầu tiên dùng thành ngữ  “ nhân quả đồng thời ” là Đại Sư Trí Khải ( thế kỷ thứ 6 ) trong Pháp Hoa huyền nghĩa  và trong các tác phẩm Thiên Thai tông của ngài , y cứ trên kinh Pháp Hoa , Thành ngữ này cũng là một giáo lý chính yếu của Hoa Nghiêm tông vào thế kỷ thứ 7 .

 

Nói một cách vắn tắt và đơn giản , nhân quả đồng thời là quả giác ngộ , quả Phật vốn đã nằm nơi nhân tu hành để đạt đến giác ngộ , để thành Phật .

 

Nhân quả thành Phật là “ Nhân địa pháp hạnh của Như Lai ” được nói trong kinh Viên Giác :

“ Bấy giờ Bồ tát Văn-thù ở trong đại chúng từ chỗ ngồi đứng dậy , đảnh lễ dưới chân Phật , nhiễu quanh bên phải ba vòng , chắp tay quỳ thẳng mà bạch rằng : Thế Tôn đại bi , xin đại chúng trong Pháp hội này mà giảng nói nhân địa pháp hạnh bản khởi thanh tịnh của Như Lai cùng chỗ phát tâm thanh tịnh của Bồ Tát trong Đại thừa , làm sao xa lìa các bệnh , khiến cho chúng sanh đời mạt thế sau này cầu nhập Đại thừa khỏi sa vào tà kiến  ”.

 

Đức Phật trả lời :

“ Thiện nam tử ! Bậc Pháp vương Vô thượng có pháp Đại tổng trì Đà- la- ni gọi là Viên Giác , từ Viên Giác này lưu xuất tất cả Chân Như thanh tịnh , Bồ-đề Niết-bàn cùng các Bà-la-mật truyền dạy cho Bồ-tát . Nhân địa bản khởi của tất cà Như lai đều y vào tánh giác thanh tịnh tròn đầy soi khắp này mà vĩnh viển đoạn dứt vô minh , thành tựu Phật đạo ”.

 

Để đạt đến quả giác ngộ viên mãn , để đạt đến quả là cái giác trọn vẹn ( Viên Giác ) thì nhân cũng là tánh giác . Luận đại thừa khởi tín nói đến Thủy giác và Bản giác . Thủy giác là cái giác nơi người tu , Bản giác là cái giác viên mãn vốn sẵn . Tu hành là thể nghiệm Thủy giác cuối cùng là một với Bản giác .

 

Trong kinh Lăng nghiêm , Đức Phật nói :

Nếu các ông muốn tu Bồ-tát thừa để vào tri kiến của Phật , thì nên xét kỹ cái nhân địa phát tâm và cái Quả địa giác ngộ là đồng nhau hay khác nhau . A nan ! Nếu ở nơi tâm địa mà lấy cái tâm sanh diệt làm gốc , y vào đó mà tu để cầu quả bất sanh bất diệt của Phật thì không thể có chuyện ấy được ”

“ Những người tu hành không thành được giác ngộ , vô thượng đếu do không biết hai thứ căn bản , lầm lộn tu tập , cũng như nấu cát mà muốn thành cơm , dầu trải qua số kiếp nhiều như bụi , rốt cũng chẳng được ”.

Thế nào là hai thứ căn bản ? Một căn bản sanh từ vô thủy , tức là ông và các chúng sanh hiện giờ dùng cái tâm bám víu theo duyên ( tâm phan duyên ) mà làm tự tánh . Hai là thể Bồ-đề Niết-bàn xưa nay vốn thanh tịnh từ vô thủy . Tức là cái chân tâm vốn sáng soi của ông hiện giờ , hay sanh các duyên nhưng ông lại đuổi theo các tướng duyên ấy mà bỏ quên nó . Vì các chúng sanh bỏ quên cái Vốn Tự Sáng này nên tuy trọn ngày sử dụng nó mà chẳng tự biết , oan uổng lạc vào sáu nẻo ”.

 

Kinh Đại Bát Nhã nói Bồ-tát phải tu hành tương ưng và ngộ nhập Chân Như hay tánh Không , pháp tánh , thật tế …Chân Như hay tánh Không này là nhân địa tu hành của Bồ-tát :

“ Bồ-tát biết các bậc khác nhau : phàm phu . Thanh Văn , Độc Giác , Bồ-tát ,  Như lai . Tuy nói có khác nhau , nhưng trong tánh Chân Như của các pháp không có sai pháp , không phân biệt , không hai , không khác . Bồ-tát này thật sự ngộ nhập Chân Như của các pháp mà trong Chân Như ấy không có sự phân biệt ”( Phẩm tướng bất thối ).

 

Một định nghĩa của Chân Như là : Chân Như Như Lai không đến không đi , nên nói Tu-bồ-đề theo Như Lai sanh . Chân Như Như Lai tức Chân Như tất cả các pháp . Chân Như Như Lai không ngăn ngại . Chân Như Như lai và Chân Như tất cả các pháp đồng một Chân Như , không hai không khác , không tạo không tác . Chân Như Như Lai không quá khứ chẳng vị lai chẳng hiện tại . Chân Như tất cả các pháp cũng chẳng quá khứ , chẳng vị lai chẳng hiện tại . Chân Như quá khứ , Chân Như vị lai , Chân Như hiện tại là bình đẳng , và bình đẳng với Chân Như Như Lai , đồng một Chân Như , bình đẳng , không hai , không khác ”( Phẩm Chân Như ).

 

Như vậy quả là sự giác ngộ viên mãn  tánh Viên Giác , hay Chân Tâm bất sanh bất diệt , hay Chân Như Phật tánh …Quả đó có nhân cũng là tánh Viên Giác , Chân Tâm bất sanh bất diệt , Chân Như Phật Tánh …Nói cách khác , Bồ-đề tâm tương đối trên đó Bồ-tát tu hành , cũng chính là Bồ-đề tâm tuyệt đối .

 

Điều quan trọng là nhân Phật hay quả Phật đều có ngay tại đây và bây giờ . Tin được như vậy và sử dụng thiền định , thiền quán và mọi phương tiện khác ( bởi vì mọi pháp môn đều dẫn vào Chân Như này ) thì đến lúc nào đó , vô minh bớt dầy đặc , chúng ta sẽ trực tiếp thấy cái nhân quả đồng thời ấy . Bởi vì từ vô thủy chúng ta vẫn sống trong cái nhân quả đồng thời ấy dù biết hay không biết .

 

Dù gọi nó bằng gì , thì nó vẫn có sẵn ,vẫn ‘ hiện tiền’ như ‘ hạt châu trong chéo áo’ Công việc đích thực của đạo Phật là chứng ngộ nó , một cách ‘ nhân quả đống thời ’, ‘chẳng trải tăng kỳ được Pháp thân ’, như sự chứng ngộ của ngài A-nan được tường thuật trong kinh Lăng Nghiêm . Lục Tổ Huệ Năng cũng đã có một kinh nghiệm trực tiếp và thính lình về cái đó :

Nào ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh

Nào ngờ tự tánh vốn không sanh diệt

Nào ngờ tự tánh vốn tự đầy đủ

Nào ngờ tự tánh vốn không động lay

Nào ngờ tự tánh sanh ra muôn pháp

 

Cũng vì kinh nghiệm ban đầu đó mà về sau Ngài dạy trong câu nói mở đầu trong kinh Pháp Bảo Đàn  : “ Này các thiện trí thức ! Bồ-đề tự tánh vốn vẫn thanh tịnh , chỉ dùng tâm ấy hẳn thành Phật ngay ”.

 

Chính vì cái nhân quả đồng thời vốn tròn đầy , sẵn đủ và trực tiếp tức thời này mà Thiền tông được gọi là Đốn giáo , Hoa Nghiêm tông và Thiên Thai tông được gọi là Viên giáo , và truyền thống Ấn tạng gọi là Đại Toàn Thiện ( mahasandhi , Dzogchen ) của phái Nyingma , là Đại Ấn ( Mahamudra ) của phái Kagyu …Tịnh độ cũng y cứ trên cái nhân quả đồng thời này : “ Thị tâm tác Phật , thị tâm thị Phật ”. Tâm ấy làm Phật ( niệm Phật , quán tưởng Phật ) , tâm ấy là Phật .

 

Trước hết chúng ta nhận thấy rằng nhân quả đồng thời không phải là một lý thuyết , dù lý thuyết ấy được rút ra từ kinh điển , mà là một sự thật do tâm chứng . nhân quả đồng thời không phải là một lý thuyết để các tông phải tranh luận tông nào hơn kém , cao thấp mà thực ra , ở cực điểm của kinh nào , tông nào cũng đếu có cái nhân quả đồng thời ấy , dù gọi bằng cái tên nào khác . Nhân quả đồng thời là một sự thật do tâm chứng , thế nên tùy vào mức độ của tâm đến đâu , người ta sẽ thấy nhân quả là cái đồng thời đến đó . Kinh Duy-ma-cật nói : “Tùy theo tâm thanh tịnh mà cõi Phật thanh tịnh ” . Tâm thanh tịnh và cõi Phật thanh tịnh là nhân quả đồng thời . một thành ngữ khác thường được nói nhiều trong Đại thừa , “ Sanh tử tức Niết-bàn ” .Đây cũng là nhân quả đống thời .

 

Sau đây chúng ta tìm hiểu thêm về cái nhân quả đồng thời ấy , nhất là trong các tông phái , để thấy tất cả đều quay về cái nhân quả đồng thời này .

 

- Nhân quả đồng thời nghĩa là Nhân tức là Quả , Quả tức là Nhân . Nói theo hệ thống Bát Nhã , Nhân tức là Quả , Quả tức là Nhân nghĩa là : “ Sắc tức là Không , Không tức là Sắc , Thọ Tưởng , Hành ,Thức cũng đều như vậy ”.

Ở đây , thế giới hiện tượng chính là thế giới bản tánh , chân lý tương đồi ( tục đế ) chính là chân lý tuyệt đối ( chân đế ).

- Theo hệ thống Duy thức , Nhân tức là Quả nghĩa là Thức tức là Trí , Toàn thức là Trí .

 

Kinh Lăng- già nói :

Biển tàng thức thường trụ

Gió cảnh giới khởi lên

Lớp lớp các sóng thức

Nhấp nhô mà chuyển sanh

Sắc thanh hương vị xúc

Cả thảy các trướng trạng

Chẳng khác không chẳng khác

Như biển và sóng biển

Bảy thức cũng như vậy

Đều là tâm duyên sanh

Ví như biển nước động

Có lớp lớp sóng chuyển

Bảy thức cũng như vậy

Trong tâm hòa hợp sanh

Tâm ý và các thức

Tướng trạng được phân biệt

Tâm thức chẳng lìa nhau

Vì cùng một bản tánh

Ví như biển và sóng

Hoàn toàn khong sai biệt

 

Các thức ( tất cả Nhân ) tức là Tâm , hay Trí ( hoàn toàn Quả ) toàn Thức tức là Trí là như vậy .

- Nhân quả đồng thời là trong nhân địa , không có thời gian và không gian ngăn cách . Thế nên Thiền tông nói : ‘ Đương xứ tiện thị ’, ‘ Xanh xanh trúc biếc , trọn là Pháp thân , rỡ rỡ hoa vàng , không gì chẳng phải là Bát Nhã ’.

 

Kinh Pháp Hoa nói ( ở đây chỉ trích ra một đoạn ngắn ):

Hoặc ở nơi đồng trống

Đắp đất thành chùa tháp

Nhẫn đến trẻ con giỡn

Gom cát thành tháp Phật

Những hạng người như thế

Đều đã thành Phật đạo

Hoặc người lòng vui mừng

Ca ngâm tán thán Phật

Nhẫn đến một tiếng nhỏ

Đều đã thành Phật đạo

Nhẫn người lòng tán loạn

Bước vào trong chùa tháp

Một xưng Nam mô Phật

Đều đã thành Phật đạo …

 

-                     Trong cái nhìn thấu suốt của kinh Viên Giác , thì “ Tất cả chúng sanh bổn lai thành Phật , sinh tử Niết- bàn như giấc mộng đêm qua ”.

Toàn tướng tức tánh , toàn bóng là gương , toàn sóng là nước , thề dụng không hai . Khi con sư tử làm bằng vàng thì mỗi đầu lông đều là vàng . Khi Tâm là Chân Không , Chân Như thì mọi khởi niệm đều là Chân Không Chân Như .

 

Kinh Viên Giác nói : “ Thiện nam tử ! tất cả chướng ngại đều là cứu cánh giác ; chánh niệm hay thất niệm không gì chẳng phải là giải thoát ; pháp thành hay pháp hoại đều là Niết-bàn , Trí tuệ hay vô minh cũng là Bát-nhã , chỗ thành tựu của Bồ-tát hay của ngoại đạo đều là Bồ-đề ; vô minh và Chân Như không khác cảnh giới ; chúng sanh pháp độ đồng một pháp tánh , hữu tình vô tình đồng thành Phật đạo ; hết thảy phiền não là giải thoát rốt ráo , Biển huệ các giới chiếu suốt các tướng cũng như hư không . Đây gọi là Như Lai tùy thuận tánh Viên Giác ”.

 

- Nhân quả đồng thời là nhân cùng một bản tánh với quả . Như vậy , một địa là cùng một bản tánh với tất cả các địa khác , kể cả Phật địa . Thế nên trong một địa có tất cả các địa . Tất cả các địa bao gồm trong một địa .

 

Mười địa của Bồ-tát Pháp thân chỉ là một địa là Phật địa , nhưng sở dĩ chia thành mười địa vì phiền não chướng và sở tri chướng của hành giả Bồ-tát có cấp độ nặng nhẹ , sâu cạn khác nhau . Pháp thân Chân Như thì ‘ không sanh không diệt , không dơ không sạch , không tăng không giảm ’ soi suốt vô ngại không có chỗ khác nhau , nhưng vì có sự che chướng ở bản thân hành giả mà có địa sai khác . Điều này là cơ sở cho Đốn giáo và Viên giáo . Thí dụ như Long Nữ tức thời thành Phật trong kinh Pháp Hoa , Kinh Hoa Nghiêm nói “ phát tâm đã thành Chánh Giác

 

Nhân quả đống thời là Nhân đồng một bản tánh , đồng một vị với Quả . Chính vì nhân quả đồng thời đồng một bản tánh , đồng một vị với tất cả các pháp môn mà Phật pháp bình đẳng và trực tiếp ở khắp tất cả . Bất cứ thời gian nào không gian nào và bằng bất cứ phương tiện pháp môn nào người ta cũng có thể trực tiếp tiếp xúc và hưởng thụ Phật pháp , tùy theo mức độ thanh tịnh của tâm mình . Chẳng hạn , giữ một giới trong năm giới , chúng ta hưởng thụ được ngay sự thanh tịnh của Phật pháp mà cũng là sự thanh tịnh của tâm mình . Sự thanh tịnh ấy ở tất cả nơi chốn , tất cả thời gian , tất cả pháp môn . Tùy tâm chúng ta bị che chướng nhiều hay ít , mà sự thanh tịnh ấy hiển lộ ít hay nhiều .

 

Nhân quả có đồng thời hay không và đồng thời đến mức độ nào là do tâm ta có thanh tịnh hay không và thanh tịnh đến mức độ nào .

 

- Nhân quả đồng thời là nhân quả không hai , không khác . Đây là cái được gọi là Nhất thừa : tăng tục , thánh phàm không hai , không khác ( Trần Thái Tông ), đời đạo không hai , không khác ( Trần Nhân Tông ) , sanh tử Niết-bàn không hai , không khác ( Tuệ Trung Thượng sĩ ).

 

Trên nền tảng Nhất thừa ‘ bổn lai thành Phật ’này , một giờ ngồi thiền là một giờ làm Phật , cả ngày làm việc gì cũng là Phật sự . Suốt ngày sống trong nhân quả đồng thời là suốt ngày làm Phật .

 

Như thế mỗi pháp môn cho đến mỗi hành vi cử chỉ đều là sự biểu lộ của bản tánh Phật , như là bọt sóng là sự biểu lộ của tất cả đại dương .

 

-       Dùng thuật ngữ tôn giáo Ấn – Tạng , đạo Phật gồm có Nền Tảng , Con Đường và Quả . Trong bối cảnh nhân quả đồng thời , Nền Tảng cũng chính là Quả . Thế nên Con đường đi từ Nền Tảng đến Quả cũng là Con Đường đi trong Nền Tảng , Con Đường đi trong Quả . Đây là điều được gọi là Quả thừa ( Phalayana ) thay vì Nhân thừa (Hetuyana).

 

Chúng ta nhớ con đường của Thiện Tài đồng tử trong kinh Hoa Nghiêm đến với 53 vị Thầy , mà vị Thầy đầu tiên là Văn-thù và vị Thầy cuối cùng là Phổ-Hiền . Con đường ấy là con đường hoan hỷ an vui và hăng say vì con đường ấy đi trong Quả ( tức là Pháp thân ) của Phật-Tỳ-Lô-Giá-Na với những vị thầy đã từng ngộ nhập Pháp thân Tỳ-lô-giá-na . Nói cách khác , con đường tu hành ấy luôn luôn đi trong Phật , không thể làm gì khác ngoài Phật . Con đường ấy là con đường trong Phật bằng chất liệu Phật , chặng đầu , chặng giữa , chặng cuối đều là Phật .

 

Cũng theo truyền thống Ấn – Tạng , con đường của hành giả gồm Cái Thấy hay Thấy Hiểu ( kiến giải ), Thiền , Hạnh và Quả .

Cái Thấy hay Thấy Hiểu là thấy hiểu sự bất nhị của tướng và tánh , của sắc và Không , của sanh  tử và Niết-bàn . Nói cách khác , thấy hiểu rằng mình đang hiện hữu trong Nền Tảng hay Quả trong Phật .

 

Thiền định là tâm thức không rời khỏi Cái Thấy ấy , càng lúc càng đi sâu vào Cái Thấy ấy .

 

Hạnh là mọi hoạt động , mọi ý nghĩ đều thấm đẫm Cái Thấy Nền Tảng đến độ toàn bộ đời sống đều được chuyển hóa thành Tâm Phật

( Chánh báo )và cõi Phật ( Y báo ).

 

Quả là thân , ngữ tâm của hảnh giả được chuyển hóa thành thân , ngữ , tâm của một vị Phật .

(Văn Hóa Phật Giáo 127)

  • Chúng ta sống nơi này, phút giây này nhưng vẫn ‘ly dị’ với nơi này phút giây này; tâm cứ nghĩ đến nơi khác, phút giây khác, một đời sống không thực vì đã qua hoặc chưa tới.

    Chỉ nói riêng ở Nhật Bản, trà đạo hay trà thiền là do Thiền sư Vinh Tây (1141-1215) chế tác ra, sau khi “du học” ở Trung Hoa và đem hạt giống về trồng. 

    Biến việc uống trà thành nghệ thuật, biến khu vườn thành tác phẩm nghệ thuật, biến thi ca, hội họa, bắn cung, võ thuật, múa, cắm hoa…thành nghệ thuật đã trở thành một lối sống kể từ khi Thiền trở thành một sức sống văn hóa để kết hợp với văn hóa của từng nước vùng Đông Á. Do đó mà có trà đạo, hoa đạo, võ đạo…

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.493
  • 10 Thắng cảnh đẹp nhất Việt Nam trong mắt du khách quốc tế. 11Nói đến Phật giáo là nói đến giải thoát, và giải thoát là giải thoát cái gì? Như thế nào là giải thoát? Trong phạm vi bài viết này, chúng ta hãy lượt qua cái thấy giải thoát của Phật và các vị Tổ. Và chúng ta xem chúng ta tu như thế nào mới thật sự chạm tới giải thoát?

     

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.269
  •  

     Vì hay đồng hóa bản thân với đủ mọi cảm xúc, tư tưởng, thiên kiến và định kiến nên chúng ta không còn chỗ cho chính mình để có thể nhìn mọi thứ một cách chân xác trong mọi hoàn cảnh. Đắm chìm trong "vũng lầy" vô minh ấy, ta thường có những lựa chọn sai lầm trong hầu hết mọi tình huống. Giống như bị quăng quật, quay cuồng giữa cơn bão biển, cuộc sống cũng tương tự vậy, chúng ta phải học cách giữ định tâm giữa những bão tố của đời thường. Cách tốt nhất là tỉnh thức và rộng mở tâm hồn đón nhận khoảnh khắc hiện tại. Như vậy được gọi là chính niệm. Bậc Đại thành tựu giả Milarepa từng nói rằng càng trải qua bão tố thăng trầm của hạnh phúc và khổ đau, càng có cơ hội tu tập và thành tựu giác ngộ trong cuộc đời.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.601
  •  

    Thực hành không có nghĩa bất cứ điều gì bạn làm, thậm chí nằm xuống đều là ngồi thiền.  Khi những bó buộc không hạn chế bạn, đây là cái chúng ta gọi là thực hành. Khi bạn nói, “Bất cứ cái gì tôi làm đều là Phật tánh, thế nên tôi làm gì thì không quan trọng, và cũng không cần thực hành ngồi thiền”, đó là một hiểu nhị nguyên về cuộc sống hàng ngày của bạn. Nếu thực sự không hề gì, thì bạn đã không cần nói điều đó. Chừng nào bạn còn quan tâm bạn làm gì, đó là nhị nguyên. Khi bạn ngồi, bạn sẽ ngồi. Khi bạn ăn, bạn sẽ ăn. Chỉ thế thôi. Còn nếu bạn nói, “Nó chẳng quan trọng”, thì có nghĩa là bạn đang bào chữa để làm việc gì đó theo lối riêng với cái tâm nhỏ hẹp của bạn. Thế nghĩa là bạn đang dính mắc vào một sự việc hay một cách làm đặc biệt nào đó. Đấy không phải là ý nghĩa của điều chúng ta nói, “Chỉ ngồi là đủ”, hay “Bất cứ gì bạn làm đều là ngồi thiền”. Dĩ nhiên bất cứ gì chúng ta làm đều là ngồi thiền, nhưng nếu như vậy, cần gì phải nói.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 892
  • Để nêu lên cốt lõi của giáo huấn Phật Giáo tôi chỉ xin nhắc lại với quý vị một câu phát biểu vô cùng đơn giản của Đức Phật: "Không được bám víu vào bất cứ gì cả". Trong kinh Majjhima Nikaya (Trung A Hàm) có thuật lại rằng một hôm có một người bước đến đảnh lễ Đức Phật và thỉnh cầu Ngài hãy tóm lược giáo huấn của Ngài bằng một câu thật ngắn gọn, và nếu được thì câu ấy sẽ là gì. Đức Phật đáp lại rằng Ngài có thể làm được việc ấy và đã nói lên câu trên đây: "Sabbe dhamma nalam abhinivesaya" tức là "Không được bám víu vào bất cứ gì cả" ("Sabbe dhamma" có nghĩa là bất cứ gì, "nalam" không được phép, "abhinivesaya" bám víu vào). Đức Phật còn nhấn mạnh thêm tầm quan trọng của câu này bằng cách nói thêm rằng nếu ai được nghe những lời cốt tủy ấy thì cũng có nghĩa là nghe được tất cả giáo huấn, và nếu ai tiếp nhận được quả của việc tu tập ấy (không bám víu vào bất cứ gì) thì cũng có nghĩa là tiếp nhận được tất cả các quả do giáo huấn của Ngài mang lại.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.623
  • hoa cam cu voi ve dep tuyet voi 2 Hoa Cẩm Cú Với Vẻ Đẹp Tuyệt Vời

    Tất nhiên, tác động của những giá trị vật chất làm cải thiện đời sống con người là không thể phủ nhận. Nhưng xét từ một góc độ nào đó chúng chưa hẳn đã mang lại niềm hạnh phúc vui sống thật sự. Đôi khi tôi so sánh cuộc sống ở những làng quê hẻo lánh với một thành phố hiện đại, và thấy rằng sự khác biệt về vật chất không thực sự là yếu tố chính để tạo ra được hạnh phúc trong đời sống mỗi người.
    Vì thế, chúng ta không nên dành trọn những nỗ lực của mình để đánh đổi thuần túy những giá trị vật chất. Một cuộc sống vui nhất thiết phải được quân bình với những giá trị tinh thần, và duy trì chánh niệm giúp cho ta làm được điều đó.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 726
  •  

    Tại sao Google tìm cầu tuệ giác của Thiền sư Thích Nhất Hạnh? Tại sao nhiều tập đoàn công nghệ lớn nhất thế giới, trong đó có Google, lại dành sự quan tâm đặc biệt đối với một vị Thiền sư Phật giáo người Việt đã 87 tuổi.


    Câu trả lời là tất cả các tập đoàn này đều mong muốn tìm hiểu: làm thế nào những lời dạy của Thiền sư Thích Nhất Hạnh - thường được hàng trăm ngàn đệ tử trên khắp thế giới gọi một cách thương kính là Thầy - có thể giúp cho tổ chức của họ có thể hoạt động một cách hiệu quả hơn và mang lại nhiều hạnh phúc hơn.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 876
  •  

     

    Những mối quan hệ bạn bè tốt đẹp sẽ đóng một vai trò quan trọng và tích cực trong mọi quan hệ xã hội. Những người bạn tốt có thể là chỗ dựa tinh thần lẫn vật chất cho chúng ta những lúc sa sút trong cuộc sống. Một tình bạn thật sự luôn xuất phát từ những tương đồng nhất định nào đó, vì thế mà những người bạn tốt luôn biết cách chia sẻ và nâng đỡ lẫn nhau trong những tình huống xấu.

    Nhìn từ một góc độ khác, bạn bè cũng là nguồn kiến thức phong phú, đa dạng để chúng ta học tập. Tục ngữ có câu: “Học thầy không tày học bạn.” Điều này càng chính xác hơn nữa trong bối cảnh xã hội ngày nay. Khi chúng ta nhận một công việc mới, chính các bạn đồng nghiệp bao giờ cũng là những người dạy cho ta nhiều điều nhất, kể cả những điều mà có thể chúng ta chưa từng được học qua nơi trường lớp.
    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 729
  •  

    Mang màu sắc thiên nhiên tuyệt đẹp đến với desktop Cuộc sống là gì? Đâu là nguồn gốc của cuộc sống? Làm thế nào và khi nào thì cuộc sống chấm dứt? Mọi người thường tự hỏi câu hỏi như vậy. Cuộc sống là danh và sắc ở giây phút hiện tại. Bây giờ có cái thấy; đó chẳng phải là cuộc sống ư? Tham, sân và si có thể sinh khởi đối với cái được thấy; đó chẳng phải là cuộc sống ư? Có sự suy nghĩ về cái được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm và được xúc chạm; đó chẳng phải là cuộc sống ư?

    Chúng ta có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý; chúng ta kinh nghiệm các đối tượng thông qua lục căn và qua những gì chúng ta kinh nghiệm, phiền não có thể sinh khởi. Đó là cuộc sống tại giây phút hiện tại. Nhưng đó cũng là cuộc sống trong quá khứ và cũng là cuộc sống trong tương lai, trừ khi có sự chấm dứt phiền não.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 860
  • I. CHA MẸ ĐỐI VỚI CON CÁI

    Gần gũi và rộng lượng

     Mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái là mối quan hệ thiêng liêng nhất, quý giá nhất vì chính nhờ vào tình thương của cha mẹ mà con cái được sinh ra và lớn khôn. Ðây là một trong những mối quan hệ có nhiều biến chuyển, nhiều thay đổi nhất vì mối quan hệ này trải qua một thời gian rất dài, trong khoảng thời gian đó, người cha, người mẹ và những người con đã sống qua nhiều giai đoạn khác nhau của một đời người. Vì vậy cả hai phía đều phải nhạy bén đối với những biến chuyển đang xảy ra trong người thân của mình để chấp nhận và ủng hộ.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 632
  • Chớ vui thích khóc than cho số phận mình !
    Bảy Điểm Tu Tâm của Atisha

    Giữa khoảnh khắc người ta gặp đạo lần đầu tiên và giờ phút tâm thức thức tỉnh hoàn toàn trong sự trọn vẹn những phẩm chất tự nhiên của nó, cuộc du hành có thể lâu dài và gian khổ. Nếu người ta trù tính một cách nghiêm túc để ra đi, phải suy nghĩ đến sự tổ chức thực tiễn của cuộc du hành của mình. Chẳng hạn, chỉ nói : “Tôi muốn đi từ Việt Nam sang Ấn Độ” thì không đủ để đến đó. Phải chọn một phương tiện chuyên chở – xe hơi, xe lửa hay máy bay và khó nhọc tổ chức hành trình. Nếu người ta không cố gắng một chút cần thiết khi khởi hành, người ta không bao giờ đi đến đâu cả, và người ta sẽ cứ giam hãm trong nhà mình – và thất vọng.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 702
  • anh-dep-ve-hoa-hung-duong029Một triết gia xưa đã nói, “Đại dương không từ chối nước – thế nên nó đã có thể trở thành bao la như thế. Núi non không từ chối đất – do vậy vì sao chúng cao như thế. Một người lãnh đạo có trí huệ không từ chối người – thế nên cộng đồng của họ đông đúc.” Hãy biết rằng việc đại dương không từ chối nước là hợp tác. Hãy biết hơn nữa rằng đức tính của nước là trọn vẹn, toàn hảo vì nó cũng không từ chối đại dương. Vì lý do này nước hợp lại thành đại dương, đất tích tập thành núi. Chúng ta ngầm hiểu rằng bởi vì đại dương không từ chối đại dương mà nó tạo thành một đại dương và sự bao la của nó. Bởi vì núi không từ chối núi, nó tạo thành một ngọn núi và chiều cao của nó. Bởi vì một người cầm quyền có trí huệ không từ bỏ dân, ông tạo thành một cộng đồng dân chúng.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.244
  • (Trích trong Thuần Hóa Tâm Hồn của Ven, Thubten Chodron )

    Thích Minh Thành biên dịch        

       tamtay.vn - photo - Hình động Tuyết rơi tuyệt đẹp       Cốt lõi của những lời Đức Phật dạy có thể được diễn giải như sau: hãy giúp ích cho tha nhân. Nếu bạn không có khả năng giúp ích cho người khác thì ít nhất là bạn không làm gì gây tổn hại cho người khác”. Những hành động tổn hại không những gây bất ổn cho sự khang lạc của người khác mà còn tạo nên những tập khí xấu xa khiến cho chúng ta phải chịu những điều bất hạnh trong tương lai. Những hành động lợi ích sẽ làm cho tha nhân có nhiều hạnh  phúc hơn đồng thời giúp cho chúng ta có nhiều an lạc hơn trong tương lai.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 958
  • Dựa vào đức tin của mình để nâng cao các giá trị căn bản của con người là một tiến trình tích cực. Các tôn giáo chính trên thế giới đều nêu cao giá trị của tình thương, lòng từ bi và sự tha thứ. Nhất định là mỗi tôn giáo thực hành theo cách thức của mình, nhưng tất cả đều nhắm vào những mục đích ít nhiều giống nhau – sống hạnh phúc hơn, trở nên từ bi hơn và xây dựng một thế giới với nhiều tình thương hơn –, sự đa dạng về phương pháp của các tôn giáo không quan trọng lắm. Tầm quan trọng lớn hơn là phải phát huy tình thương, lòng từ bi và sự tha thứ ; các tôn giáo chính đều hàm chứa một tiềm năng như nhau. Một số người có xu hướng tin vào tôn giáo, và khi đã nhìn thấy sự đa dạng về năng khiếu trong các xu hướng của con người, thì ta phải hiểu rằng sự kiện có nhiều tôn giáo khác nhau là một điều hữu lý. Sự thực bao giờ cũng ích lợi.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 673
  •  

     ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA

    Exiled Tibetan spiritual leader, the Dalai Lama, addresses a gathering with the theme A Human Approach to Peace and the Individual at a stadium in the northeastern Indian city of Guwahati February 2, 2014 file photo. REUTERS/Utpal BaruahHãy quên tất cả những sự thực hành thiền quán, Đức Đạt Lai Lạt Ma nói, trái tim thật sự của Đạo Phật là hoàn thành chí nguyện đến những người khác. Trong bình luận này về Con Đường của Bồ Tát, ngài diễn tả trái tim tỉnh thức của Đức Phật, đấy là thệ nguyện của Ngài đạt đến giác ngộ vì lợi ích của tất cả chúng sinh.

     Trong tác phẩm nổi tiếng Con Đường của Bồ Tát, Tôn Giả Tịch Thiên nói rằng tất cả hạnh phúc và an lạc là kết quả của việc yêu mến sự cát tường của những chúng sinh khác, trong khi tất cả những vấn nạn, thảm kịch và tai họa là hậu quả của những thái độ vị kỷ

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 662
  •  Người Trúc Lâm, cái tên đơn sơ mà đứng vững hơn mọi đế hiệu vàng son. Người là Trúc Lâm. Là rừng núi trong ta. Là ngàn trúc linh thiêng ngân vang ngân vang những điệu sáo huyền. Như điệu sáo sau đây khi người bước lên Bảo Đài sơn trong dãy núi Yên Tử vào một ngày nắng đẹp giữa thế kỷ mười ba…

    Người không muốn làm vua nhưng phải lên ngôi từ tuổi hai mươi. Hơn hai mươi năm sau, người mới có thể lên núi Yên Tử xây am thiền, tạo dựng dòng thiền tinh khôi Trúc Lâm Yên Tử.

     

     

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 787
  • Tất cả chúng ta đều thưởng thức mùa Xuân của loài người, hay của muôn loài, nghĩa là mùa Xuân với cây trổ hoa, nẩy mầm, sanh lộc và tất cả muông thú hướng về sự ấm áp của trời đất. Đó là mùa Xuân sanh diệt của thế gian. Còn người Phật tử nhìn mùa Xuân có gì khác hơn người thế gian hay không, chúng ta hãy cùng suy nghĩ và chia sẻ cho nhau.

             Mùa Xuân trong cửa đạo, hay người ta thường nói là mùa Xuân trong nhà Thiền. Thông thường, khởi đầu của mùa Xuân trong nhà Thiền, chúng ta có trà Thiền, hoa Thiền và nâng lên có Thiền của thi họa… Người Nhật thường triển khai Thiền thành nhiều mặt của cuộc sống con người. Từ cuộc sống bình thường có trạng thái sống cao hơn là Thiền. Nếu quan sát cách sống bình thường, chúng ta thấy mọi người đều chạy theo vật chất bên ngoài; nhưng càng chạy theo sự tham muốn vật chất thì càng mất mát, khổ đau, giống như người tìm nước trong sa mạc, vì con người không bao giờ thỏa mãn dục vọng, hoặc sau sự thỏa mãn này sẽ có đòi hỏi khác dẫn đến khổ đau khác.

            Trước khi Xuân đến, chúng ta dọn dẹp nhà cửa, chưng bông trái cây, nhưng để thưởng thức Xuân như vậy, chúng ta phải phí sức quá nhiều. Có một vườn hoa Nguyễn Huệ thì phải có bao nhiêu người bảo vệ, chăm sóc rất mệt và khi hoa tàn phải dọn dẹp đường phố. Như vậy, thưởng thức mùa Xuân thế gian phải tốn hao công sức và tiền của, nhưng người ta gặt hái được gì. Rõ ràng mọi người luôn phải vật lộn với cuộc sống và cuộc sống càng cao thì càng khổ. Từ đó, dưới mắt người đắc đạo thấy khác.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.093
  • NHÂN QUẢ ĐỒNG THỜI
    Nguyễn Thế Đăng

     

    Nhân quả đồng thời được nói một cách cô đọng trong kinh Pháp Hoa , kinh Hoa Nghiêm… và rãi rác trong kinh điển Đại thừa . Có lẽ người đầu tiên dùng thành ngữ 

    “ nhân quả đồng thời ” là Đại Sư Trí Khải ( thế kỷ thứ 6 ) trong Pháp Hoa huyền nghĩa  và trong các tác phẩm Thiên Thai tông của ngài , y cứ trên kinh Pháp Hoa , Thành ngữ này cũng là một giáo lý chính yếu của Hoa Nghiêm tông vào thế kỷ thứ 7

    Nói một cách vắn tắt và đơn giản , nhân quả đồng thời là quả giác ngộ , quả Phật vốn đã nằm nơi nhân tu hành để đạt đến giác ngộ , để thành Phật .

     

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 723
  • Thế hệ hiện đại biết đến một sự phát triển lớn lao, đặc biệt trên phương diện vật chất, nhưng đồng thời, xã hội chúng ta đang lâm vào khủng hoảng và chúng ta phải đối mặt với những vấn đề nghiêm trọng.

    Có những vấn đề mà nguyên nhân nằm ở ngoài tầm của chúng ta, như những thiên tai chẳng hạn : chúng ta không thể tránh chúng. Ngược lại, nhiều vấn đề khác có thể dành cho chúng ta bởi vì chúng ta phải chịu đựng chúng chỉ do những tính khí khuyết điểm của chúng ta, do sự thiếu sót bi thảm ở nơi chúng ta : tôi đánh giá chúng là dư thừa. Nguyên nhân của chúng là do động lực của chúng ta, chỉ cần chúng ta sửa đổi lại thái độ của chúng ta thì chúng không còn lý do để tồn tại.

    Những xung đột này do cái gì ? Thông thường nhất là do những sự dị biệt ý thức hệ, tiếc thay đôi khi được nuôi dưỡng bởi những niềm tin tôn giáo khác biệt. Nghĩa là hoàn toàn quan trọng cần có một thái độ đúng đắn.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 649
  • SỰ SỐNG LÀ THIÊNG LIÊNG
    Tác giả: Nguyễn Tường Bách

     Nepal chỉ là một nước nhỏ nằm giữa hai cường quốc khổng lồ và đông dân nhất thế giới, đó là Ấn Độ và Trung Quốc. Với một dân số khoảng 30 triệu người, Nepal đóng một vai trò rất phụ thuộc trong lịch sử phát triển của hai nền văn hóa tại hai nước lớn đó, vốn là hai nền văn hóa lâu đời nhất của loài người.

    Thực vậy, trong thời cổ đại, vì biên giới của Nepal cũng không hề được xác định rõ, miền đất này chịu ảnh hưởng rõ rệt của hai nước lớn nằm hai bên sườn Hy Mã Lạp Sơn, phía nam bên này là Ấn Độ, phía bắc bên kia là Tây Tạng.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 673

Top Bài Viết

Top Music

Top Book Mp3

Top Music Album

 
© Copyright 2013 - 2019 PHATAM.ORG - Chịu trách nhiệm nội dung: Thị Đức bienman0811@yahoo.com - Hỗ trợ kỹ thuật votamthoai@gmail.com