Thực Tại Trước Mắt - Đương Đạo

       Thiền là thấy thẳng Thực Tại. Thực tại đó không phải là không có cái gì cả, như một vòng tròn trống không của bức tranh Thiền tông số Tám, ‘Người, trâu đều quên’, hay bức tranh Đại thừa số Mười, ‘Hết cả hai’, mà là bức tranh Thiền tông số Chín, ‘Trở lại nguồn gốc’ (Phản bổn hoàn nguyên) : đầy đủ nước biếc non xanh, chim chóc cây lá…

 

        Thiền không phải là và cũng không nhắm đến những cảnh giới của định (mà chúng ta thường gọi là Bốn thiền Tám định) như là cứu cánh. Những cấp độ định chỉ là những trạng thái, dù vi tế hoặc cùng cực vi tế, của tâm. Chúng có thể dùng để huấn luyện cho tâm thức, chúng là những trạng thái, những biểu lộ vi tế của tâm, nhưng chúng không phải là bản tánh của tâm thức, chúng chưa phải là Tâm.

 

        Người xưa thường nói, bình thường tâm là Đạo. Cái tâm bình thường này là nguyên trạng của tâm, bản tánh của tâm, nền tảng của tâm và nó có mặt ở trong bất kỳ trạng thái nào của tâm, trong bất kỳ không gian thời gian nào. Như nước có mặt trong bất kỳ hình tướng biểu lộ nào của nước, trong bất kỳ làn sóng nào. Thiền chính là bản tánh của tâm, cái tâm bình thường, nguyên trạng không khúc xạ, méo mó này.

 

“Thiền sư Đạo Hạnh (?-1115) nghe Kiều Trí Huyền hóa đạo ở Thái Bình, sư thân đến tham vấn, trình hỏi chân tâm bằng bài kệ :  

Lâu trộn bụi phàm chửa biết vàng
Chẳng biết nơi đâu ấy chân tâm ?
Cúi mong chỉ thẳng khai phương tiện
Thấy trọn như như hết khổ tìm.
 

Trí Huyền đáp lại bằng bài kệ :  

Trong ngọc bí thanh diễn diệu âm
Trong đây đầy mắt lộ thiền tâm
Hà sa cảnh là Bồ đề cảnh
Nghĩ tới, Bồ đề cách vạn tầm.”

 

        Phần đời trước của sư Đạo Hạnh, cũng giống chúng ta hiện giờ, ‘lâu nay trộn lẫn với bụi phàm’ nên dù nghe những vị chứng ngộ nói rằng ‘thế giới này toàn bằng vàng ròng’ thì cũng chưa biết vàng đó như thế nào. Chúng ta chẳng biết ‘chân tâm ấy ở đâu’, nên xin ngài ‘chỉ thẳng, mở bày phương tiện’, để ‘thấy trọn như như’ hết dứt khổ đau khao khát kiếm tìm.

 

        Thiền sư Trí Huyền đáp : Trong thế giới này là viên ngọc pha lê trong vắt, có âm thanh bí mật diễn diệu âm, có âm thanh không âm thanh, có âm thanh im lặng, diễn bày tất cả sự sống. Trong cái ở đây và bây giờ, Tâm Thiền (Thực Tại) lộ bày đầy mắt, có chỗ nào mà không là ánh sáng, có chỗ nào chẳng phải là Nó. Hà sa cảnh là cảnh Bồ đề (Giác Ngộ) : tất cả tư tưởng ngôn ngữ đều vô ích, dư thừa. Chân tâm ấy vốn tự lộ bày như vậy, thế mà vừa khởi tư tưởng (động niệm tức quai, động niệm liền sai), nghĩ ngợi toan tính đi tới Nó, thì chính sự động niệm khởi tưởng tham cầu loạn động ấy lại che mất Nó ; chính cái tư tưởng tìm kiếm ấy lại làm cho cách xa mấy vạn tầm.

 

        Thế thì, chân tâm vốn hiện bày trước mắt, cái thực tại nền tảng của tâm hằng hiện diện ở đây, chiếu soi ra qua các giác quan thông suốt không ngăn ngại, thế mà do so đo phân biệt, tính toan đủ thứ bèn tự làm nhiễu loạn, che lấp chính mình. Muốn thấy Nó, hãy thôi trụ chấp vào những hình tướng đặc thù để khởi lên tham ghét loạn xạ. Hãy để cho tâm tự là chính nó, tự ở nơi địa vị vốn thật của nó, không có tư tưởng làm cho méo mó biến dạng, không có tham lam nắm bắt làm cho nó trở nên hình này tướng nọ. Khi ấy căn và cảnh suốt thông trong một sự thanh tịnh, cảnh nào chẳng phải là cảnh Bồ đề ? Khi ấy như hai tấm gương sáng đối nhau, tâm cảnh thông suốt nhất như, cái gì chẳng phải là Bồ đề ?  

 

“Sư mù mịt không hiểu mới tìm đến pháp hội của Thiền sư Sùng Phạm ở chùa Pháp Vân, hỏi rằng : Thế nào là chân tâm ?  

 

Thiền sư Sùng Phạm nói : Cái gì chẳng phải là chân tâm ?  

 

Sư hoát nhiên tự nhận được, lại hỏi : Làm sao gìn giữ (bảo nhậm) ?

 

Sùng Phạm nói : Đói ăn khát uống.

 

Sư lễ tạ từ giã ra đi. Từ đấy thêm pháp lực, duyên thiền càng thuần thục, có thể sai rắn núi, thú rừng họp nhau đến thuần phục. Sư cầu mưa, chữa bệnh, không gì không tức khắc ứng nghiệm.  

 

Có vị tăng hỏi : Đi đứng nằm ngồi đều là tâm Phật, thế nào là tâm Phật ?

 

Sư dạy kệ rằng :  

Cho có, mảy may có
Là không, thảy cả không
Có không, trăng trong nước
Chớ vướng có không không.”

 

        Với Thiền sư Sùng Phạm sư không hiểu, cũng như chúng ta mịt mờ không hiểu, chỉ bởi vì sau một đoạn đời loạn lạc khổ đau, vừa mới nghe có cái hằng hằng tịch lặng bình an thì cái tâm thức loạn lạc ấy vội vàng truy tìm nắm bắt. Có biết đâu rằng tâm vừa khởi tư tưởng nắm bắt tìm cầu thì cái tuyệt không chủ thể đối tượng lại thành ra đối tượng chủ thể. Tâm vừa khởi ý tìm cầu thì tâm liền lìa khỏi địa vị của nó mà thành ra tướng, đại dương vừa nổi gió tìm kiếm thì thành ra sóng. Với người chưa thấy bản tánh của tâm là gì, tánh nước của đại dương là gì thì chỉ lạc thêm vào trong tư tưởng, vào trong những làn sóng, càng thêm rối loạn mịt mù. Đó là sự việc hỗn loạn mà người xưa nói là cưỡi trâu tìm trâu, trên đầu lại chồng thêm đầu, trên tuyết lại pha sương…

 

        Cho nên đến khi tâm ý hết đường, tâm ở yên trong chánh vị của nó, không tạo tác, không biến đổi, không khúc xạ méo mó, ngay lúc đó hỏi rằng, ‘Thế nào là chân tâm ?’ Thiền sư trả lời : ‘Cái gì chẳng phải là chân tâm ?’, bèn khoát nhiên tự nhận được. Cũng vẫn một chỉ thẳng, một cách nói mà với thầy trước thì nhận không được, vì tâm thức chưa chín muồi, chưa đủ thanh tịnh. Khi đủ thanh tịnh thì nhận ra ngay : cái gì cũng là chân tâm, từ các tướng cho đến các tưởng. Lúc đó chính tâm ấn lên tâm, chính nó ấn lấy nó, chẳng sai trệch mảy may, như một tấm gương soi trọn một tấm gương…

 

 

        Tất cả mọi sự đều quy về biển chân tánh này, thế nên tất cả mọi việc tu hành đều quy về cái thấy, nghe, hay, biết biển chân tánh này. Nhưng làm sao thấy biển chân tánh ấy ? Vì tất cả mọi sự đều ở trong biển chân tánh ấy nên sự nào cũng là cái ‘khai phương tiện’ cho chúng ta biển chân tánh ấy. Nói tóm, đối với Thiền tất cả mọi sự đều là phương tiện để thấy chân tánh, vì mỗi sự vật đều đang ở trong chân tánh ấy, đang là chân tánh ấy.

 

       Mỗi chúng ta đều đang ở trong chân tánh, mỗi chúng ta đều đang tiếp xúc với chân tánh ấy, thế nên, nếu nói đến cách tiếp cận thì có vô số cách tiếp cận, vô số lối vào, vô số phương tiện. Ở đây chúng ta chỉ nói đến một phương tiện, là sự tiếp cận chân tánh bằng con mắt thấy.  

 

Thiền sư Cứu Chỉ (tịch vào khoảng 1059-1065) nói với môn đồ :  

“Phàm tất cả pháp môn, vốn từ tánh ngươi. Tất cả pháp tánh vốn từ tâm ngươi. Tâm pháp nhất như, vốn không hai pháp. Phiền não trói buộc, tất cả đều không. Tội phước phải quấy, tất cả đều huyễn. Không gì chẳng phải quả, chẳng phải nhân. Chẳng ở trong nghiệp mà phân biệt, chẳng ở trong báo mà phân biệt. Nếu có phân biệt nghiệp, chẳng được tự tại. Tuy thấy tất cả pháp mà không chỗ thấy. Tuy biết tất cả pháp mà không chỗ biết. Biết tất cả pháp, nhân duyên làm gốc. Thấy tất cả pháp, chánh chân làm tông. Tuy vào thật tế, hiểu rõ thế gian đều như biến hóa. Thấu rõ chúng sanh chỉ là một pháp, không có hai pháp. Chẳng bỏ nghiệp cảnh, phương tiện thiện xảo, nơi hữu vi giới bày pháp hữu vi mà không phân biệt. Tướng của vô vi, là do tận dục tuyệt ngã, quên niệm so đo vậy.”

 

       Ở đây chúng ta chỉ chú ý đoạn nói về cái thấy. Như thế nào để thấy được chân thân Phật, hay biển chân tánh, mà ngài Cứu Chỉ gọi là pháp tánh ? Chúng ta sống ở đây, trong thế giới này có đủ các hình tướng (các pháp) sai biệt do nghiệp báo mà thành, nghĩa là do nhân quả, tức là ‘nhân duyên làm gốc’. Đã do nhân duyên sanh, nên không có tự tánh, do đó mà ‘tất cả đều như huyễn’. Trong nghiệp báo không có tự tánh, như huyễn’ ấy mà phân biệt, tâm bèn trôi lăn theo các biến hiện của nghiệp, mất đi bản tánh vốn tự tại của nó. Thế nên ở trong gương mà phân biệt theo các hình bóng phản chiếu trong đó, thì chỉ thấy bóng chẳng thấy gương tự tại đâu. Còn nếu trong đó mà không phân biệt, thì toàn thể bóng là gương ; ở trong gương mà không phân biệt, thì tất cả hoàn lại nguyên trạng là gương, do đó mà được tự tại, dù các bóng có thế nào.

 

        Thấy tánh, chỉ là ‘tuy thấy tất cả pháp mà không chỗ thấy’. Khi cái thấy không trụ vào một vài hình tướng riêng biệt nào, thì đây là toàn thể cái thấy, cái thấy toàn khắp, đó gọi là thấy tánh. Tất cả bóng đều ở trong gương nhưng vì gương toàn khắp không chỗ trụ nên chẳng bóng nào làm ngăn ngại được gương. Cũng một đường lối tiếp cận như vậy, kinh Kim Cương nói : Thấy các tướng chẳng phải tướng tức thấy Như Lai. ‘Chẳng phải tướng’ là không thấy các hình tướng riêng biệt, không trụ vào một vài hình tướng riêng biệt, không trụ vào sự sai biệt của các hình tướng. Nếu biết giải thoát cái thấy ra khỏi một vài hình tướng riêng biệt, thì đó là thấy tánh. Đó gọi là giải thoát ngay trên cái thấy.

 

       ‘Biết tất cả pháp mà không chỗ biết’ cũng như vậy : biết mà không phân biệt thì cái biết ấy là toàn thể tánh giác, là tất cả pháp tánh. ‘Thấy tất cả pháp, chánh chân làm tông’, ‘chánh chân’ ở đây nghĩa là ‘thấy rõ chúng sanh (và tất cả các pháp) chỉ là một pháp, không có hai pháp’. ‘Chánh chân’ như thế cũng là chánh kiến, nghĩa là cái thấy không bao hàm sự phân biệt, không lọt vào sự phân biệt của thức. Chánh chân là một cái thấy toàn thể, không bị phân hóa biến dạng thành chủ thể và những đối tượng. Ở trong một cái thấy như vậy, con mắt không còn ở một chỗ nào, mà ở khắp tất cả chỗ. Khắp tất cả chỗ đều là con mắt, đều là một con mắt vậy.

 

        Tóm lại, thực tại trước mắt là cái không phải chuyện cũ cách đây hơn ngàn năm, cũng chẳng phải hôm nay mới có. Qua sự chỉ dạy tha thiết của các Thiền sư ngày xưa, chúng ta có thể lần vào để trực tiếp gặp nó, thể nghiệm nó, tìm thấy cho cuộc đời của mình cái nền tảng đích thật, hết trôi dạt tha phương, bất toại nguyện và khốn khổ :  

“Tướng không là thật tướng, thân không tức Pháp thân, sạch trọi trơn, trần trụi tự nhiên không vướng mắc, không một vật, không thể nắm bắt. Nếu gọi là một vật, lại chẳng đúng lý.” (Thiền sư Chân Nguyên – Kiến Tánh Thành Phật.) 

 

 

Cũng cái thực tại trước mắt này, Thiền sư Thường Chiếu (?-1203) nói trong hai bài kệ :

 

Ở đời làm thân người
Tâm là tạng Như Lai
Chiếu ngời khắp phương cõi
Tìm đó càng bặt bóng.
 

Và bài kệ thị tịch :

Đạo vốn không nhan sắc
Mỗi ngày mỗi mới khoe
Ngoài đại thiên sa cõi
Nơi đâu chẳng phải nhà.

 

Chung quy của Phật pháp là cái thực tại hiện ở trước mắt này. Trong kinh Pháp Hoa (phẩm Hóa Thành Dụ) đức Phật kể :

      Đức Đại Thông Trí Thắng Phật thọ năm trăm bốn mươi vạn ức triệu kiếp, đức Phật đó khi ngồi nơi đạo tràng phá quân ma rồi, sắp được đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác mà Phật pháp chẳng hiện ra trước mắt (hiện tiền). Như vậy hết một cho đến mười tiểu kiếp, ngồi xếp bằng, thân và tâm đều không động mà Phật pháp vẫn chẳng hiện ra trước mắt (hiện tiền)…

 

Các Tỳ kheo ! (Như vậy) đức Đại Thông Trí Thắng Phật trải qua mười tiểu kiếp rồi, các Phật pháp mới hiện ra trước mắt (hiện tiền) mà thành đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác.  

 

Phật pháp ở đây trong ngữ cảnh của kinh Pháp Hoa nói riêng và Đại thừa nói chung, là Phật tánh hay Như Lai tạng hay Pháp thân v.v… Thực tại ấy không còn bị vướng mắc bởi phiền não chướng và sở tri chướng mà xuất hiện một cách trọn vẹn trước mắt, thì đó gọi là Giác Ngộ.

 

Phật pháp đó là Trí Huệ Như Lai (trong kinh Pháp Hoa gọi là Tri Kiến Phật) trong lời nói của Thiền sư Trường Nguyên (1110-1165). Sư thường bảo mọi người :

 

        “Lạ thay ! Lạ thay ! Tại sao các chúng sanh đây có đầy đủ trí huệ của Như Lai mà ngu si mê lầm chẳng thấy chẳng biết. Ta thường đem đạo dạy dỗ, khiến họ vĩnh viễn lìa vọng tưởng chấp trước ở trong tự thân mà được thấy trí huệ rộng lớn của Như Lai, lợi ích an lạc.”

 

Trí huệ Như Lai này chính là ‘ở đời làm thân người, tâm là tạng Như Lai, chiếu ngời khắp phương cõi…’ Trí huệ Như Lai này mỗi chúng sanh chúng ta đều có đầy đủ, nghĩa là vẫn thường tự hiện tiền, nhưng chúng ta chẳng thấy chẳng biết vì bám chấp vọng tưởng ở trong tự thân. Và khi thấy được nó thì :  

Đạo vốn không nhan sắc
Mỗi ngày mỗi mới khoe
Ngoài đại thiên sa cõi
Nơi đâu chẳng phải nhà.

 

Thế nên thấy được thực tại trước mắt mà không nhiễm ô lẫn lộn với những hình tướng, với tư tưởng ý niệm thì đó là Thiền :

Pháp thân thanh tịnh Phật vô tướng
Sáng lặng trong đầy như hư không
Hình nghi chẳng mượn lấy thanh cầu
Dung mạo can gì với sắc pháp.
Muôn tượng đồng quy biển chân tánh
Mảy trần chẳng nhiễm vốn nguồn linh
Rõ ràng hiển hiện Phật chân thân
Lồ lộ Như Lai thường đối diện.

(Thiền sư Chân Nguyên)

 

Thực Tại Thiền, Những Bước Chân Trong Rừng Thiền Việt Nam 

Đương Đạo, Thiện Tri Thức

 

  • Ta cần phải thực tập cả hai phương cách, Thanh tịnh và Tỉnh giác, để đạt được những kết quả mà Thiền sẽ mang đến cho ta. Phần đông chúng ta đều muốn được an lạc. Ai cũng muốn được bình yên, muốn được có cảm giác vui sướng, mãn nguyện. Trong Thiền định, nếu ta thoáng bắt được cảm giác an lạc đó, ta sẽ hạnh phúc biết bao. Nhiều người đã thỏa mãn khi đạt được đến trình độ đó. Nhưng thanh tịnh không phải là mục đích của Thiền. Đó chỉ là phương tiện đưa đến cứu cánh. Thanh tịnh là phương tiện. Sự tỉnh giác trong nội tâm mới là cứu cánh. Phương tiện rất cần thiết nhưng không thể lầm lẫn chúng với cứu cánh. Nhưng vì phương tiện đó tạo ra sự thoải mái, dễ chịu, ta trở nên bám víu vào chúng.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.749
  • Có một số câu hỏi đã được nêu lên để hỏi Đức Phật, nhưng Ngài không trả lời vì đó là những câu hỏi đặt sai và vô ích. Bám víu vào những câu hỏi ấy bằng những biện luận thuần lý sẽ rơi vào cạm bẫy của sự hiểu biết quy ước, công thức và nhị nguyên. Cạm bẫy ấy sẽ đưa đến tranh luận vô tận và thắc mắc tiếp nối nhau, đánh lạc hướng sự tu tập. Nhiều vị thầy sống đồng thời với Đức Phật, tức là vào thế kỷ thứ VI trước Tây lịch, đã từng chủ xướng nhiều chủ thuyết trong lãnh vực triết học siêu hình. Nhưng Đức Phật đã che chở cho các đệ tử của Ngài tránh khỏi những cạm bẫy ấy, không phải bằng cách cấm đoán, bằng biện luận hay giải thích, nhưng bằng sự yên lặng. Có tất cả 14 câu hỏi đại loại như sau mà Phật không giải đáp.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.543
  • Thiền không phải là và cũng không nhắm đến những cảnh giới của định (mà chúng ta thường gọi là Bốn thiền Tám định) như là cứu cánh. Những cấp độ định chỉ là những trạng thái, dù vi tế hoặc cùng cực vi tế, của tâm. Chúng có thể dùng để huấn luyện cho tâm thức, chúng là những trạng thái, những biểu lộ vi tế của tâm, nhưng chúng không phải là bản tánh của tâm thức, chúng chưa phải là Tâm.  

    Người xưa thường nói, bình thường tâm là Đạo. Cái tâm bình thường này là nguyên trạng của tâm, bản tánh của tâm, nền tảng của tâm và nó có mặt ở trong bất kỳ trạng thái nào của tâm, trong bất kỳ không gian thời gian nào. Như nước có mặt trong bất kỳ hình tướng biểu lộ nào của nước, trong bất kỳ làn sóng nào. Thiền chính là bản tánh của tâm, cái tâm bình thường, nguyên trạng không khúc xạ, méo mó này.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.021
  • Hình ảnh Ngắm vẻ đẹp hùng vĩ của núi Phú Sĩ xứ Phù Tang số 9    “Hiện thành Công án” là trước tác của thiền sư Đạo Nguyên, nhưng chúng ta dịch câu này là “hiển bày thực tướng tuyệt đối”. Nói khác đi, đời sống là sự hiển bày thật tướng tuyệt đối. Nói như vậy thì Công án này cần phải tham như thế nào? Đó chính là phải hiểu rằng đời sống tức là Phật pháp, sống tức là đã trải qua đời sống khai ngộ như thế. Không thể nói khai ngộ là cái gì đó nằm ngoài đời sống. Thậm chí còn nói ngộ nói mê thì bản thân nó chính là mê.    

               

     

     

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.026
  • Như vậy, tánh thấy là gì? Tánh thấy là Phật tánh hay tánh giác biểu lộ ở cái thấy. Cái thấy này là do duyên sanh, do căn trần thức mà có. Tánh thấy là nền tảng, môi trường, không gian cho sự duyên hợp của căn trần thức tạo thành cái thấy.

    Kinh Lăng Nghiêm nói: “A-nan, ông trôi chìm, không ngộ cái thấy, nghe, hay, biết của ông vốn là Như Lai tạng…. Ông nào có biết, trong Như Lai tạng cái thấy là tánh minh giác, tánh minh giác hiển lộ ra thành cái thấy, thanh tịnh bản nhiên, toàn khắp pháp giới, tùy theo tâm chúng sanh mà ứng với lượng hay biết.

     

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.058
  •          Vấn đề chính của việc tu hành là gì? Đó là vẫn cứ quay về chính mình, trở về ngay với đời sống chính mình. Chúng ta thường nói tịnh hóa chính mình, tịnh hóa sinh tử, nhưng phải tịnh hóa như thế nào? Thiền sư Đạo Nguyên nói: “ Ngồi quên chính mình”. Thế nhưng, chúng ta ngồi quên chính mình, hay là trên thực tế đang cũng cố chính mình? Vấn đề này rất quan trọng.

    Trạng thái quên chính mình là trạng thái như thế nào? Có một tác phẩm tên là Ba trụ thiền(1) (Three pillars of Zen). Nhan đề tác phẩm này ý nói rằng bản thân thiền có những nền tảng căn bản. Trước đây, khi nghe tên tác phẩm thì tôi đã nghe nhầm thành Three pillows of Zen (Ba chiếc gối trong thiền môn); vì tôi nghe chữ “pillar” giống như chữ “pillow”. Muốn ngủ được thoải mái thì phải có ba chiếc gối này. Nếu không bạn sẽ gặp ác mộng.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 843
  • Tiểu luận được bắt đầu với một câu nổi tiếng được cho là của Bồ Đề Đạt Ma, người sáng lập Thiền ở Trung Hoa : “Một hoa nở năm cánh, kết quả tự nhiên thành.” “Năm cánh” là năm nhà (phái) của Thiền Trung Hoa. Đạo Nguyên chỉ ra những nhà này là những phương diện nhiều mặt của một “đóa hoa”, trong khi “một hoa” là sự bộc lộ của những phương diện khác nhau ấy. Ở chỗ khác trong Chánh Pháp Nhãn Tạng, Đạo Nguyên nhấn mạnh rằng năm phái Thiền không nên được nghĩ là tiêu biểu cho những phân chia hay những dị biệt căn bản, và Phật giáo cần được xem không phải theo một lối chia chẻ, bộ phái, mà như một toàn thể bao gồm nhiều mặt khác biệt. Quan niệm về Phật giáo như một toàn thể thống nhất mà khác biệt, khác biệt mà thống nhất cũng là đặc trưng của ý niệm “một thừa” trong những giáo lý Hoa Nghiêm và Pháp Hoa. Cũng như Hoa Nghiêm, ở đây Đạo Nguyên trong phần mở đầu của mình nhấn mạnh vào thực hành, tượng trưng bởi cái hoa, tự nhiên mang “quả” của sự chứng ngộ. Ẩn dụ hoa và những cánh cũng có thể mở rộng để ám chỉ cái nhất thể và đa thù của tất cả hiện tượng.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.007
  • Nếu các phương pháp tu tập, song song với sự hình thành của các tông phái và học phái, ngày càng trở nên phong phú và đa dạng thì một số khái niệm và giáo lý căn bản trong Đạo Pháp theo đó cũng đã được triển khai sâu rộng hơn và đồng thời cũng đã được suy diễn với ít nhiều khác biệt. Nếu khái niệm về tánh không được Đức Phật nêu lên như một phép luyện tập chính xác, cụ thể và thực dụng, như đã được thuyết giảng trong hai bài kinh Culasunnata-suttaMahasunnata-sutta, thì tánh không cũng đã được các tông phái và học phái sau này triển khai sâu rộng hơn bằng nhiều cách diễn đạt phức tạp hơn. Tiêu biểu nhất cho các cách giải thích "mới" về tánh không là bộ kinh đồ sộ Prajnaparamita-sutra, dịch âm là "Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa", có nghĩa là "Kinh về sự hiểu biết Siêu Nhiên", và còn được gọi vắn tắt là Tâm Kinh.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 913
  •  

    Vậy thuyết vô ngã chính là trọng tâm của Phật giáo. Nói cho thật chính xác, quan điểm Phật giáo về nhân sinh quan nằm gọn trong bốn định lý trọng yếu, gọi là bốn dấu ấn Phật pháp.
    [tứ pháp ấn]:

    Mọi hiện tượng do yếu tố kết hợp đều vô thường;

    Mọi hiện tượng ô nhiễm đều là khổ;
    Mọi hiện tượng đều là không và không tự có;

    Niết bàn là an lạc chân chính
    i
     

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 853
  •  

    Hải Ấn Đại Định
    (Kai-in zammai)

     

    “Hải ấn đại định”, hay như đôi khi được dịch, “định phản chiếu trong đại dương”, là định từ đó kinh Hoa Nghiêm khởi lên, phát hiện một cách thình lình quang cảnh bao la của sự giác ngộ của Phật. Luận Tham Thiền Trở Về Nguồn, một tác phẩm tông Hoa Nghiêm được thông dụng trong các phái Thiền Trung Hoa, nói, “Hải Ấn là tánh giác nền tảng của Chân Như. Khi vọng tưởng chấm dứt, tâm trong sáng và vô số hình tướng đồng thời xuất hiện. Nó giống như đại dương : do gió mà có sóng khởi ; nếu gió dừng nước đại dương lặng sáng, và mọi hình ảnh phản chiếu trong đó.” Như thế, nói theo phương diện tâm, hải ấn đại định ám chỉ tánh giác bình đẳng và khắp cả.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.061
  •     Ở Tây phương có rất nhiều quan niệm sai lầm về Thiền quan hệ đến một số điểm cốt yếu mà bên Đông phương cho là dĩ nhiên, nhưng tâm thức Tây phương không hiểu và tán thưởng nổi. Trước hết, trong việc nghiên cứu Thiền, không phải chỉ học giáo lý là quan trọng, mà phải biết đôi chút về lối sống của các Thiền gia ở các nước Đông phương. Áp dụng vào nội tâm, Thiền là một “kinh nghiệm” và một sự “thực hiện”, hoặc một giáo lý đem người ta đến những trạng thái này; nhưng bề ngoài Thiền chính yếu là một truyền thống và một đạo sống. Vì thế, muốn hiểu Thiền một cách đứng đắn, ta phải học không những chỉ giáo lý, mà cả đạo sống của nó nữa. Ít ra, một hiểu biết thoáng qua về đời sống tự viện của các Thiền sư hẳn là một hỗ trợ rất giá trị để hiểu Thiền đúng đắn hơn.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 808
  • Ngồi thiền chỉ để người ta sáng tỏ tâm và nghỉ ngơi thư thả trong tài nguyên vốn sẵn của nó. Đó gọi là trưng bày khuôn mặt xưa nay và làm phát lộ nền tảng bổn nguyên. Tâm và thân rơi rụng mất, lìa hẳn việc ngồi và nằm. Thế nên chúng ta không nghĩ gì đến thiện ác, tốt xấu, và vượt khỏi phàm thánh, mọi ý niệm mê và ngộ, buông bỏ hoàn toàn những biên bờ của chúng sanh và Phật.

     Thế thì, chấm dứt mọi quan tâm, vất bỏ mọi bám nắm, không làm một cái gì cả. Sáu giác quan không hoạt động – cái này là ai, tên chưa từng được biết, không thể xem là thân, không thể xem là tâm? Khi các ông nghĩ đến nó, tư tưởng tan biến mất; khi các ông cố nói về nó, lời nói hết đường. như một kẻ ngu không biết gì, cao như núi, sâu như biển, không thể thấy đỉnh cao hay đáy – chói sáng không nghĩ suy, nguồn thì trong sáng tự tỏ bày trong im lặng.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 753
  • Tâm trí bạn luôn tìm kiếm không ngừng những đề tài để cho bạn suy tư một cách điên cuồng; đó cũng là cách tâm trí bạn đi tìm những thứ để cung cấp cho chính nó một sự xác minh, một cảm nhận về tự thân(1). Đây cũng là phương cách để bản ngã của bạn trở thành hiện hữu và tiếp tục được tồn tại ở trong bạn.

    Khi bạn suy nghĩ hay nói về chính mình, khi bạn nói “Tôi”, là thực ra điều bạn muốn nói là: “Tôi và những câu chuyện của tôi”(2). Đây chính là “cái Tôi” của những cái thích, hoặc không thích, sợ hãi và ham muốn, “cái Tôi” không bao giờ cảm thấy thỏa mãn được lâu. Đó là cảm nhận về tự thân của bạn được làm nên bởi trí năng, thường bị tha hóa bởi quá khứ và luôn muốn tìm sự thỏa mãn ở tương lai.

    Bạn có nhận ra rằng “cái Tôi” này rất dễ phôi pha, vì đó chỉ là một sự hình thành rất tạm bợ như một đợt sóng biểu hiện trên mặt nước.

     

     

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.593
  • Trong buổi nói chuyện trước đây tôi cũng đã nhắc đến tánh không và cho biết đấy là một chủ đề thật chủ yếu, thế nhưng tôi chưa kịp triển khai một cách đầy đủ và tương xứng với tầm quan trọng của nó. Thiết nghĩ chúng ta cần phải thấu triệt khái niệm này một cách sâu sắc hơn. Nhiều khía cạnh của chủ đề này quả thật là vẫn còn quá mù mờ, do đó tôi sẽ dành trọn buổi nói chuyện hôm nay cho đề tài này.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 785
  •  

     

     

      OM là từ biểu trưng cho cái vô cùng, viên mãn, vĩnh hằng.Những người Phật tử Tây Tạng tin tưởng rằng bản thể của vũ trụ biểu đạt qua âm thanh mật chú (mantra). Mật chú là sức mạnh làm cho tâm thức tập trung và trở nên nhu nhuyến.

    Chữ mantra có nguồn gốc từ ngữ căn tiếng Phạn: manas, nghĩa là tâm; và, tra, nghĩa là công cụ. Tiếng Latin cũng có ngữ căn tương tự là mens, nghĩa là tâm thức. Như vậy, Mantra có nghĩa là công cụ của tâm thức, là âm thanh cốt lõi, âm thanh của Chánh giác làm cho luân hồi và Niết bàn hợp nhất. OM là đầu nguồn của Mantra, có nguồn gốc từ đạo Bà la môn. OM được Phật giáo tiếp nhận và mở rộng phạm vi để làm điểm tiên khởi cho tất cả những Mantra khác. OM biểu trưng cho tính tổng nhiếp của các pháp, cái vô cùng, cái viên mãn. Tụng niệm Mantra là cách làm cho tâm được tập trung, hướng về hòa nhập với tánh giác.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.277
  • Sự  im lắng chính là bản chất chân thực của bạn. Vậy sự im lắng là gì? Đó chính là không gian ở trong bạn, là khả năng nhận thức từ đó những chữ trên trang giấy này được tạo thành khái niệm và trở thành những ý nghĩ ở trong đầu bạn. Nếu không có khả năng nhận biết đó, sẽ không có khái niệm, không có ý tưởng, không có thế giới.

    Bạn chính là khả năng nhận biết đó được che giấu dưới hình dáng của một con người. 

    Tương đương với tiếng động ồn ào ở bên ngoài là sự ồn ào của những suy tưởng bên trong.

    Tương đương với sự im lặng ở bên ngoài là sự im lắng ở nội tâm.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.629
  • FOREWORD

    Man, in order to escape his conflicts, has invented many forms of meditation. These have been based on desire, will and the urge for achievement, and imply conflict and a struggle to arrive. This conscious, deliberate striving is always within the limits of a conditioned mind and in this there is nofreedom. All effort to meditate is the denial of meditation.Meditation is the ending of thought. It is only then that there is a different dimension which is beyond time.

    J. Krishnamurti. March 1979 

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.962
  • CHỈ NGỒI

    Tenshin Reb Anderson

    Giáo lý tánh Như đã được truyền thông mật thiết bởi chư Phật chư Tổ. Nghĩa của thực hành tánh Như này không nằm trong lời nói, nhưng nó đáp ứng cho sự quyết tâm của chúng ta. Nó tiến lên và gặp gỡ chúng ta. Chúng ta ngồi đây và những con chim xanh hát nó cho chúng ta, những dòng suối hát nó cho chúng ta, bởi vì chúng ta đến và nghe. Đây là sự thực hành ngồi, chỉ ngồi, của chúng ta. Nó là một thiền định không chủ đề, một thiền định không có mối nối khâu vá. Nó không còn hình tướng, không bắt đầu và không kết thúc và nó toả khắp mọi sự một cách trọn vẹn. Nó không để lại dấu vết, và nếu tôi cố gắng truy tìm dấu nó, mà vì nó đáp ứng một cách rộng lượng và từ bi cho sự tìm dấu của tôi, cho sự nói của tôi và cho sự nghe của các bạn.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 819
  • SUZUKI DAISETZ - ĐÀO NGUYÊN MINH dịch


    Thiền là sự rèn luyện trong sự giác ngộ. Giác ngộ có nghĩa là giải thoát. Và giải thoát thì không kém gì so với tự do. Chúng ta nói rất nhiều trong thời đại này về đủ thứ tự do, chính trị, kinh tế, mà mặt khác thì những thứ tự do này đều không thực tiễn. Một khi chúng hãy còn ở trên bình diện tương đối, sự tự do mà chúng ta nói đến thì xa hơn thế nữa. Tự do thực sự là kết quả của sự giác ngộ. Khi một người nhận thức ra điều này, thì trong bất cứ hoàn cảnh nào, người ấy cũng có thể tìm thấy chính mình luôn tự tại trong đời sống nội tâm của mình, trong sự theo đuổi đường hướng hành động của chính nó. Thiền là một tôn giáo của jiyu “tự do”, và jizai “tự tại”.
    Giác ngộ chiếm trọng tâm trong giáo lý nơi tất cả các tông phái Phật Giáo, Tiểu Thừa và Đại Thừa, “tự lực” và “tha lực”, Thánh Đạo hay Tịnh Độ, giáo lý của Đức Phật tất cả đều phát xuất từ sự giác ngộ của ngài, từ khoảng 2.500 năm trước nơi vùng phía bắc Ân Độ. 

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 853
  • Thiền Sư Thánh Nghiêm

     

    Dưới đây là một trình bày về Thiền Mặc Chiếu, trích dịch một phần từ cuốn Hoofprint of the Ox (Dấu Chân Trâu) của Thiền Sư Thánh Nghiêm (Sheng Yen), dựa theo bản Anh dịch của GS Dan Stevenson. Thầy Thánh Nghiêm nối pháp từ cả hai dòng Lâm Tế và Tào Động, chuyên hoằng pháp Thiền Tông với cả hai truyền thống này, có ảnh hưởng lớn ở nhiều nước. Năm 2000, thiền sư là một trong các diễn giả chính trong Hội Nghị Thượng Đỉnh Tôn Giáo Thiên Niên Kỷ tổ chức ở Liên Hiệp Quốc. Thầy thường mở các thiền thất dài 7 ngày ở các nước, đôi khi mở các thiền thất dài 49 ngày. Tuy chuyên dạy về Thiền Thọai Đầu và Thiền Mặc Chiếu, Thiền Sư Thánh Nghiêm lại là một giảng sư uyên bác, đa dạng và cũng là một luận sư của Tịnh Độ Tông.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 768

Top Bài Viết

Top Music

Top Book Mp3

Top Music Album

 
© Copyright 2013 - 2019 PHATAM.ORG - Chịu trách nhiệm nội dung: Thị Đức bienman0811@yahoo.com - Hỗ trợ kỹ thuật votamthoai@gmail.com