CHỈ NGỒI - Tenshin Reb Anderson

 

Tenshin Reb Anderson

Giáo lý tánh Như đã được truyền thông mật thiết bởi chư Phật chư Tổ. Nghĩa của thực hành tánh Như này không nằm trong lời nói, nhưng nó đáp ứng cho sự quyết tâm của chúng ta. Nó tiến lên và gặp gỡ chúng ta. Chúng ta ngồi đây và những con chim xanh hát nó cho chúng ta, những dòng suối hát nó cho chúng ta, bởi vì chúng ta đến và nghe. Đây là sự thực hành ngồi, chỉ ngồi, của chúng ta. Nó là một thiền định không chủ đề, một thiền định không có mối nối khâu vá. Nó không còn hình tướng, không bắt đầu và không kết thúc và nó toả khắp mọi sự một cách trọn vẹn. Nó không để lại dấu vết, và nếu tôi cố gắng truy tìm dấu nó, mà vì nó đáp ứng một cách rộng lượng và từ bi cho sự tìm dấu của tôi, cho sự nói của tôi và cho sự nghe của các bạn.

 

 

Đức Phật Thích-ca Mâu-ni đã trao truyền giáo lý tánh Như. Ngài nói như sau:

 

Xin hãy tu hành như vầy: Trong cái thấy, chỉ có cái thấy. Trong cái nghe, chỉ có cái nghe. Trong cái cảm thọ, chỉ có cái cảm thọ. Trong cái nhận thức chỉ có cái nhận thức. Khi các ông, trong cái thấy chỉ có cái thấy, trong cái nghe chỉ có cái nghe, trong cái cảm thọ chỉ có cái cảm thọ, trong cái nhận thức chỉ có cái nhận thức, bấy giờ các ông sẽ không đồng hoá với cái thấy, cái nghe… Và nếu các ông không đồng hoá với chúng, các ông sẽ không trú ngụ nơi chúng. Nếu các ông không trụ vào chúng, sẽ không có ở đây, ở kia hay ở giữa. Và đây là sự chấm dứt khổ.

 

Đây là thiền định không chủ đề. Đây là thiền định không có mối nối khâu vá. Không có mối nối giữa bạn và cái nghe: chỉ có cái nghe. Không đường nối: chỉ cái nghe, và cái thấy và cái tưởng. Đây là không có đối tượng của tư tưởng.

 

Đức Phật Thích-ca Mâu-ni cũng nói, “Nếu các ông đến năm uẩn, nếu các ông đến màu sắc hay âm thanh, hay nếu chúng đến các ông, đây là khốn khổ”.

 

Tiếp cận những màu sắc không chỉ những màu sắc là những màu sắc, mà bạn tiếp cận chúng. Đây là khốn khổ. Tiếp cận những cảm thọ, tiếp cận những tri giác, tiếp cận những cảm xúc, tiếp cận những thức, tạo ra những tiếp cận này, hay bị tiếp cận bởi những hiện tượng ấy: đây là khốn khổ. Nhưng nếu chúng ta không tiếp cận những hiện tượng này, nếu không có đường nối nào giữa chúng và chúng ta, bấy giờ những uẩn vẫn như vậy, chúng là phúc lạc. Chúng ta có thể thấy những gốc rễ của truyền thống Thiền và thiền định không đối tượng trong lời dạy của Đức Phật.

 

Khi vị tổ thứ hai mươi mốt Thế Thân (Va-subandhu) đang nói với Jayata (Xà-dạ-da -K. thế kỷ 3 s. TL-, người Nam Ấn. Tổ thứ 20 của Thiền tông Ấn Độ),tổ Jayata nói:

 

Ta không tìm kiếm giác ngộ, ta cũng không vô minh. Ta không thờ Phật, ta cũng không bất kính. Ta không ngồi những thời kỳ lâu, ta cũng không lười biếng. ta không ăn mỗi ngày một bữa, ta cũng không ăn quá nhiều. Ta không tự bằng lòng, ta cũng không tham lam. Khi tâm không tìm kiếm cái gì cả, cái này được gọi là Đạo.

 

Nghe vậy, Thế Thân chứng ngộ cái hiểu biết không nhiễm ô. “Nghe vậy”. Bây giờ những lời này đã qua. Chúng nói về cái gì? Bạn có thể nghe tinh thần giác ngộ, bạn có thể ngửi và nếm tinh thần giác ngộ trong những lời này? Nó có vẻ thân thuộc không? Nó có nghe như bài hát trường bạn?

 

Sau khi Thế Thân đã chứng ngộ cái hiểu biết không nhiễm ô, ngài dạy cho vị kế tục, Manorhita (Ma-noa-la – K. thế kỷ 5 s. TL – người nước Na-đề. Tổ thứ 22của Thiền tông Ấn Độ.). Manorhita hỏi Thế Thân, “Cái gì là sự giác ngộ của chư Phật?” Thế Thân nói, “Nó là bản tánh bổn nguyên của tâm”. Manorhita nói, “Cái gì là bản tánh bổn nguyên của tâm?”.

 

Thế Thân nói, “Tánh Không của những giác quan, của những thức thuộc về giác quan và của những trường của giác quan (căn, thức, trần)”.

 

Nghe vậy, Manorhita ngộ. Bạn đang nghe gì?

 

Sự thể nghiệm khái niệm đúng chính là chân lý, lời dạy, sự giác ngộ của những bậc thánh. Đối với tâm, dừng trên khái niệm đúng là cách chư Phật vận dụng. Thế Thân không từ chối một cấp độ kinh nghiệm tri giác trong đó không có cảm thức về tự ngã hay chấp ngã. Tuy nhiên, bạn không biết cấp độ này trong đời sống hàng ngày. Cấp độ của kinh nghiệm bình thường của bạn, ở đó bạn biết sự vật một cách rõ ràng, là những quan niệm. Trong thực hành ngồi, tỉnh giác thân thể và hơi thở, điều bạn ý thức là một ý niệm, hay một chuỗi những ý niệm đẹp đẽ về thân. Nếu tâm có thể thể nghiệm chỉ ý niệm về thân, công việc của bạn là tốt. Có kinh nghiệm trực tiếp và tức thời về tâm, và chính từ kinh nghiệm tức thời này về thân mà kinh nghiệm ý niệm về thân được tạo ra. Thực hành chỉ ngồi là tâm chấm dứt, hoàn thành ngay trên ý niệm về ngồi, trên ý niệm về thân tâm, hơi thở, ngồi.

 

Trong từ ngữ chỉ quản đả toạ, chỉ quản (shikan) thường được dịch là “chỉ”, hay “chỉ có”. Đã là “đánh”, toạ là “ngồi”. Nghĩa đen của nó là “đánh sự ngồi”, nhưng “đả” thực sự làm mạnh thêm “toạ”. Thế nên nó có nghĩa là “ngồi”. Chỉ quản có nghĩa là “chỉ”, “đúng như” nhưng nó cũng có nghĩa “làm nó bằng mọi cách”, hay “sống hoà thuận với nó”. Trong tiếng Anh, chỉ (just) cũng có nghĩa “đúng đắn theo luật, hợp pháp, thích hợp”. Nó có nghĩa “lành mạnh, có cơ sở”. Nó có nghĩa “đúng đắn, chính xác”. Nó có nghĩa “đứng thẳng trước Thượng đế, chính trực, đứng thẳng trước chân lý”.

 

Hãy sống “đúng đắn”. Ý niệm đúng, ngồi đúng, chỉ đúng là cái nghe trong cái nghe, chỉ đúng là cái thấy trong cái thấy. Nghe đứng thẳng, nghe chính trực, nghe chính xác, nghe lành mạnh, nghe hợp với luật, nghe xứng đáng. “Chỉ, đúng” là một từ lớn trong Phật giáo. Nó ở khắp mọi nơi, hợp đúng với cái đang xảy ra. Đó là sự ngồi thiền chúng ta đang làm: hoàn toàn ổn định ngay trên chính mình.

 

Một người bạn tôi đang chờ xe buýt Fillmore ở San Francisco, và một người già cũng chờ xe buýt ở đó. Bạn tôi nói chuyện với ông và ông nói với cô ấy rằng ông một trăm tuổi. Dĩ nhiên cô ấy hỏi, “Làm sao ông già như thế chứ?” Ông trích dẫn từ Kinh Thánh: “Không có vật gì ta từ chối ngươi nếu ngươi đứng thẳng trước mặt ta”.

 

Bạn đang làm phần bạn: bạn bày sự “chỉ ngồi” ra đó. Đó là công việc của bạn. Bạn chỉ ngồi. Đó là năng lượng của bạn, đáp thẳng xuống năng lượng của bạn; chính xác, đúng đắn, xứng đáng, thẳng lên, hãy là kinh nghiệm của bạn. Và đã ở đó, đã hoàn toàn toả khắp bạn: bạn chỉ phải đặt một ít năng lượng để chứng ngộ nó. Nhưng chính xác nó không phải là một ít năng lượng của khoảnh khắc này, dù nó là gì. Đó là tại sao bạn không cần cái gì khác ngoài cái bạn đã có. Bạn không cần tỉnh thức nhiều hơn hay tỉnh thức ít hơn. Bạn không cần có nhiều lương thực hơn hay ít lương thực hơn cái bạn đã có. Bạn chỉ cần hiện hữu chỉ đúng như vậy. Đây là cái chính bạn thẳng đứng, xứng đáng mà bạn có ngay ở đây. Bạn đã cử hành nó, bạn đã hiện hữu ở đó cho nó.

 

Điều tôi nói ở đây chỉ là nhắc bạn nhớ lại cái mà bạn đã biết, cái mà bạn đã định. Nhất là, điều tôi làm ngoài việc nhắc bạn nhớ lại sẽ đơn giản là chỉnh đốn bạn, chỉ là “chỉnh hợp” bạn. Tất cả là vậy. Đó là tất cả điều tôi có thể làm. Tôi không sửa sai bạn, tôi chỉ chỉnh hợp bạn. Nhưng đôi khi tôi cảm thấy nếu bạn ngồi thế này hơn là ngồi như thế kia thì bạn sẽ “hợp” hơn một tí. Nếu tôi thấy ấn của bạn thế này, tôi có thể nghĩ, “Bạn sẽ hợp hơn một tí nếu để thế kia”. Dĩ nhiên, cách này vẫn đúng, nhưng tôi chỉnh hợp như thế kia. Đó chỉ là ý kiến thẩm mỹ của tôi. Đó chỉ là sự chỉnh hợp của cá nhân tôi cho bạn.

 

Tôi cố gắng không vướng bận vào bất cứ loại xét đoán nào trong khi chỉnh hợp: tôi chỉ chỉnh hợp thôi. Và rồi chính bạn không nghĩ là bị xét đoán, mà đúng hơn bạn cảm thấy đúng hợp hơn sau sự chỉnh hợp. Trước tiên, bạn có thể đôi khi cảm thấy, “Chà, cái này thì kỳ cục. Tôi cảm thấy tốt khi bỏ nó. Tôi nghĩ tôi đang ngồi thẳng, nhưng bây giờ tôi cảm thấy có cong cong”. Có lẽ trong sự nghi ngờ ấy mà bạn cảm thấy sau một sự chỉnh hợp tư thế hay sau một chỉnh hợp lời nói, trong sự tái định hướng, dù nó có thể là một loại ngạc nhiên hay bạn hỏi cái gì đang diễn tiến, thì bạn sẽ nhớ lại những gì bạn từng nghe trước kia về Phật đạo. Như Thế Thân nói, “Ta không tìm giác ngộ, ta cũng không vô minh”. Tôi đang không đúng hay sai lầm. Tôi ở trong một chỗ vượt khỏi nghe thấy. Thế nên nếu bạn ở trong lĩnh vực của nghe và thấy, và bạn được chỉnh hợp vào không gian vượt khỏi nghe và thấy, trong một chốc có sự mất định hướng. Thình lình, bạn đang sống ở một chỗ nào đó bạn không thể nắm được điều gì.

 

Khi bạn chỉ đang ngồi, bạn không thể nắm được cái gì cả, bởi vì bạn chỉ ngồi. Bạn chỉ đang ngồi: bạn nhiệt thành chỉ làm điều đó. Khi bạn mất cái gì đã cho bạn định hướng nào đó – hoặc ở đây hoặc ở kia hoặc ở giữa – trước hết bạn tự hỏi cái gì đang xảy ra. Nhưng bạn tin cái không gian mới ấy, cái không gian nơi đó bạn không biết chính xác cái gì đang xảy ra. Ít ra, hãy tin nó một lát.

 

Điều này giống như đối với Bồ Đề Đạt Ma. Ngài không có giáo lý đặc biệt nào cho đệ tự Huệ Khả. Ngài chỉ nói, “Bên ngoài, hãy không dính dáng”. Thế đấy! Không dính dáng. “Bên trong, hãy không thở không ho. Với tâm như một bức tường, như thế an vào Đạo”. Với tâm bạn như một bức tường: nói cách khác, hợp đúng. Với tâm bạn hợp đúng, hay tâm bạn như thế. Như thế bạn vào Đạo”.

 

Ngài không nói nhiều, nhưng đó là lời dạy cho một đời, ngay đó. Đó là cái mà tất cả các bạn cần: “Bên ngoài, không dính dáng. Bên trong, không thở không ho”. Không thở, không rút khỏi chính xác chỉ cái này. Bên trong, không nhút nhát: “Tôi không thể sống theo kinh nghiệm này, nó quá sức của tôi! Nó quá nhanh, nó quá mãnh liệt, nó quá kinh khủng!”. Chẳng có gì như vậy! Cũng không thở không nuốt lớn. Như là, “Cái này thì thấp hơn tôi. Tôi đã có những cái tốt để làm hơn là suy nghĩ cách này. Có những con chim tốt hơn là những con giẻ cùi xanh để nghe. Bây giờ, những con chim gõ kiến thì khác. Chúng thật sự hấp dẫn”. Không ho trong tâm, và cũng không rút khỏi. Chớ lìa bỏ nó, chớ rút lui khỏi nó. Bên trong chỉ để như thế này: để kinh nghiệm của bạn giống như một bức tường.

 

Chúng ta có một bữa ăn theo nghi lễ truyền thống trong Thiền Tào Động. Bộ chén bát chúng ta dùng trong nghi lễ được gọi là oryoki. Orioky nghĩa là “trang bị chỉ đủ” hay “chén bát chỉ đủ” để nâng đỡ đời sống chúng ta. Vào lúc bữa ăn kết thúc, chúng ta cúi về phía trước để rửa những chén này. Đây là một thời gian người cao thì khó khăn. Một số người rất cao thì cách xa với cái chén của mình. Nếu bạn cao và cần kính mà không đeo, thậm chí bạn không thể thấy chén bạn ở phía dưới, phải không? Thế nên bạn cần đưa mắt đến gần hơn để nhìn: “Nào, cái gì ở dưới kia?”. Có một số chén và thức ăn và mọi thứ! Tốt nếu bạn muốn cúi mặt xuống; nhưng hãy giữ lưng thẳng. Nó là một loại “chỉ đúng”. Nói cách khác, hãy tỉnh giác cái lưng bạn. Nó có một sự khác biệt, và nó là thực tập tốt cho lưng bạn, dầu là phụ thôi. Hầu hết những sự việc này là những sự thực tập tốt.

 

Lại nữa, hãy cố gắng không để tay lên đùi để giữ mình cho thẳng. Hãy dùng lưng bạn. tựa trên hai khuỷu tay bạn thì phần nào thân thiện, điều đó đúng. “Tốt, đây là tôi, tôi làm việc với những cái chén, và, có rắc rối gì?”. Thực sự nó không phải là một việc dở. Nhưng một lưng thẳng là rất chính xác. Nó hiện diện hơn. Khi bạn cong lưng, bạn không có ý thức. Tôi không biết cái gì xảy ra khi đó. Bạn có thể theo một lối cong quẹo mà không nhận ra bạn đang làm điều đó. Những việc nhỏ này, như giữ lưng cho thẳng và đúng lúc, chúng thuộc về tính chất “chỉ, đúng”.

 

Có một bài thơ gọi là Tình yêu của George Herbert, mà tôi nghĩ là nói về “chỉ, đúng”. Nó nói về sự không chắc chắn, sự thiếu lòng tin của chúng ta về việc chúng ta có thể thực sự “chỉ, đúng” hay không trong mọi nghĩa của từ “chỉ, đúng”.

 

Tình yêu

Tình yêu chào tôi, nhưng hồn tôi rút lui,

Tội lỗi và bụi bặm.

Nhưng Tình yêu lanh mắt, thấy tôi ngại ngần

Từ khi tôi mới bước vào,

Tiến đến gần, dịu dàng hỏi

Tôi thiếu điều gì chăng.

“Một người khách”, tôi trả lời, “xứng đáng ở đây”:

Tình yêu nói, “Anh sẽ là người đó”

“Tôi, kẻ không tốt, kẻ bội bạc? Hởi người thân yêu,

Tôi không thể nhìn người”.

Tình yêu cầm tay tôi và trả lời với nụ cười,

“Ai làm ra đôi mắt này ngoài ta?”

“Chân lý, Đấng tối cao; nhưng tôi đã làm như chúng;

Hãy để cho sự xấu hổ của tôi

Đến nơi xứng đáng với nó”.

“Và anh biết không, tình yêu nói,

                                 ai bị khiển trách?”

“Người thân yêu, rồi tôi sẽ phục vụ”

“Anh phải ngồi xuống”, Tình yêu nói,

“và nếm bữa ăn của tôi”.

Thế nên tôi ngồi xuống và ăn.

 Trích trong  NGỒI KHÔNG (Nhà xuất bản Thời Đại)

  • Ta cần phải thực tập cả hai phương cách, Thanh tịnh và Tỉnh giác, để đạt được những kết quả mà Thiền sẽ mang đến cho ta. Phần đông chúng ta đều muốn được an lạc. Ai cũng muốn được bình yên, muốn được có cảm giác vui sướng, mãn nguyện. Trong Thiền định, nếu ta thoáng bắt được cảm giác an lạc đó, ta sẽ hạnh phúc biết bao. Nhiều người đã thỏa mãn khi đạt được đến trình độ đó. Nhưng thanh tịnh không phải là mục đích của Thiền. Đó chỉ là phương tiện đưa đến cứu cánh. Thanh tịnh là phương tiện. Sự tỉnh giác trong nội tâm mới là cứu cánh. Phương tiện rất cần thiết nhưng không thể lầm lẫn chúng với cứu cánh. Nhưng vì phương tiện đó tạo ra sự thoải mái, dễ chịu, ta trở nên bám víu vào chúng.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.749
  • Có một số câu hỏi đã được nêu lên để hỏi Đức Phật, nhưng Ngài không trả lời vì đó là những câu hỏi đặt sai và vô ích. Bám víu vào những câu hỏi ấy bằng những biện luận thuần lý sẽ rơi vào cạm bẫy của sự hiểu biết quy ước, công thức và nhị nguyên. Cạm bẫy ấy sẽ đưa đến tranh luận vô tận và thắc mắc tiếp nối nhau, đánh lạc hướng sự tu tập. Nhiều vị thầy sống đồng thời với Đức Phật, tức là vào thế kỷ thứ VI trước Tây lịch, đã từng chủ xướng nhiều chủ thuyết trong lãnh vực triết học siêu hình. Nhưng Đức Phật đã che chở cho các đệ tử của Ngài tránh khỏi những cạm bẫy ấy, không phải bằng cách cấm đoán, bằng biện luận hay giải thích, nhưng bằng sự yên lặng. Có tất cả 14 câu hỏi đại loại như sau mà Phật không giải đáp.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.542
  • Thiền không phải là và cũng không nhắm đến những cảnh giới của định (mà chúng ta thường gọi là Bốn thiền Tám định) như là cứu cánh. Những cấp độ định chỉ là những trạng thái, dù vi tế hoặc cùng cực vi tế, của tâm. Chúng có thể dùng để huấn luyện cho tâm thức, chúng là những trạng thái, những biểu lộ vi tế của tâm, nhưng chúng không phải là bản tánh của tâm thức, chúng chưa phải là Tâm.  

    Người xưa thường nói, bình thường tâm là Đạo. Cái tâm bình thường này là nguyên trạng của tâm, bản tánh của tâm, nền tảng của tâm và nó có mặt ở trong bất kỳ trạng thái nào của tâm, trong bất kỳ không gian thời gian nào. Như nước có mặt trong bất kỳ hình tướng biểu lộ nào của nước, trong bất kỳ làn sóng nào. Thiền chính là bản tánh của tâm, cái tâm bình thường, nguyên trạng không khúc xạ, méo mó này.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.020
  • Hình ảnh Ngắm vẻ đẹp hùng vĩ của núi Phú Sĩ xứ Phù Tang số 9    “Hiện thành Công án” là trước tác của thiền sư Đạo Nguyên, nhưng chúng ta dịch câu này là “hiển bày thực tướng tuyệt đối”. Nói khác đi, đời sống là sự hiển bày thật tướng tuyệt đối. Nói như vậy thì Công án này cần phải tham như thế nào? Đó chính là phải hiểu rằng đời sống tức là Phật pháp, sống tức là đã trải qua đời sống khai ngộ như thế. Không thể nói khai ngộ là cái gì đó nằm ngoài đời sống. Thậm chí còn nói ngộ nói mê thì bản thân nó chính là mê.    

               

     

     

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.024
  • Như vậy, tánh thấy là gì? Tánh thấy là Phật tánh hay tánh giác biểu lộ ở cái thấy. Cái thấy này là do duyên sanh, do căn trần thức mà có. Tánh thấy là nền tảng, môi trường, không gian cho sự duyên hợp của căn trần thức tạo thành cái thấy.

    Kinh Lăng Nghiêm nói: “A-nan, ông trôi chìm, không ngộ cái thấy, nghe, hay, biết của ông vốn là Như Lai tạng…. Ông nào có biết, trong Như Lai tạng cái thấy là tánh minh giác, tánh minh giác hiển lộ ra thành cái thấy, thanh tịnh bản nhiên, toàn khắp pháp giới, tùy theo tâm chúng sanh mà ứng với lượng hay biết.

     

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.056
  •          Vấn đề chính của việc tu hành là gì? Đó là vẫn cứ quay về chính mình, trở về ngay với đời sống chính mình. Chúng ta thường nói tịnh hóa chính mình, tịnh hóa sinh tử, nhưng phải tịnh hóa như thế nào? Thiền sư Đạo Nguyên nói: “ Ngồi quên chính mình”. Thế nhưng, chúng ta ngồi quên chính mình, hay là trên thực tế đang cũng cố chính mình? Vấn đề này rất quan trọng.

    Trạng thái quên chính mình là trạng thái như thế nào? Có một tác phẩm tên là Ba trụ thiền(1) (Three pillars of Zen). Nhan đề tác phẩm này ý nói rằng bản thân thiền có những nền tảng căn bản. Trước đây, khi nghe tên tác phẩm thì tôi đã nghe nhầm thành Three pillows of Zen (Ba chiếc gối trong thiền môn); vì tôi nghe chữ “pillar” giống như chữ “pillow”. Muốn ngủ được thoải mái thì phải có ba chiếc gối này. Nếu không bạn sẽ gặp ác mộng.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 842
  • Tiểu luận được bắt đầu với một câu nổi tiếng được cho là của Bồ Đề Đạt Ma, người sáng lập Thiền ở Trung Hoa : “Một hoa nở năm cánh, kết quả tự nhiên thành.” “Năm cánh” là năm nhà (phái) của Thiền Trung Hoa. Đạo Nguyên chỉ ra những nhà này là những phương diện nhiều mặt của một “đóa hoa”, trong khi “một hoa” là sự bộc lộ của những phương diện khác nhau ấy. Ở chỗ khác trong Chánh Pháp Nhãn Tạng, Đạo Nguyên nhấn mạnh rằng năm phái Thiền không nên được nghĩ là tiêu biểu cho những phân chia hay những dị biệt căn bản, và Phật giáo cần được xem không phải theo một lối chia chẻ, bộ phái, mà như một toàn thể bao gồm nhiều mặt khác biệt. Quan niệm về Phật giáo như một toàn thể thống nhất mà khác biệt, khác biệt mà thống nhất cũng là đặc trưng của ý niệm “một thừa” trong những giáo lý Hoa Nghiêm và Pháp Hoa. Cũng như Hoa Nghiêm, ở đây Đạo Nguyên trong phần mở đầu của mình nhấn mạnh vào thực hành, tượng trưng bởi cái hoa, tự nhiên mang “quả” của sự chứng ngộ. Ẩn dụ hoa và những cánh cũng có thể mở rộng để ám chỉ cái nhất thể và đa thù của tất cả hiện tượng.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.007
  • Nếu các phương pháp tu tập, song song với sự hình thành của các tông phái và học phái, ngày càng trở nên phong phú và đa dạng thì một số khái niệm và giáo lý căn bản trong Đạo Pháp theo đó cũng đã được triển khai sâu rộng hơn và đồng thời cũng đã được suy diễn với ít nhiều khác biệt. Nếu khái niệm về tánh không được Đức Phật nêu lên như một phép luyện tập chính xác, cụ thể và thực dụng, như đã được thuyết giảng trong hai bài kinh Culasunnata-suttaMahasunnata-sutta, thì tánh không cũng đã được các tông phái và học phái sau này triển khai sâu rộng hơn bằng nhiều cách diễn đạt phức tạp hơn. Tiêu biểu nhất cho các cách giải thích "mới" về tánh không là bộ kinh đồ sộ Prajnaparamita-sutra, dịch âm là "Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa", có nghĩa là "Kinh về sự hiểu biết Siêu Nhiên", và còn được gọi vắn tắt là Tâm Kinh.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 913
  •  

    Vậy thuyết vô ngã chính là trọng tâm của Phật giáo. Nói cho thật chính xác, quan điểm Phật giáo về nhân sinh quan nằm gọn trong bốn định lý trọng yếu, gọi là bốn dấu ấn Phật pháp.
    [tứ pháp ấn]:

    Mọi hiện tượng do yếu tố kết hợp đều vô thường;

    Mọi hiện tượng ô nhiễm đều là khổ;
    Mọi hiện tượng đều là không và không tự có;

    Niết bàn là an lạc chân chính
    i
     

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 853
  •  

    Hải Ấn Đại Định
    (Kai-in zammai)

     

    “Hải ấn đại định”, hay như đôi khi được dịch, “định phản chiếu trong đại dương”, là định từ đó kinh Hoa Nghiêm khởi lên, phát hiện một cách thình lình quang cảnh bao la của sự giác ngộ của Phật. Luận Tham Thiền Trở Về Nguồn, một tác phẩm tông Hoa Nghiêm được thông dụng trong các phái Thiền Trung Hoa, nói, “Hải Ấn là tánh giác nền tảng của Chân Như. Khi vọng tưởng chấm dứt, tâm trong sáng và vô số hình tướng đồng thời xuất hiện. Nó giống như đại dương : do gió mà có sóng khởi ; nếu gió dừng nước đại dương lặng sáng, và mọi hình ảnh phản chiếu trong đó.” Như thế, nói theo phương diện tâm, hải ấn đại định ám chỉ tánh giác bình đẳng và khắp cả.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.060
  •     Ở Tây phương có rất nhiều quan niệm sai lầm về Thiền quan hệ đến một số điểm cốt yếu mà bên Đông phương cho là dĩ nhiên, nhưng tâm thức Tây phương không hiểu và tán thưởng nổi. Trước hết, trong việc nghiên cứu Thiền, không phải chỉ học giáo lý là quan trọng, mà phải biết đôi chút về lối sống của các Thiền gia ở các nước Đông phương. Áp dụng vào nội tâm, Thiền là một “kinh nghiệm” và một sự “thực hiện”, hoặc một giáo lý đem người ta đến những trạng thái này; nhưng bề ngoài Thiền chính yếu là một truyền thống và một đạo sống. Vì thế, muốn hiểu Thiền một cách đứng đắn, ta phải học không những chỉ giáo lý, mà cả đạo sống của nó nữa. Ít ra, một hiểu biết thoáng qua về đời sống tự viện của các Thiền sư hẳn là một hỗ trợ rất giá trị để hiểu Thiền đúng đắn hơn.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 808
  • Ngồi thiền chỉ để người ta sáng tỏ tâm và nghỉ ngơi thư thả trong tài nguyên vốn sẵn của nó. Đó gọi là trưng bày khuôn mặt xưa nay và làm phát lộ nền tảng bổn nguyên. Tâm và thân rơi rụng mất, lìa hẳn việc ngồi và nằm. Thế nên chúng ta không nghĩ gì đến thiện ác, tốt xấu, và vượt khỏi phàm thánh, mọi ý niệm mê và ngộ, buông bỏ hoàn toàn những biên bờ của chúng sanh và Phật.

     Thế thì, chấm dứt mọi quan tâm, vất bỏ mọi bám nắm, không làm một cái gì cả. Sáu giác quan không hoạt động – cái này là ai, tên chưa từng được biết, không thể xem là thân, không thể xem là tâm? Khi các ông nghĩ đến nó, tư tưởng tan biến mất; khi các ông cố nói về nó, lời nói hết đường. như một kẻ ngu không biết gì, cao như núi, sâu như biển, không thể thấy đỉnh cao hay đáy – chói sáng không nghĩ suy, nguồn thì trong sáng tự tỏ bày trong im lặng.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 753
  • Tâm trí bạn luôn tìm kiếm không ngừng những đề tài để cho bạn suy tư một cách điên cuồng; đó cũng là cách tâm trí bạn đi tìm những thứ để cung cấp cho chính nó một sự xác minh, một cảm nhận về tự thân(1). Đây cũng là phương cách để bản ngã của bạn trở thành hiện hữu và tiếp tục được tồn tại ở trong bạn.

    Khi bạn suy nghĩ hay nói về chính mình, khi bạn nói “Tôi”, là thực ra điều bạn muốn nói là: “Tôi và những câu chuyện của tôi”(2). Đây chính là “cái Tôi” của những cái thích, hoặc không thích, sợ hãi và ham muốn, “cái Tôi” không bao giờ cảm thấy thỏa mãn được lâu. Đó là cảm nhận về tự thân của bạn được làm nên bởi trí năng, thường bị tha hóa bởi quá khứ và luôn muốn tìm sự thỏa mãn ở tương lai.

    Bạn có nhận ra rằng “cái Tôi” này rất dễ phôi pha, vì đó chỉ là một sự hình thành rất tạm bợ như một đợt sóng biểu hiện trên mặt nước.

     

     

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.593
  • Trong buổi nói chuyện trước đây tôi cũng đã nhắc đến tánh không và cho biết đấy là một chủ đề thật chủ yếu, thế nhưng tôi chưa kịp triển khai một cách đầy đủ và tương xứng với tầm quan trọng của nó. Thiết nghĩ chúng ta cần phải thấu triệt khái niệm này một cách sâu sắc hơn. Nhiều khía cạnh của chủ đề này quả thật là vẫn còn quá mù mờ, do đó tôi sẽ dành trọn buổi nói chuyện hôm nay cho đề tài này.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 785
  •  

     

     

      OM là từ biểu trưng cho cái vô cùng, viên mãn, vĩnh hằng.Những người Phật tử Tây Tạng tin tưởng rằng bản thể của vũ trụ biểu đạt qua âm thanh mật chú (mantra). Mật chú là sức mạnh làm cho tâm thức tập trung và trở nên nhu nhuyến.

    Chữ mantra có nguồn gốc từ ngữ căn tiếng Phạn: manas, nghĩa là tâm; và, tra, nghĩa là công cụ. Tiếng Latin cũng có ngữ căn tương tự là mens, nghĩa là tâm thức. Như vậy, Mantra có nghĩa là công cụ của tâm thức, là âm thanh cốt lõi, âm thanh của Chánh giác làm cho luân hồi và Niết bàn hợp nhất. OM là đầu nguồn của Mantra, có nguồn gốc từ đạo Bà la môn. OM được Phật giáo tiếp nhận và mở rộng phạm vi để làm điểm tiên khởi cho tất cả những Mantra khác. OM biểu trưng cho tính tổng nhiếp của các pháp, cái vô cùng, cái viên mãn. Tụng niệm Mantra là cách làm cho tâm được tập trung, hướng về hòa nhập với tánh giác.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.277
  • Sự  im lắng chính là bản chất chân thực của bạn. Vậy sự im lắng là gì? Đó chính là không gian ở trong bạn, là khả năng nhận thức từ đó những chữ trên trang giấy này được tạo thành khái niệm và trở thành những ý nghĩ ở trong đầu bạn. Nếu không có khả năng nhận biết đó, sẽ không có khái niệm, không có ý tưởng, không có thế giới.

    Bạn chính là khả năng nhận biết đó được che giấu dưới hình dáng của một con người. 

    Tương đương với tiếng động ồn ào ở bên ngoài là sự ồn ào của những suy tưởng bên trong.

    Tương đương với sự im lặng ở bên ngoài là sự im lắng ở nội tâm.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.628
  • FOREWORD

    Man, in order to escape his conflicts, has invented many forms of meditation. These have been based on desire, will and the urge for achievement, and imply conflict and a struggle to arrive. This conscious, deliberate striving is always within the limits of a conditioned mind and in this there is nofreedom. All effort to meditate is the denial of meditation.Meditation is the ending of thought. It is only then that there is a different dimension which is beyond time.

    J. Krishnamurti. March 1979 

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.962
  • CHỈ NGỒI

    Tenshin Reb Anderson

    Giáo lý tánh Như đã được truyền thông mật thiết bởi chư Phật chư Tổ. Nghĩa của thực hành tánh Như này không nằm trong lời nói, nhưng nó đáp ứng cho sự quyết tâm của chúng ta. Nó tiến lên và gặp gỡ chúng ta. Chúng ta ngồi đây và những con chim xanh hát nó cho chúng ta, những dòng suối hát nó cho chúng ta, bởi vì chúng ta đến và nghe. Đây là sự thực hành ngồi, chỉ ngồi, của chúng ta. Nó là một thiền định không chủ đề, một thiền định không có mối nối khâu vá. Nó không còn hình tướng, không bắt đầu và không kết thúc và nó toả khắp mọi sự một cách trọn vẹn. Nó không để lại dấu vết, và nếu tôi cố gắng truy tìm dấu nó, mà vì nó đáp ứng một cách rộng lượng và từ bi cho sự tìm dấu của tôi, cho sự nói của tôi và cho sự nghe của các bạn.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 817
  • SUZUKI DAISETZ - ĐÀO NGUYÊN MINH dịch


    Thiền là sự rèn luyện trong sự giác ngộ. Giác ngộ có nghĩa là giải thoát. Và giải thoát thì không kém gì so với tự do. Chúng ta nói rất nhiều trong thời đại này về đủ thứ tự do, chính trị, kinh tế, mà mặt khác thì những thứ tự do này đều không thực tiễn. Một khi chúng hãy còn ở trên bình diện tương đối, sự tự do mà chúng ta nói đến thì xa hơn thế nữa. Tự do thực sự là kết quả của sự giác ngộ. Khi một người nhận thức ra điều này, thì trong bất cứ hoàn cảnh nào, người ấy cũng có thể tìm thấy chính mình luôn tự tại trong đời sống nội tâm của mình, trong sự theo đuổi đường hướng hành động của chính nó. Thiền là một tôn giáo của jiyu “tự do”, và jizai “tự tại”.
    Giác ngộ chiếm trọng tâm trong giáo lý nơi tất cả các tông phái Phật Giáo, Tiểu Thừa và Đại Thừa, “tự lực” và “tha lực”, Thánh Đạo hay Tịnh Độ, giáo lý của Đức Phật tất cả đều phát xuất từ sự giác ngộ của ngài, từ khoảng 2.500 năm trước nơi vùng phía bắc Ân Độ. 

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 853
  • Thiền Sư Thánh Nghiêm

     

    Dưới đây là một trình bày về Thiền Mặc Chiếu, trích dịch một phần từ cuốn Hoofprint of the Ox (Dấu Chân Trâu) của Thiền Sư Thánh Nghiêm (Sheng Yen), dựa theo bản Anh dịch của GS Dan Stevenson. Thầy Thánh Nghiêm nối pháp từ cả hai dòng Lâm Tế và Tào Động, chuyên hoằng pháp Thiền Tông với cả hai truyền thống này, có ảnh hưởng lớn ở nhiều nước. Năm 2000, thiền sư là một trong các diễn giả chính trong Hội Nghị Thượng Đỉnh Tôn Giáo Thiên Niên Kỷ tổ chức ở Liên Hiệp Quốc. Thầy thường mở các thiền thất dài 7 ngày ở các nước, đôi khi mở các thiền thất dài 49 ngày. Tuy chuyên dạy về Thiền Thọai Đầu và Thiền Mặc Chiếu, Thiền Sư Thánh Nghiêm lại là một giảng sư uyên bác, đa dạng và cũng là một luận sư của Tịnh Độ Tông.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 767

Top Bài Viết

Top Music

Top Book Mp3

Top Music Album

 
© Copyright 2013 - 2019 PHATAM.ORG - Chịu trách nhiệm nội dung: Thị Đức bienman0811@yahoo.com - Hỗ trợ kỹ thuật votamthoai@gmail.com