ĐÔI LỜI VỀ TÁC GIẢ Chogyam Trungpa - Chogyam Trungpa Nhà xuất bản thời đại


Chögyam Trungpa Ringpoche sinh ra tại tỉnh Kham, miền đông Tây Tạng, năm 1940. Khi mới mười ba tháng tuổi, ông đã được công nhận là hóa thân của một tulku (sư trưởng) quan trọng. Theo truyền thống Tây Tạng, do hạnh nguyện từ bi của mình, một vị đạo sư đắc đạo có thể hóa thân làm người trở lại suốt nhiều thế hệ nối tiếp. Trước khi qua đời, vị đạo sư có thể để lại một di thư hoặc những dấu hiệu khác cho biết hóa thân sắp tới của mình. Sau đó, các đệ tử và các đại sư đắc đạo khác sẽ tìm kiếm và căn cứ vào những dấu hiệu này, cộng thêm nghiên cứu cẩn thận các chiêm bao và điểm mộng, tiến hành các cuộc tìm kiếm để phát hiện, nhận biết người kế vị. Do vậy mà đã ra đời nhiều dòng truyền thừa khác nhau, một số dòng có thể trải rộng qua nhiều thế kỷ. Chögyam Trungpa là đời thứ mười một trong dòng truyền thừa có tên là Trungpa Tulku.

Một khi các tulku trẻ được nhận biết thì họ phải trải qua một thời kỳ rèn luyện rất kỹ về lý thuyết và thực hành các giáo lý đạo Phật. Trungpa Ringpoche, sau khi được tôn lên ngôi vị viện trưởng tối cao Tu viện Surmang Dutsi Til và giám quản khu vực Surmang, đã bắt đầu một thời kỳ tu tập kéo dài mười tám năm, cho đến khi ông rời khỏi Tây Tạng năm 1969. Là một tulku Kagyu (Ca – nhĩ – cư), sự rèn luyện của ông được dựa trên việc tu thiền một cách có hệ thống và trên sự hiểu biết tinh tế triết lý đạo Phật. Là một trong bốn tông phái lớn của Phật giáo Tây Tạng, Kagyu còn có tên là Giáo pháp Thực hành.

            Khi lên tám tuổi, Trungpa Ringpoche được thọ giới Sa di. Sau đó, ông tu học và thực hành các giới luật truyền thống của một tu sĩ, gồm các môn thi ca và vũ điệu truyền thống của Tây Tạng. Các đạo sư ban đầu của ông là Jamgon Kongtrul của tu viện Dechen, và Khenpo Gangshar – những đạo sư hàng đầu của các tông Nyingma và Kagyu. Năm 1958, khi được mười tám tuổi, Trungpa Ringpoche hoàn tất việc học hành, nhận bằng cấp Kyorpon (tiến sĩ thần học) và Khenpo (thạc sĩ nghiên cứu). Ông cũng được thọ giới tì kheo.

            Vào cuối những năm 1950 là thời kỳ hỗn loạn lớn ở Tây Tạng. Do sự thay đổi thể chế chánh trị, nhiều người, gồm cả tu sĩ và thường dân, đã trốn khỏi đất nước. Trungpa Ringpoche trải qua nhiều tháng trời gian khổ để vượt qua dãy Hy Mã Lạp Sơn (việc này được ông kể lại sau này trong cuốn Sinh ra ở Tây Tạng ). Cuối cùng ông đã đến được Ấn Độ năm 1960. Trong khi sống tại Ấn Độ, Trungpa Ringpoche được bổ nhiệm làm cố vấn tôn giáo cho trường Nội trú các Lạt ma trẻ tại Delhi. Ông phục vụ trong cương vị này từ năm 1959 đến năm 1963.

            Trungpa Ringpoche có cơ hội để di cư sang phương Tây khi ông nhận được sự bảo trợ đến học tại Đại học Oxford. Tại đây ông học về tôn giáo đối chiếu, triết học, lịch sử và mỹ thuật. Ông cũng học nghệ thật cắm hoa Nhật Bản và nhận được một chứng chỉ của trường Sogetsu. Trong khi ở Anh quốc, Trungpa Ringpoche đã bắt đầu dạy giáo pháp cho các môn sinh người phương Tây, và đến năm 1967, ông đã lập ra Trung tâm Thiền Samye Ling tại Dumfriesshire, Scotland. Trong thời kỳ này, ông cũng đã xuất bản hai cuốn sách đầu tiên của mình, cả hai điều viết bằng tiếng Anh: Sinh ra ở Tây Tạng (1966) và thiền thực hành (1969).

            Năm 1968 Trungpa Ringpoche đi đến Bhutan, và nhập thất thiền định một mình tại đây. Trong khi nhập thất, ông nhận được một bí lục quan trọng đối với tất cả các bài giảng của ông tại phương Tây, đó là tập “Nghi quĩ Đại thủ ấn”, một tư liệu cho thấy sự sa sút về mặt tâm linh của thời nay và thuốc giải trừ cho tình trạng này, một tôn giáo đích thực đưa ta tới sự trải nghiệm một tâm thức nguyên sơ và ngời sáng. Cuộc nhập thất này đánh dấu một sự thay đổi quyết định trong phương thức thuyết giáo của ông. Ngay sau khi quay trở lại Anh quốc, ông đã trở thành một người thường dân, trút bỏ chiếc áo tu sĩ và mặc quần áo thông thường của người phương Tây. Năm 1970, ông kết hôn với Diana Pybus, một phụ nữ trẻ người Anh, và họ cùng nhau rời khỏi Scotland để đi đến Bắc Mỹ. Nhiều môn sinh lúc trước và các bạn bè người Tây Tạng của ông thấy sốc và khó hiểu với những thay đổi này. Tuy nhiên, ông giải thích rằng muốn cho đạo pháp bắt rễ tại phương Tây thì phải giảng dạy giáo pháp không theo những gò bó về mặt văn hóa và sự mê hoặc của tôn giáo.

            Trong những năm 1970, nước Mỹ đang sôi động về chính trị và văn hóa. Tuy nhiên, gần như từ lúc vừa đặt chân đến nước Mỹ, Trungpa đã thu hút rất nhiều môn sinh đến với mình, số đông là những người nghiêm túc quan tâm đến giáo lý và việc tu thiền của đạo Phật. Tuy nhiên, ông đã nghiêm khắc chỉ trích phương thức duy vật để đến với tâm linh đang rất phổ biến thời ấy, xem đây là một “siêu thị tâm linh”. Trong các bài giảng của mình, và trong cuốn sách Cutting Through Spiritual Materialism (1973). The Myth of Freedom (1976), ông đã nêu rõ sự giản dị và trực tiếp của việc tọa thiền, xem đây là cách để dẹp bỏ những lệch lạc như thế trong cuộc hành trình tâm linh.

            Trong mười bảy năm thuyết giáo ở Bắc Mỹ, Trungpa Ringpoche nổi tiếng là một đạo sư năng động và thích tranh luận. Ông là một nhà tiên phong, một trong những đạo sư Phật giáo Tây Tạng đầu tiên tại Bắc Mỹ, đến trước vài năm và thực ra là tạo thuận lợi cho những cuộc viếng thăm sau đó của Đức Cát Mã Ba, Đức Khyentse Ringpoche, Đức Đạt Lai Lạt Ma, và nhiều vị khác nữa. Tại Hoa Kỳ, ông tìm thấy một sự gần gũi thân thiết với các đạo sư Thiền tông, họ cũng đang giới thiệu phép tu thiền của Phật giáo. Ngay những ngày đầu tiên đến đây, ông đã đặc biệt gắn bó với ông Suzuki Roshi, người sáng lập ra Trung tâm Thiền tông tại San Francisco. Mấy năm sau đó, ông đã kết thân với Kobun Chino Roshi và Bill Kwong Roshi ở Bắc California, với Maezumi Roshi, người sáng lập Trung tâm Thiền tông Los Angeles, và Eido Roshi, viện trưởng Thiền đường Shobo-ji tại New York.

            Nói tiếng Anh lưu loát, Chögyam Trungpa là một trong những đạo sư Phật giáo Tây Tạng đầu tiên có thể nói chuyện trực tiếp với các môn sinh phương Tây, không cần đến phiên dịch. Bôn ba khắp vùng Bắc Mỹ và châu Âu, ông đã thực hiện hàng nghìn buổi nói chuyện và hàng trăm cuộc hội thảo. Ông lập ra những trung tâm thiền lớn tại Vermont, Colorado, và Nova Scotia, cũng như nhiều trung tâm hành thiền và tu học tại các thành phố trên khắp Bắc Mỹ và châu Âu, Kim cương giới (Vajradhatu) được hình thành năm 1973 làm một cơ quan quản lý trung tâm của mạng lưới này.

            Năm 1974, Trungpa Ringpoche sáng lập Viện Naropa (nay là Viện Đại học Naropa), nơi này đã trở thành Viện đại học Phật giáo đầu tiên và duy nhất được công nhận tại Bắc Mỹ. Ông giảng dạy rất nhiều ở viện này, và cuốn sách Cuộc hành trình không mục tiêu (1981) của ông được dựa trên một khóa học do ông dạy tại đây. Năm 1976 ông lập ra chương trình Huấn luyện Shambhala, một loạt các khóa hội thảo nhằm giới thiệu một con đường không giáo phái của người chiến sĩ tâm linh dựa trên việc tọa thiền. Cuốn sách của ông Minh triết Shambhala: Con đường thiêng liêng của người Dũng sĩ (1984) cho ta một cái nhìn tổng quan về các giáo lý Shambhala.

            Năm 1976 Trungpa Ringpoche bổ nhiệm Osel Tendzin (Thomas F. Rich) làm Nhiếp chính Kim cương, hay người thừa kế giáo pháp của mình. Osel Tenzin làm việc sát cánh với Trungpa Ringpoche trong việc quản lý Kim cương giới và Huấn luyện Shambhala. Ông đã giảng dạy thật nhiều trong thời gian từ 1976 đến khi ông qua đời vào năm 1990 và là tác giả cuốn ĐứcPhật trong lòng bàn tay ta.

            Trungpa Ringpoche còn hoạt động tích cực trong lĩnh vực dịch thuật. Cùng với Francesca Fremantle, ông đã hoàn thành công việc dịch ra tiếng Anh cuốn Tử thư Tây Tạng, sách này được xuất bản năm 1975. Sau đó, ông lập một Ban Dịch thuật Nalanda để dịch các kinh văn và nghi thức tế lễ dùng cho các môn sinh của mình cũng như để làm cho những kinh sách quan trọng đến được với mọi người.

            Năm 1979, Trungpa Ringpoche tổ chức một buổi lễ trao truyền cho con trai cả là Osel Rangdrol Mukpo, để làm người kế vị cho mình trong dòng truyền thừa Shambhala. Trong thời điểm này, ông ban cho con trai danh hiệu Sawang (Lãnh Chúa).

            Trungpa cũng được biết đến nhiều về sự yêu thích nghệ thuật của ông, và đặc biệt là những minh kiến của ông đối với mối liên hệ giữa giới luật thiền quán và quá trình nghệ thuật. Hai cuốn sách xuất bản sau khi ông qua đời – Nghệ thuật Thư pháp (1994) và Nghệ thuật trong Đạo pháp (1996, tái bản vào năm 2008 đổi tên là Chân thực thức: Con đường Nghệ thuật trong Đạo pháp) – cho ta thấy về phương diện hoạt động này của ông. Hoạt động nghệ thuật của ông bao gồm thư pháp, hội họa, cắm hoa, thi ca, viết kịch, và trang trí môi trường. Ngoài ra, tại Viện Naropa ông còn tạo ra một bầu không khí có sức thu hút nhiều nghệ sĩ và nhà thơ xuất chúng. Công cuộc khảo sát quá trình sáng tạo dưới ánh sáng của sự rèn luyện thiền quán luôn tiếp diễn ở đây dưới hình thức một cuộc đối thoại hào hứng. Trungpa Ringpoche cũng đã cho xuất bản hai thi phẩm của mình : Thủ ấn (Mudra, 1972) và First Thought, Best Thought, 1983. Năm 1998, một tuyển tập hồi tưởng các bài thơ của ông Timely Rain đã được xuất bản.

            Không lâu trước khi ông viên tịch, trong một cuộc gặp gỡ với Samuel Bercholz của Nhà xuất bản Shambhala, Chögyam Trungpa bày tỏ sự mong muốn xuất bản 108 tập sách về các bài giảng của ông, gọi chung là Dharma Ocean Series (Loạt sách Đại dương chánh pháp). Đại dương chánh pháp chủ yếu là nội dung các bài giảng đã được biên tập lại giúp cho người đọc có thể tiếp cận một cách đơn giản và trực tiếp, chứ không phải dưới một hình thức hệ thống hóa và cô đọng quá mức. Năm 1991, cuốn sách đầu tiên trong loại sách xuất bản sau khi ông qua đời này, trí huệ Mê cuồng (Crazy Wisdom), đã ra mắt mọi người, tiếp theo là bảy cuốn nữa trong những năm sau đó.

            Những cuốn sách đã xuất bản của Trungpa Ringpoche chỉ đại diện cho một phần di sản phong phú về các bài giảng của ông. Trong mười bảy năm giảng dạy ở Bắc Mỹ, ông đã gầy dựng nên những cơ cấu cần thiết để cung cấp cho học viên của mình một sự rèn luyện chánh pháp thấu đáo và có hệ thống. Từ những cuộc nói chuyện và những khóa học nhập môn cho đến khóa nhập thất trình độ cao theo nhóm, các chương trình này luôn chú trọng giữa học và hành, giữa tri thức và trực quan. Cuộc sống của tôi với Chögyam Trungpa là câu chuyện về cuộc đời của Trungpa Ringpoche qua lời kể của Diana Mukpo, vợ ông. Điều này cũng cho người ta thấy được nhiều hình thức khác nhau mà Trungpa Ringpoche đã khắc họa ra cho Phật giáo ở Bắc Mỹ.

            Ngoài việc giảng dạy tích cực giáo lý đạo Phật, Trungpa Ringpoche cũng rất chú trọng đến việc phổ biến các giáo huấn Shambhala, nhấn mạnh tầm quan trọng của thiền thực hành, tạo sự đồng bộ giữa thân và tâm, rèn luyện đương đầu với những trở ngại và thách thức trong cuộc sống hàng ngày bằng một thái độ can đảm của một dũng sĩ. Xây dựng nên một xã hội giác ngộ là mục tiêu cơ bản của những giáo huấn Shambhala. Theo đường lối của Shambhala, việc thực hiện một xã hội giác ngộ không chỉ đơn thuần dựa vào các hoạt động bên ngoài như tham gia vào cộng đồng hoặc môi trường chính trị, mà còn qua sự đánh giá các ý nghĩa và khía cạnh thiêng liêng của cuộc sống thường ngày. Một cuốn sách thứ hai trong loạt giáo lý này, mang tên Mặt trời phương đông vĩ đại, được xuất bản năm 1999. Cuốn sách cuối cùng trong loạt này, Mĩm cười với nỗi sợ, ra mắt vào năm 2009.

            Chögyam Trungpa từ trần năm 1987, ở cái tuổi bốn mươi bảy. Vào thời điểm qua đời, ông được biết đến không phải chỉ với danh vị Ringpoche (Bậc Tôn quý), mà còn là Vajracharya (Kim cương thủ), và Vidyadhara (Minh Trì), do vai trò đạo sư của ông trong các giáo lý kim cương thừa, hay giáo lý Mật tông của Phật giáo. Vì là người cai quản các giáo huấn Shambhala, ông còn được nhận danh hiệu Dorje Draddul (Dũng sĩ Bất diệt) và Sakyong (Người Bảo vệ Đất đai). Khi qua đời chögyam Trungpa để lại vợ, Diana Judith Mukpo, và năm người con trai. Con trai cả của ông, Sawang Ösel Rangdröl Mukpo, kế vị ông làm người lãnh đạo Vajradhatu (Kim cương giới). Nhận rõ tầm quan trọng của các giáo huấn Shambhala đối với sự nghiệp của thân phụ mình, Sawang đổi tên của hệ thống Vajradhatu thành Shambhala, chỉ giữ lại cái tên Vajradhatu cho bộ phận chính trong đó. Năm 1995, Sawang được nhận danh vị Sakyong của Shambhala giống như cha mình trước đây, và còn được công nhận là một hóa thân của đại sư trưởng Mipham Ringpoche.

            Trungpa Ringpoche được mọi người nhìn nhận là một nhân vật then chốt trong việc giới thiệu giáo lý đạo Phật với thế giới phương Tây. Ông đã biết kết hợp kiến thức uyên thâm về truyền thống tôn giáo với sự đánh giá cao của mình đối với nền văn hóa phương Tây. Điều này chỉ ra một đường lối cách mạng trong việc giảng dạy chánh pháp, trong đó gác giáo lý cổ xưa và sâu sắc được trình bày một cách rất đương đại.

 

Nhà xuất bản thời đại

  • Mệnh vận của con người là do nghiệp lực chiêu cảm mà ra. Chúng ta không nên để bẩm chất, thói quen dắt dẫn mình, cũng đừng để dục vọng, vật chất làm mê mờ. Mình cần phải sáng tạo vận mệnh, lèo lái vận mạng. Muốn sửa đổi vận mạng thì phải làm cho nhiều việc công đức. Lúc ấy, khi bạn gặp nạn tự nhiên điều lành sẽ tới. Ðiều dữ sẽ biến thành điều kiết tường. Rằng: Hãy làm việc tốt, chớ hỏi sẽ được kết quả gì trong tương lai.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 2.124
  •  bất cứ một trường học nào của các quốc gia trên thế giới cũng đều có dạy môn nầy. Ngày xưa tại Việt Nam ở bậc tiểu học có dạy môn: Công Dân Giáo Dục hay Đức Dục. Cứ mỗi sáng Thầy Cô giáo trước khi dò bài học sinh đều viết lên bảng đen một câu cách ngôn hay tục ngữ.

    Ví dụ:
    - Tiên học lễ, hậu học văn

    - Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây

    - Nhơn bất học bất tri lý, ngọc bất trác bất thành khí, ấu bất học lão hà vi?

    - Bầu ơi thương lấy bí cùng,
      Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn v.v...

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 2.105
  • Theo lối giải thích của Phật giáo,tâm thức được cho là không hề bị trở ngại và cũng không có tính cách vật chất.Tất cả mọi tình tự cảm giác,mọi phiền não,mọi lỗi lầm của con người đều khởi nguồn từ những hành vi của tâm thức.Tuy nhiên,cũng vì bản chất cố hữu của tâm thức này mà con người có thể loại trừ tất cả những sai quấy và phiền  não ấy hầu mang lại một nền hòa bình vĩnh cửu và niềm an lạc thường hằng.Bởi vì ý thức là nền tảng của mọi hiện hữu và của sự giác ngộ nên còn có rất nhiều bài khảo thuyết uyên áo bàn luận về vấn đề này.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.232
  • Nói chung, mọi hiện tượng do duyên đều vô thường và đặc biệt đời sống của chúng sanh hữu tình thì vô thường như bọt nước. Con không bao giờ biết khi nào con sẽ chết. Không chắc chắn con sẽ không chết ngay bây giờ. Hơn nữa, vào lúc chết không có gì cứu giúp con được ngoại trừ Pháp. Nếu con làm việc cho những việc vô nghĩa của thế gian, con sẽ không thể vượt khỏi những nguyên nhân tạo ra khổ đau. Thế nên con hãy phát nguyện rằng bất cứ khi nào tâm con lang thang dù chỉ một khoảnh khắc theo những tư tưởng về thức ăn, y phục v.v... cho cuộc đời này, thì con sẽ nghĩ về cái chết.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 2.768
  •  Mong rằng tất cả chúng sanh được hạnh phúc và tìm thấy những nguyên nhân của hạnh phúc,
    Được miễn khỏi khổ đau và nguyên nhân của khổ đau,
    Rằng không ai thiếu hạnh phúc chân thật – mọi khổ đau dứt bặt,
    Và họ luôn luôn cảm nghiệm sự bình đẳng vĩ đại không biết luyến ái những người thân, không ghét bỏ những người khác.
    Bốn Đức Hạnh Vô Lượng

    Trong thuật ngữ Phật giáo, có một “động cơ đúng” cốt ở mong muốn hạnh phúc và sự tốt đẹp cho tất cả, mong muốn họ tìm thấy bình an và thoát khỏi những nguyên nhân của khổ đau. Đó là một tham vọng cao cả, một nguồn cảm hứng trong những giờ phút tốt đẹp cũng như xấu số. Chắc chắn lời cầu nguyện này nhắm rất cao, nhưng có lợi khi định nghĩa rõ ràng, ngay từ bước khởi hành, những mục tiêu sẽ còn giá trị và phù hợp với mỗi giai đoạn của cuộc du hành.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 844
  • Giá trị của một đời người là chiều rộng và chiều sâu của cuộc đời đó. Nói cách khác, đó là sự phong phú, đa dạng và sự sâu thẳm trong đời sống của con người. Về chiều rộng, chúng ta luôn tìm cách để hiểu biết thêm, trải nghiệm thêm qua báo chí, sách; qua nghiên cứu, tiếp xúc, giao tiếp, du lịch… Chúng ta luôn trải rộng thêm những kinh nghiệm của mình về đời sống. Một số từ ngữ thường dùng chỉ điều này, đó là lịch duyệt, lịch lãm, lịch sự, lịch thiệp…

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.053
  • Tôi tự hỏi có khi nào bạn đi dọc theo bờ sông, bạn chợt thấy có một cái vũng ao nhỏ nằm kế bên giòng sông hay không? Chắc là có, anh chàng câu cá nào đã đào chơi để đó. Bạn sẽ thấy ngay sự khác biệt: giòng sông thì rộng, sâu, luôn trôi chảy không ngừng nghỉ, trong khi vũng nước đặc sệt những bùn lầy vì nó nằm một chỗ, không thông thương với giòng sông. Dĩ nhiên là không thể nào có cá lội trong vũng nước đó được, không thể nào sinh động như giòng sông. Bạn có thấy nhân loại giống như thế hay không? Mỗi người tự đào lấy một cái vũng nhỏ cho mình, ẩn nấp trong đó, tự tách rời ra khỏi mạch sống của cuộc đời kẹt cứng trong vũng nước ao tù đó cho tới chết và gọi là sự dính mắc, thối rửa, đó là kiếp người.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 2.392
  •  

     

    Có vài người nghĩ rằng đạo Phật quá cao siêu huyền bí, không thể thực hành được bởi những người nam, nữ thông thường trong thế giới chúng ta hằng ngày, và nếu muốn trở thành một Phật tử chân chính thì người ta cần phải từ bỏ cuộc đời này để rút lui vào một tu viện hay đến một nơi nào yên tĩnh.

    Ðấy là một quan niệm sai lạc đáng buồn do sự thiếu hiểu biết về giáo lý Phật. Người ta thường đi đến những kết luận sai lầm và vội vã, sau khi tình cờ nghe hay đọc một cái gì về Phật giáo do một tác giả không hiểu thấu vấn đề, đưa ra một quan niệm thiên lệch và chủ quan về Phật giáo. Giáo lý Phật không phải chỉ cốt dành cho Tăng lữ trong tu viện, mà còn cho những nam nữ cư sĩ sống trong gia đình. Bát chánh đạo, một lối sống theo Phật giáo, là dành cho tất cả không phân biệt.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 887
  • Lời khuyên người tin vào tôn giáo

    Tất cả mọi người đều có quyền có niềm tin hay không. Tuy nhiên khi đã theo một tôn giáo nào và tin vào những gì tôn giáo ấy thuyết giảng thì hãy xem trọng những lời thuyết giảng ấy và nhất là tránh đừng có hôm nay thì tin, ngày mai thì lại không. Chớ nên hành động bừa bãi, lời nói phải đi đôi với sự suy nghĩ.

    Một số người nghĩ rằng : « Nếu tôi đã đặt niềm tin vào Phật giáo thì tôi phải hội đủ khả năng để sống một cách hoàn toàn và trọn vẹn, còn nếu không thì tôi sẽ bỏ đạo !». Thái độ muốn « được tất cả hay là bỏ hết » là một thái độ thường thấy ở người Tây phương.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 933
  • "Chính ta làm cho ta ô nhiễm,
    Chính ta làm cho ta trong sạch." -- Kinh Pháp Cú

    Có phải chính người hành động (tạo nghiệp) gặt quả trong kiếp tương lai?

    Nói một cách tuyệt đối rằng chính người gieo nhân sẽ gặt quả là một cực đoan, mà nói rằng người gieo nhân và người gặt quả là hai người hoàn toàn khác biệt là rơi vào một cực đoan khác. Tránh hai cực đoan trên, Đức Phật truyền dạy một Giáo Pháp "Trung Đạo" căn cứ trên lý Nhân Quả:

    "Không tuyệt đối là một người, cũng không phải là hai người hoàn toàn khác biệt" (Naca so, naca anno), Đại đức Budhhaghosa viết như vậy trong sách Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi Magga). Sự biến thể của loài tằm có thể là một thí dụ. Khởi đầu là một cái trứng. Trứng nở ra tằm. Tằm thành nhộng, nhộng thành bướm và bướm đẻ trứng.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 948
  • NHIỀU GIÁO THUYẾT, NHIỀU ĐƯỜNG TU

    Ðể sống trọn vẹn và xứng đáng, không nhất thiết phải theo một tôn giáo hay một tín ngưỡng nào cả. Tuy vậy, có nhiều người chọn sống theo tôn giáo tín ngưỡng. Nhiều khi vì không có dịp tiếp xúc với nhau nên chúng ta mang ấn tượng sai lệch về những truyền thống tôn giáo không phải của mình. Nói cách khác, chúng ta có thể lầm tin tôn giáo của mình là tôn giáo duy nhất có giá trị. Như tôi, trước khi rời Tây Tạng, khi chưa từng được gặp tôn giáo nào khác cũng chưa từng được tiếp xúc với những nhà lãnh tụ trong các tôn giáo khác, tôi cũng đã từng có quan niệm sai lầm như vậy.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 844
  • Nhìn chung quanh chúng ta, sự vật nào cũng có những nguyên nhân, để có thể giải thích tại sao là cái này mà không là cái khác, tại sao nó có mặt ở đây, vào lúc này.

    1.    Nhân quả để giải thích đời sống

     

    Nhìn chung quanh chúng ta, sự vật nào cũng có những nguyên nhân, để có thể giải thích tại sao là cái này mà không là cái khác, tại sao nó có mặt ở đây, vào lúc này. Và rồi có những nguyên nhân để nó hư hoại, ngày nào sẽ biến mất khỏi nơi này. Khoa học cũng nói thế: không có cái gì mà không có những nguyên nhân. Cuộc sống khoa học là đi tìm những nguyên nhân của sự vật, và hội hợp những nguyên nhân đã biết để tạo ra kết quả là một sự vật khác với những tính năng mới lạ hơn. Nguyên lý duyên sanh của Phật giáo cũng nói thế, nhưng với tầm nhìn sâu rộng hơn nhiều: cái gì cũng có từ những nguyên nhân, hay những nhân duyên, do nhiều nhân duyên mà sanh.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.106
  • Với quan điểm thiền tông mang màu sắc rất riêng, với sự nghiệp hoằng truyền thiền pháp rực rỡ, Chân Nguyên được coi là cây đuốc rực rỡ của Phật giáo Việt Nam trong thế kỷ 17

     

    Những câu chuyện huyền thoại xung quanh sự nghiệp của Chân Nguyên chắc chắn sẽ còn được người đời sau truyền tụng mãi mãi.

    1. Thiền sư Chân Nguyên vốn mang họ Nguyễn, tên thật là Nghiêm, tự là Đình Lân, người làng Tiền Liệt, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Câu chuyện về sự ra đời của Chân Nguyên được người đời nhắc lại đã đầy màu sắc huyền thoại. Chuyện kể rằng, một hôm, mẫu thân Chân Nguyên nằm mộng thấy một cụ già râu tóc bạc phơ tặng cho bà một bông sen lớn.

    Bà giật mình tỉnh dậy và thấy trong người khang khác, từ đó bà mang thai. Tới giờ Ngọ ngày 11/9 năm Đinh Hợi, 1647, bà sinh ra một người con trai, đặt tên là Nguyễn Nghiêm, chính là thiền sư Chân Nguyên sau này.

     

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 2.061
  • “Dựa trên những lời giáo huấn để đánh giá một vị thầy: Đừng tin một cách mù quáng, nhưng cũng đừng phê bình mù quáng”. Đức Dalai Lama

    Chúng ta cần sự hỗ trợ trên con đường tâm linh để giúp tìm ra con đường đúng đắn. Rõ ràng, một người tốt nhất để chúng ta đi theo có thể xem như là một hướng dẫn viên du lịch giỏi, người đã đi qua con đường đó một cách thành công. Người ấy có thể giúp ta rút ngắn lộ trình của mình và tránh những chướng ngại trên đường.

    Ở phương Tây, vai trò của vị thầy tâm linh thường bị hiểu nhầm,bởi vì người phương tây đã không còn giữ hệ thống giáo dục cổ điển, học sinh học với một vị thầy giáo trong nhiều năm, chẳng hạn như việc học các nghành nghề thủ công.

    Có nhiều sự hiểu nhầm về các bậc thầy tâm linh. Một số người có thể nghĩ rằng, một vị thầy tâm linh sẽ nhận lãnh toàn bộ trách nhiệm đối với đời sống của một người đệ tử, và xem người đệ tử như là một kẻ biết vâng lời, một đứa trẻ vô tâm. Như Scott Mandelker nhận định: “Dường như rằng, hầu hết những người đệ tử đều thật sự muốn giữ lại một chút tính trẻ con, và thần tượng hóa người cha, người mẹ tâm linh thiêng linh của mình”.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 838
  •  

    Trích trong Thiền đạo tu tập (The practice of Zen)  

    của Chang Chen Chi (Trương Trừng Cơ)

    Bản dịch Như Hạnh, Kinh Thi in lần 1, 1972

    Tôi sinh ở Toàn Tiêu thuộc quận Nam Kinh. Mẹ tôi một Phật tử mộ Đạo, suốt đời thờ Đức Đại Sĩ Quan Thế Âm. Một hôm bà nằm mộng thấy Đức Đại Sĩ dắt đến một đứa trẻ bà vui mừng ôm lấy. Sau đó bà mang thai, và tôi ra đời ngày 12 tháng 10, 1545.

                Vào 1546, khi tôi được 12 tháng, một cơn bệnh hiểm nghèo sắp đưa tôi đến chỗ chết. Mẹ tôi cầu nguyện lên Đức Đại Bi và nguyện rằng nếu tôi hồi phục bà sẽ cho tôi vào chùa làm sư. Khi tôi hồi phục, y như lời nguyện mẹ tôi ghi tên tôi vào chùa Trường Thọ.

                Khi tôi lên ba, tôi thích ngồi một mình hơn là lo đi chơi với trẻ con khác. Ông tôi thường than, “Thằng bé này như một cái sào gỗ!”.


    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.858
  •  

    Trích tiểu sử của Chögyam Trungpa trong quyển Thiền Thực Hành.

                Chögyam Trungpa Ringpoche sinh ra tại tỉnh Kham, miền đông Tây Tạng, năm 1940. Khi mới mười ba tháng tuổi, ông đã được công nhận là hóa thân của một tulku (sư trưởng) quan trọng. Theo truyền thống Tây Tạng, do hạnh nguyện từ bi của mình, một vị đạo sư đắc đạo có thể hóa thân làm người trở lại suốt nhiều thế hệ nối tiếp. Trước khi qua đời, vị đạo sư có thể để lại một di thư hoặc những dấu hiệu khác cho biết hóa thân sắp tới của mình. Sau đó, các đệ tử và các đại sư đắc đạo khác sẽ tìm kiếm và căn cứ vào những dấu hiệu này, cộng thêm nghiên cứu cẩn thận các chiêm bao và điểm mộng, tiến hành các cuộc tìm kiếm để phát hiện, nhận biết người kế vị. Do vậy mà đã ra đời nhiều dòng truyền thừa khác nhau, một số dòng có thể trải rộng qua nhiều thế kỷ. Chögyam Trungpa là đời thứ mười một trong dòng truyền thừa có tên là Trungpa Tulku.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.274
  • BIẾT RÕ VIỆC ĐANG LÀM
    Nguyễn  Duy Nhiên

    Trong bài kinh Tứ niệm xứ, Bốn lãnh vực quán niệm, đức Phật có dạy cách thực tập như sau:

    “Khi đi, vị khất sĩ lại cũng ý thức rằng mình đang đi; khi đứng, ý thức rằng mình đang đứng; khi ngồi, ý thức rằng mình đang ngồi; khi nằm, ý thức rằng mình đang nằm. Bất cứ thân thể mình đang được sử dụng trong tư thế nào, vị ấy cũng ý thức được về tư thế ấy của thân thể…

     

    Khi đi tới hoặc đi lui, vị khất sĩ cũng biết rõ việc mình đang làm; khi nhìn trước nhìn sau, cúi xuống, duỗi lên, vị ấy cũng chiếu dụng ý thức sáng tỏ ấy; khi mặc áo, mang bình bát, vị ấy cũng chiếu dụng ý thức sáng tỏ ấy; khi ăn cơm, uống nước, nhai thức ăn, nếm thức ăn, vị ấy cũng chiếu dụng ý thức sáng tỏ ấy; khi đi đại tiện, tiểu tiện, vị ấy cũng chiếu dụng ý thức sáng tỏ ấy; khi đi, đứng, nằm, ngồi, ngủ, thức, nói năng, hoặc im lặng, vị ấy cũng biết rõ việc mình đang làm.”

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 768
  • CON ĐƯỜNG CĂN BẢN ĐẾN GIÁC NGỘ
    Bản Văn Bảy Điểm Tu Tâm của phái Kadam
    Nguyên tác: Training the Mind and Cultivating Loving-Kindness by Chošgyam Trungpa

    Nhà xuất bản Shambhala, 1993

    Việt dịch: Trùng Hưng -Nhà xuất bản Thiện Tri Thức, 2001

    Tất cả pháp đồng ý ở một điểm

    Ở đây, Pháp không liên hệ gì với danh từ pháp theo nghĩa triết học, hay là “những sự vật như chúng là” ; pháp ở đây chỉ có nghĩa là những giáo lý. Chúng ta có thể nói rằng tất cả mọi giáo lý về căn bản là một cách khuất phục hay làm rơi rụng bản ngã của chúng ta. Và tùy theo bài học khuất phục bản ngã được nắm giữ ở trong chúng ta nhiều bao nhiêu, thì thực tại cũng được hiển lộ với chúng ta nhiều bấy nhiêu. Tất cả các pháp đã được dạy đều nối kết với điều này. Không có pháp nào khác. Không có những giáo lý khác, đặc biệt trong những giáo lý của Phật.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 704
  • Đời Sống Hằng Ngày và Pháp

    Ngài Gyalwang Drukpa thứ 12

    Pari, Pháp quốc 1995

    Tôi rất hoan hỉ được gặp lại tất cả các bạn. Thời gian trôi qua, chúng ta

    lại có dịp gặp lại nhau. Vì thế mà chúng ta cần phải cảm tạ duyên nghiệp

    của chúng ta. Thời gian tiếp nối chính là phần thiết yếu của nghiệp.

    Tôi luôn luôn cảm tạ nghiệp của mình mỗi khi tôi có được cảm giác

    hạnh phúc, an lạc và hài lòng. nhưng tôi chưa bao giờ nghe thấy ai nói

    ( cảm ơn duyên nghiệp của tôi). mọi người chẳng bao giờ cảm ơn

     nghiệp của mình. họ cảm ơn chúa, hoặc có thể là phật.


     

     

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 816
  •  

      ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA

    Mục tiêu của đời sống là phấn đấu cho hạnh phúc.
    Chúng ta có mặt ở đây; chúng ta hiện hữu và có quyền tồn tại. Ngay cả những loài không phải là chúng sinh hữu tình như bông hoa cũng có quyền tồn tại. Nếu một năng lực tiêu cực tác động lên bông hoa, nó sẽ tự chữa trị bằng phản ứng hóa học để duy trì sự sống. Nhưng [hơn thế nữa] , chúng ta, những con người, kể cả côn trùng, thậm chí những ký sinh trùng amip, những sinh vật nhỏ bé nhất cũng được xem là chúng sinh. Là chúng sinh, chúng ta còn có nhiều cơ cấu để duy trì sự tồn tại của bản thân hơn.

     

     

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 834

Top Bài Viết

Top Music

Top Book Mp3

Top Music Album

 
© Copyright 2013 - 2019 PHATAM.ORG - Chịu trách nhiệm nội dung: Thị Đức bienman0811@yahoo.com - Hỗ trợ kỹ thuật votamthoai@gmail.com