Giòng Sông Của Ðời Sống - Krishnamurti - Diệu Quế dịch

Tôi tự hỏi có khi nào bạn đi dọc theo bờ sông, bạn chợt thấy có một cái vũng ao nhỏ nằm kế bên giòng sông hay không? Chắc là có, anh chàng câu cá nào đã đào chơi để đó. Bạn sẽ thấy ngay sự khác biệt: giòng sông thì rộng, sâu, luôn trôi chảy không ngừng nghỉ, trong khi vũng nước đặc sệt những bùn lầy vì nó nằm một chỗ, không thông thương với giòng sông. Dĩ nhiên là không thể nào có cá lội trong vũng nước đó được, không thể nào sinh động như giòng sông. Bạn có thấy nhân loại giống như thế hay không? Mỗi người tự đào lấy một cái vũng nhỏ cho mình, ẩn nấp trong đó, tự tách rời ra khỏi mạch sống của cuộc đời kẹt cứng trong vũng nước ao tù đó cho tới chết và gọi là sự dính mắc, thối rửa, đó là kiếp người.

 

Không phải sao? Tất cả chúng ta đều mong cầu sự vĩnh cửu, chúng ta muốn một thú vui nào đó cứ kéo dài vô tận. Chúng ta đã đào một cái hố nhỏ rồi dùng gia đình, phong tục tập quán, tôn giáo làm hàng rào tự giam mình trong đó, chết trong đó. Chúng ta đã để đời sống trôi qua. Cái đời sống tuy vô thường, luôn luôn biến đổi chớp nhoáng, nhưng là một đời sống có chiều sâu thăm thẳm, có vẻ đẹp tuyệt vời và có sức sống kỳ diệu! Nếu bạn chịu khó ngồi yên lặng cạnh giòng sông, bạn sẽ nghe được tiếng sóng vỗ, tiếng nước chảy. Ðó là khúc hát của dòng sông!

 

Luôn luôn có một sự chuyển động hướng về chỗ sâu thẳm hơn, bao la hơn. Ngược lại, trong vũng bùn kia, mặt nước ao tù ứ đọng không hề có một sự sống nào. Nếu đem đối chiếu, bạn sẽ thấy phần lớn chúng ta muốn hiện hữu theo kiểu vũng nước ao tù, tách rời khỏi quy luật của đời sống. Chúng ta cho rằng kiểu hiện hữu này là đúng, do đó chúng ta phát minh ra hàng loạt những triết lý để biện minh cho nó.

 

Chúng ta muốn được an toàn, muốn né tránh tất cả mọi xáo trộn trong đời sống . Sự kiện nói trên có ý nghĩa bạn mong cầu những chuyện vui sướng sẽ không bao giờ chấm dứt, trái lại những điều buồn khổ, khó khăn cần phải chấm dứt càng sớm càng tốt! Chúng ta muốn tên tuổi chúng ta được mọi người biết đến, muốn gia đình tài sản còn mãi mãi, lưu truyền đến đời con cháu. Muốn kéo dài một cuộc sống vĩnh cửu trong vũng nước ao tù, muốn mọi việc không thay đổi gì cả. Vì lẽ đó chúng ta đã dựng lên một xã hội nhằm bảo đảm cho sự tồn tại của tài sản, tên tuổi, danh vọng của chúng ta.

 

Nhưng tiếc thay, cuộc sống không phải như vậy! Cuộc sống vốn dĩ vô thường! Cũng giống như những chiếc lá xanh tươi trên cây kia rồi một ngày nào đó cũng phải lìa cành! Tất cả mọi vật đều biến dời. Có bao giờ bạn thấy bức tranh tuyệt mỹ của một bóng cây trơ cành in trên nền trời bao la hay chưa? Ðường nét của những cành khẳng khiu trụi lá, là cả một bài thơ hay một khúc hát tuyệt vời. Không còn một chiếc lá nào, nhưng rõ ràng là cây đang chờ mùa xuân tới để rồi một lần nữa lá xanh sẽ rì rào reo vang đầy cành, qua mùa Thu hong lá cho vàng úa, để rồi đến đầu Ðông gió sẽ cuốn đi hết. Ðó chính là đời sống!

 

Nhưng chúng ta không hề nghĩ như vậy. Chúng ta bám víu vào con cái, nhà cửa, truyền thống, tên tuổi... Vì chúng ta muốn mọi sự đều còn hoài. Ðó chính là lý do khiến ta sợ chết! chúng ta sợ đánh mất những cái mà chúng ta đã quen thuộc, đã biết. Cuộc đời không đứng yên một chỗ như ta muốn. Lá rụng, tuyết tan, trăng tàn, hoa úa, người vật đều sẽ chết..v..v.. Vậy cớ sao ta lại cứ muốn đi ngược lại để tham cầu địa vị, quyền thế cứ còn mãi mãi Cuộc sống giống như một giòng sông: Trôi chảy không ngừng, luôn luôn tìm tòi, khám phá, thúc giục, sóng nước tràn lên bờ, soi vào tận những hang hóc xa xôi.

 

Khổ thay! cái tâm con người lại không chịu chấp nhận chuyện đó. Chúng ta nghĩ nếu phải sống thường xuyên trong cảnh biến dời như thế thì quá nguy hiểm, quá bất trắc. Còn đâu là sự bình an nữa! Vì thế mỗi người tự xây lấy một thành trì kiên cố bằng những bức tường tập tục, giáo điều, triết lý, chánh trị, xã hội. Rồi thì gia đình, tên tuổi, danh vọng... mà chúng ta khổ công gây dựng... tất cả đều nằm gọn trong những bức tường này, xa rời khỏi cuộc sống. Họ không hề biết rằng cuộc sống nằm ở ngoài những bức tường, cuộc sống luôn luôn biến đổi, luôn luôn tìm cách xâm nhập để phá vỡ những bức tường chứa đầy hệ lụy, khổ đau này.

 

Thượng Ðế hay thần thánh nằm trong những bức tường này đều là giả tạo, những giáo điều, triết lý trong đó cũng vô nghĩa vì đời sống thực sự là ở ngoài những bức tường kia. Một cái tâm không bị giam hãm trong những bức tường này, không mang gánh nặng của những tích lũy, thủ đắc; Một cái tâm với sự hiểu biết chân chính để sống theo định luật vô thường của vũ trụ, cái tâm ấy chính là đời sống.

 

Cái tâm cứ đi tìm kiếm sự trường tồn sẽ sớm đi đến chỗ chết cứng, giống như vũng nước ao tù ở cạnh giòng sông đầy dẫy thối rữa, hư nát. Khi bạn hiểu được điều này, cuộc đời bạn sẽ hoàn toàn thay đổi, tương quan giữa bạn và đời sống, với bạn bè, vợ chồng con cái sẽ có một ý nghĩa hoàn toàn khác hẳn. Lúc ấy bạn sẽ không cần phải tự chứng minh bằng cách đạt tới một mục tiêu nào cả, vì bạn hiểu rõ mọi sự tham cầu đều chỉ đem lại khổ đau và buồn phiền.

 

Lúc bạn khám phá ra sự thật kỳ diệu của đời sống, bạn sẽ tìm thấy cái đẹp của tình thương, lòng nhân ái. Về phần cái tâm cố sức đào xới một vũng nước phẳng lặng, an toàn, trường tồn... chỉ dẫn dắt đến sự tối tăm, thối nát. Một khi đã ngủ yên trong vũng nước ao tù đó rồi, người ta sẽ ngại ngùng, không muốn phiêu lưu, tìm tòi, khám phá gì nữa. Bạn có biết tôn giáo là gì không? không phải bài ca ngợi Chúa trong giáo đường, cũng không phải tụng kinh nơi chùa chiền hoặc bất cứ một hình thức lễ nghi hay mê tín dị đoan nào do con người bày đặt ra.

 

Tôn giáo thực sự là những tình cảm thân thương, là tình yêu vĩnh cửu, cũng giống như giòng nước trên sông cũng mãi mãi lưu chuyển không ngừng. Với sự hiểu biết này, sẽ có một khoảnh khắc nào đó bất chợt bạn thấy những cuộc săn đuổi, tìm kiếm không còn cần thiết nữa! Và sự dừng lại này, sự chấm dứt này chính là khởi đầu cho một trạng thái khác hoàn toàn mới lạ, vượt ra ngoài những phát minh hay những trò chơi của trí óc.

 

Bạn thể nhập vào chính đời sống, đó là tôn giáo thật sự. Bạn chỉ làm được điều này khi bạn từ bỏ cái vũng ao tù để hòa nhập vào với giòng sông của cuộc đời. Lúc ấy, bạn cứ phó mặc cho cuộc đời đưa đẩy bạn, nó sẽ dẫn dắt bạn, tự bạn không phải làm gì cả. Vì bạn đã là một phần của đời sống rồi. Bạn không phải lo lắng cho sự an toàn, không phải quan tâm tới điều thiên hạ bàn tán hay không bàn tán. Ðó chính là vẻ đẹp của cuộc sống.

 

Hỏi : Ðiều gì làm chúng ta sợ chết ?
Krishnamurti: Bạn có nghĩ khi chiếc lá lìa cành nó có sợ chết hay không? Cánh chim bay trên trời tìm cách tránh chết? Không! chúng nó không hề quan tâm tới cái chết. Chúng nó quá bận rộn đi kiếm sâu, làm tổ, ca hát, hay bay lượn rất là vui thú. Bạn có khi nào thấy một cánh chim soải thẳng lên trời xanh buông thả tận cùng, không đập cánh để mặc cho gió đưa đi? Chắc là chúng chẳng buồn nhớ đến cái chết làm chi, chúng đang tận hưởng cuộc đời. Nếu cái chết đến, được thôi! tức là chấm dứt sống. Cái gì xảy ra sẽ xảy ra; bây giờ hãy cứ sống tận cùng từng giờ từng phút. Chỉ có chúng ta, cứ mãi bận tâm về cái chết, vì chúng ta không biết sống. Chúng ta đang chết mà không biết. Những người già đi gần tới nấm mồ đã đành, nhưng những người trẻ cũng không xa lắm đâu! Chúng ta sợ chết vì chúng ta sẽ mất vợ con, bạn bè; mất những cái khổ công học hỏi, gầy dựng. Nếu như có thể đem theo hết những thứ đó, có lẽ chúng ta ít sợ chết hơn chăng? Bạn thử sống một ngày xả bỏ tất cả những lo âu, dẹp bỏ mọi chuyện qua một bên để xem xét sự gì xảy ra! đừng mang những buồn phiền từ ngày này sang ngày nọ, từ giờ này qua giờ khác. Khi bạn được giải thóat khỏi những ràng buộc này, bạn được tự do, từ đó một cuộc sống mới nảy sinh ra bao gồm cả sự sống lẫn cái chết. Chết chỉ là sự chấm dứt một trạng thái, và chính trong cái chết có ẩn chứa một sự đổi mới.
 
 
Hỏi: Công trình của nhân loại là gì ?
Krishnamurti: Theo bạn nó là gì? Phải chăng là đi học, thi đậu, kiếm việc làm và cứ thế mà tiếp tục cho đến hết đời! hoặc là đi nhà thờ, lui tới chùa chiền, gia nhập hội đoàn? Hay giết chết thú vật để ăn thịt? Còn nữa, xây cầu cho xe cộ chạy qua sông, đào giếng để lấy nước uống, khoan giếng dầu, leo núi, chinh phục không gian, sáng tác thi văn, yêu thương thù hận... ? Chung quanh chúng ta, thiên hạ đang xây dựng một nền văn minh để rồi sẽ bị sụp đổ vài thế kỷ sau đó, gây ra chiến tranh, tạo ra Thượng Ðế theo hình ảnh của con người, tàn sát đồng loại, nhân danh tôn giáo hay tổ quốc, thảo luận hòa bình và tình anh em trong khi đối xử tàn tệ với đồng loại. Ðó là công trình của con người ư? !! Tất cả những sự việc kể trên đưa tới sự đổ nát và khốn cùng, xáo trộn và tuyệt vọng. Tột đỉnh xa hoa hiện hữu ngay kế bên tận cùng nghèo khổ, bệnh tật, đói khát. Còn gì nữa? còn gì được coi là công trình thực sự của con người? Phải chăng là khám phá ra chân lý; là yêu thương mọi người chớ không phải là lòng ích kỷ, chỉ quan tâm tới những hoạt động trong phạm vi nhỏ hẹp của mỗi người.
 
 
Hỏi: Tại sao chúng ta tôn thờ Thượng Ðế ?
Krishnamurti: Thực ra chúng ta không hề tôn thờ Thượng Ðế. Bạn đừng cười. Chúng ta đâu có yêu Thượng Ðế, vì nếu chúng ta yêu Thượng Ðế thì chúng ta sẽ không tôn thờ Thượng Ðế. Khi tôn thờ có nghĩa là bạn sợ sệt. Ðền đài, những nơi thờ phượng thiêng liêng không phải là không có Thượng Ðế trong đó. Ðấy chỉ là sản phẩm tạo ra từ lòng sợ hãi mà thôi. Chỉ những người đau khổ, những người sợ sệt mới tôn thờ Thượng Ðế. Và thường chính những kẻ quyền thế, giàu sang, địa vị là những kẻ đau khổ. Hạnh phúc chỉ có khi bạn tự giải thoát ra khỏi ràng buộc đó, nhất là sự tôn thờ Thượng Ðế. Chỉ có những kẻ khốn khổ, bị dằn vặt, đang tuyệt vọng là thường lui tới chỗ thờ phượng để van cầu, xin xỏ. Nếu họ tạm gác sự tôn thờ để suy nghĩ về sự khốn khổ của mình, hiểu rõ bản chất của nó; họ sẽ trở thành người hạnh phúc, vì lúc ấy họ khám phá thấy đâu là chân lý, đâu là Thượng Ðế.


Krishnamurti

Diệu Quế dịch
  • "Tibetan Meditation Instructions" là một bản văn cô đọng về Thiền Tây Tạng do Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đời 14 viết cho ấn bản điện tử của Tricycle, một tạp chí Phật Giáo tại Hoa Kỳ. Nơi đây, ngài nói về pháp thiền này là hãy để tâm vào trạng thái tự nhiên, và hãy quán sát tâm này - mà tâm là một thực thể, theo ngài, có tánh sáng và tánh biết, nơi đó bất kỳ những pháp gì, hiện tượng gì, sự kiện gì trong thế giới xuất hiện với chúng ta cũng đều qua nhận biết của thức. Khi ngồi, tóm gọn, chỉ để tâm thả lỏng tự nhiên và nhìn vào tâm này, dần dần sẽ thấy bản tánh của tâm.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 2.703
  • Mệnh vận của con người là do nghiệp lực chiêu cảm mà ra. Chúng ta không nên để bẩm chất, thói quen dắt dẫn mình, cũng đừng để dục vọng, vật chất làm mê mờ. Mình cần phải sáng tạo vận mệnh, lèo lái vận mạng. Muốn sửa đổi vận mạng thì phải làm cho nhiều việc công đức. Lúc ấy, khi bạn gặp nạn tự nhiên điều lành sẽ tới. Ðiều dữ sẽ biến thành điều kiết tường. Rằng: Hãy làm việc tốt, chớ hỏi sẽ được kết quả gì trong tương lai.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 2.128
  • Giới luật của Phật giáo có nghĩa là: “Anh đừng tự làm thương tổn mình, anh đừng tự làm hại mình”.

    1. Tự do của lệ thuộc và tự do của hỗn loạn

    Trong những tôn giáo độc thần, giới luật là những định luật vật lý và tâm lý được một Thượng Đế độc thần gài vào trong khi sáng tạo vũ trụ. Và vị Thượng Đế độc thần ấy ra lệnh cho con người – cũng do ngài tạo ra – phải tuân thủ những giới luật ấy, nếu không, trong ngày cánh chung hay tận thế, cũng chính vị ấy sẽ xét xử những ai phạm tội bất tuân những điều luật do vị ấy đặt ra và quẳng họ vào địa ngục đời đời.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.594
  • Bằng cách dần dần trở nên quen biết với bản tánh này, sẽ có được quán chiếu đích thực, nó đạt đến tột đỉnh với sự có được tự tin. Một khi đã có tự tin này, bạn chỉ đơn giản ở trong trạng thái đó và giữ gìn sự tự tin đó mà không thêm vào bất kỳ tạo tác nào. Bản tánh tối vi tế này không nhiễm ô bởi những lỗi lầm của sanh tử, thế nên chớ trộn lẫn nó với bất kỳ cái gì khác. Chớ cố gắng tìm kiếm cái gì khác để làm ; chỉ đơn giản ở trong sự tự tin đã đạt được. Hãy an trụ thường hằng trong trạng thái này và thỏa mãn với sự nhận biết đó.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.483
  • Ta cần phải thực tập cả hai phương cách, Thanh tịnh và Tỉnh giác, để đạt được những kết quả mà Thiền sẽ mang đến cho ta. Phần đông chúng ta đều muốn được an lạc. Ai cũng muốn được bình yên, muốn được có cảm giác vui sướng, mãn nguyện. Trong Thiền định, nếu ta thoáng bắt được cảm giác an lạc đó, ta sẽ hạnh phúc biết bao. Nhiều người đã thỏa mãn khi đạt được đến trình độ đó. Nhưng thanh tịnh không phải là mục đích của Thiền. Đó chỉ là phương tiện đưa đến cứu cánh. Thanh tịnh là phương tiện. Sự tỉnh giác trong nội tâm mới là cứu cánh. Phương tiện rất cần thiết nhưng không thể lầm lẫn chúng với cứu cánh. Nhưng vì phương tiện đó tạo ra sự thoải mái, dễ chịu, ta trở nên bám víu vào chúng.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.777
  •  bất cứ một trường học nào của các quốc gia trên thế giới cũng đều có dạy môn nầy. Ngày xưa tại Việt Nam ở bậc tiểu học có dạy môn: Công Dân Giáo Dục hay Đức Dục. Cứ mỗi sáng Thầy Cô giáo trước khi dò bài học sinh đều viết lên bảng đen một câu cách ngôn hay tục ngữ.

    Ví dụ:
    - Tiên học lễ, hậu học văn

    - Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây

    - Nhơn bất học bất tri lý, ngọc bất trác bất thành khí, ấu bất học lão hà vi?

    - Bầu ơi thương lấy bí cùng,
      Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn v.v...

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 2.113
  • Chúng ta sống nơi này, phút giây này nhưng vẫn ‘ly dị’ với nơi này phút giây này; tâm cứ nghĩ đến nơi khác, phút giây khác, một đời sống không thực vì đã qua hoặc chưa tới.

    Chỉ nói riêng ở Nhật Bản, trà đạo hay trà thiền là do Thiền sư Vinh Tây (1141-1215) chế tác ra, sau khi “du học” ở Trung Hoa và đem hạt giống về trồng. 

    Biến việc uống trà thành nghệ thuật, biến khu vườn thành tác phẩm nghệ thuật, biến thi ca, hội họa, bắn cung, võ thuật, múa, cắm hoa…thành nghệ thuật đã trở thành một lối sống kể từ khi Thiền trở thành một sức sống văn hóa để kết hợp với văn hóa của từng nước vùng Đông Á. Do đó mà có trà đạo, hoa đạo, võ đạo…

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.510
  • Các thói quen có hại và hành xử bất cẩn là nguyên nhân dẫn đến đau khổ. Nếu nỗ lực sống trọn vẹn, ta sẽ không bị rơi vào bẫy của những thói quen..Khi con ong đậu trên một bông hoa để hút mật nghĩa là nó đã bị hương hoa thu hút. Không nhận ra là màn đêm đang buông xuống, con ong bị mắc kẹt khi những cánh hoa từ từ khép lại. Là con người, ta cần sử dụng trí tuệ và mài giũa nhận thức của mình để các thói quen không trói buộc và cướp đi tự do của ta.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.480
  • Shri_SinghaĐại Toàn Thiện là nền tảng tối thượng chung của Sinh tử và Niết bàn - Hư không căn bản tối thượng . Trong đó có ba cách thái : Sinh tử , Niết bàn, và Con đường đều toàn thiện và viên mãn . Hiểu được bản tánh này như nó thực sự là . . . Đây là cái thấy ( Tri kiến hay Kiến giải ) . Đạt được sự thông thạo trong nền tảng vô thượng bổn nguyên nguyên sơ và không có thời gian . Bằng sự tự giác và mở rộng trong thực trạng hiện tiền của chính mình là : Thiền định tự do thoát khỏi mọi khuôn khổ quy chiếu cố định .

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.218
  • Theo lối giải thích của Phật giáo,tâm thức được cho là không hề bị trở ngại và cũng không có tính cách vật chất.Tất cả mọi tình tự cảm giác,mọi phiền não,mọi lỗi lầm của con người đều khởi nguồn từ những hành vi của tâm thức.Tuy nhiên,cũng vì bản chất cố hữu của tâm thức này mà con người có thể loại trừ tất cả những sai quấy và phiền  não ấy hầu mang lại một nền hòa bình vĩnh cửu và niềm an lạc thường hằng.Bởi vì ý thức là nền tảng của mọi hiện hữu và của sự giác ngộ nên còn có rất nhiều bài khảo thuyết uyên áo bàn luận về vấn đề này.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.239
  • 10 Thắng cảnh đẹp nhất Việt Nam trong mắt du khách quốc tế. 11Nói đến Phật giáo là nói đến giải thoát, và giải thoát là giải thoát cái gì? Như thế nào là giải thoát? Trong phạm vi bài viết này, chúng ta hãy lượt qua cái thấy giải thoát của Phật và các vị Tổ. Và chúng ta xem chúng ta tu như thế nào mới thật sự chạm tới giải thoát?

     

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.280
  • Không có gì như tình thương của bậc cha mẹ đối với con cái. Khi ta suy xét về lòng tốt mà cha mẹ ta đã biểu lộ với ta thì chúng ta nên suy tưởng rằng tất cả chúng sinh chịu đau khổ trong vòng sinh tử đã có lúc này hay lúc khác từng là những cha mẹ tốt lành và từ ái của chúng ta. Đây quả nhiên là nguyên nhân để sự phát khởi tự nhiên của lòng bi mẫn, là Bồ đề tâm, tràn trề trong chúng ta, Bồ đề tâm dâng tràn đối với tất cả chúng sinh, thậm chí đối với một con côn trùng bé xíu, con muỗi nhỏ bé nhất.Là các Phật tử, những hành giả Dzogchen, các bạn phải từ bỏ mọi hành vi làm hại bởi các bạn phải nhận ra rằng tất cả chúng sinh đã từng là những cha mẹ của các bạn. Nhận thức đó phải hiện diện trong tâm các bạn. Các bạn cần cảm nhận lòng thương yêu hơn nữa đối với chúng sinh đang ở trong tình huống khó khăn và kém may mắn hơn các bạn và nỗ lực trong khả năng tốt nhất của các bạn để làm lợi lạc cho họ.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.285
  • Có lần bật tivi: hình ảnh sông nước trời mây miền Tây thu hút mắt tôi, và có hai người nhạc sĩ, một thổi kèn saxo, một chơi guitare, đang trình diễn một bài nhạc về quê hương. Coi ít phút cảnh sông nước bao la, tôi đứng dậy, định tắt, vì hai chàng nhạc sĩ đã đứng tuổi, vóc dáng chẳng hấp dẫn gì cho lắm, mặc dù có khi người thổi kèn đứng hẳn trong nước. Ngay lúc đó, tôi thấy mình không trân trọng công sức của những người tạo ra chương trình này. Rồi tôi tiếp tục xem thêm một bài nữa mới tắt.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.257
  • Có một số câu hỏi đã được nêu lên để hỏi Đức Phật, nhưng Ngài không trả lời vì đó là những câu hỏi đặt sai và vô ích. Bám víu vào những câu hỏi ấy bằng những biện luận thuần lý sẽ rơi vào cạm bẫy của sự hiểu biết quy ước, công thức và nhị nguyên. Cạm bẫy ấy sẽ đưa đến tranh luận vô tận và thắc mắc tiếp nối nhau, đánh lạc hướng sự tu tập. Nhiều vị thầy sống đồng thời với Đức Phật, tức là vào thế kỷ thứ VI trước Tây lịch, đã từng chủ xướng nhiều chủ thuyết trong lãnh vực triết học siêu hình. Nhưng Đức Phật đã che chở cho các đệ tử của Ngài tránh khỏi những cạm bẫy ấy, không phải bằng cách cấm đoán, bằng biện luận hay giải thích, nhưng bằng sự yên lặng. Có tất cả 14 câu hỏi đại loại như sau mà Phật không giải đáp.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.567
  •  

     Vì hay đồng hóa bản thân với đủ mọi cảm xúc, tư tưởng, thiên kiến và định kiến nên chúng ta không còn chỗ cho chính mình để có thể nhìn mọi thứ một cách chân xác trong mọi hoàn cảnh. Đắm chìm trong "vũng lầy" vô minh ấy, ta thường có những lựa chọn sai lầm trong hầu hết mọi tình huống. Giống như bị quăng quật, quay cuồng giữa cơn bão biển, cuộc sống cũng tương tự vậy, chúng ta phải học cách giữ định tâm giữa những bão tố của đời thường. Cách tốt nhất là tỉnh thức và rộng mở tâm hồn đón nhận khoảnh khắc hiện tại. Như vậy được gọi là chính niệm. Bậc Đại thành tựu giả Milarepa từng nói rằng càng trải qua bão tố thăng trầm của hạnh phúc và khổ đau, càng có cơ hội tu tập và thành tựu giác ngộ trong cuộc đời.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.626
  • Hạnh phúc chân thật trong cuộc sống bắt đầu có được khi bạn bắt đầu thương yêu chăm sóc mọi người.

    http://2.bp.blogspot.com/-4wXY-CC0Y68/UfE1bAMhdII/AAAAAAAAUF8/bx5XJH-IjLU/s1600/lamazopa.jpgTƯ TƯỞNG BỒ ĐỀ TÂM thật vĩ đại không gì so sánh nổi. Bồ Đề Tâm làm nên mọi sự và khiến cho mọi người ưa thích, hài lòng. Bồ đề tâm đích thực là điều mà ta quan tâm trong cuộc sống này. Ngoài ra, bất cứ cái gì khác đều vô nghĩa, trống rỗng, vô ích.Hạnh phúc chân thật và sự mãn nguyện chân thật sẽ xuất hiện khi bạn bắt đầu sống một cuộc sống vì người khác. Bạn nhập thất ẩn tu vì người, làm việc ở cơ quan cho người, nấu ăn cho người. Khi thái độ của bạn thay đổi nhằm để làm mọi việc, vì người khác, giúp dẹp bỏ khổ đau và tích luỹ hạnh phúc cho họ, lúc đó bạn sẽ có được sự mãn nguyện và bình an chân thật trong tâm.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.112
  • ss

    Đây là một cái nhìn sơ lược tổng quát về Bốn Yoga. Tính chất định nghĩa của yoga thứ nhất, nhất tâm, là nhận biết bản tánh của tâm bạn. Hơn nữa, bạn chứng ngộ rằng những xuất hiện không là gì khác hơn bản tánh của tâm bạn, và bản tánh ấy giống như sự trống không của không gian. Yoga thứ hai thoát khỏi tạo tác ý niệm, gồm nhận biết rằng mọi xuất hiện là giả hợp ; bạn chứng ngộ rằng bản tánh thật sự của tâm là trống không và thoát khỏi mọi tạo tác ý niệm. Thứ ba, trong yoga của một vị, bạn nhận biết rằng sanh tử và niết bàn đồng một bản tánh, nó là chìa khóa để đạt đến giác ngộ. Trong yoga thứ tư, yoga của không-thiền định, bạn nhận biết rằng toàn bộ sanh tử và niết bàn vốn là không sanh, không trụ và không diệt. Nhị nguyên căn bản nhất của chủ thể và đối tượng vốn là không có nền tảng và là một bản tánh, Pháp thân.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.889
    1. Khi vị tăng Trí Thông hỏi về Bốn Trí, Lục tổ nói bài kệ:

    Đại viên cảnh trí: tánh thanh tịnh
    Bình đẳng tánh trí: tâm không bệnh
    Diệu quan sát trí: thấy chẳng công
    Thành sở tác trí: đồng viên cảnh
    Năm, tám, sáu, bảy quả nhân chuyển
    Chỉ dùng danh ngôn không thật tánh
    Nếu nơi chỗ chuyển chẳng lưu tình
    Rộn ràng vẫn mãi Na-già định.

    “Đại viên cảnh trí: tánh thanh tịnh”. Đại viên cảnh trí là trí như tấm gương lớn tròn sáng. Đây là bản tâm Phật tánh, hay nói theo Lục tổ, là tự tánh mà mỗi chúng sanh đều có. Ở chúng sanh, tấm gương tâm ấy bị nhiễm ô, chứa tất cả những kinh nghiệm của chúng sanh, như gương chứa tất cả hình bóng, và những hình bóng ấy che khuất tấm gương. Còn ở người giải thoát thì vẫn là tấm gương ấy nhưng chẳng bị các bóng làm nhiễm ô, các bóng chẳng “lưu tình”, nên gương vẫn hằng sáng, hằng “vẫn mãi Na-già định”.


    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 2.065
  • Nói chung, mọi hiện tượng do duyên đều vô thường và đặc biệt đời sống của chúng sanh hữu tình thì vô thường như bọt nước. Con không bao giờ biết khi nào con sẽ chết. Không chắc chắn con sẽ không chết ngay bây giờ. Hơn nữa, vào lúc chết không có gì cứu giúp con được ngoại trừ Pháp. Nếu con làm việc cho những việc vô nghĩa của thế gian, con sẽ không thể vượt khỏi những nguyên nhân tạo ra khổ đau. Thế nên con hãy phát nguyện rằng bất cứ khi nào tâm con lang thang dù chỉ một khoảnh khắc theo những tư tưởng về thức ăn, y phục v.v... cho cuộc đời này, thì con sẽ nghĩ về cái chết.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 2.780
  •  Chúng ta thường nghe những câu nói như : “Chết là lúc nói sự thật” , hay “Chết là thời điểm ta đối mặt với chính ta”. Như ta đã thấy những người qua kinh nghiệm cận tử đôi khi kể lại rằng họ chứng kiến cả cuộc đời họ quay lại trước mắt, và họ được hỏi những câu như : “Ngươi đã làm gì với cuộc đời ngươi ? Ngươi đã làm gì cho người khác ?” . Tất cả những chuyện này ám chỉ một điều duy nhất rằng : khi chết, ta không thể tránh thoát đối diện với sự thật ta là ai, ta là gì ? Dù ta muốn hay không, bản chất thực của ta cũng hiển lộ. Nhưng điều quan trọng cần biết là có hai khía cạnh con người của ta hiển lộ vào lúc chết : bản chất tuyệt đối của ta và bản chất tương đối - ta hiện tại như thế nào, và đã như thế nào, trong cuộc đời.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.198

Top Bài Viết

Top Music

Top Book Mp3

Top Music Album

 
© Copyright 2013 - 2019 PHATAM.ORG - Chịu trách nhiệm nội dung: Thị Đức bienman0811@yahoo.com - Hỗ trợ kỹ thuật votamthoai@gmail.com