THỰC TẠI SÁNG NGỜI MUÔN THUỞ - Thích Thông Phương.

I. THỰC TẠI THẾ NÀO ?

Lâu nay bao người cứ bàn về thực tại, nói về thực tại, luận về thực tại và cãi về thực tại rất nhiều, song thế nào là thực? Thực tại có hay không? Ở đâu ? Dường như câu hỏi vẫn còn đang…! Bởi lẽ, thực tại là cái luôn luôn hằng hữu chưa từng thiếu vắng mà luận về nó, bàn về nó thì sao? Có thực tại chưa ?

 Chính đây là điểm lầm lẫn mà người không hay biết. khi chúng ta nói về nó, tức đã gián tiếp với nó rồi. Thí dụ có người hỏi về anh A, ta trả lời: Anh A cao lớn, mắt to, da trắng, tiếng nói sang sảng v.v… thì lúc đó có mặt anh A ở đó chăng? Nếu lúc đó đang có mặt anh A thì ta chỉ cần trỏ ngay anh, bảo: Đây này! là xong, khỏi diễn tả dài dòng.

Kinh Lăng Nghiêm, đoạn nói về tánh thấy lìa nghĩa TỨC PHẢI và CHẲNG PHẢI,  Phật bảo Bồ tát Văn Thù:

- Như ông chính là Văn Thù, vậy còn có Văn Thù nào TỨC PHẢI VĂN THÙ hay không Văn Thù nữa chăng ?

- Bạch Thế Tôn! Đúng như thế! Con chính là Văn Thù rồi, không còn cái gì tức phải Văn Thù nữa. Tại sao? Nếu có cái TỨC PHẢI thì thành ra có hai Văn Thù rồi, song ngay đây con không phải là không Văn Thù. Trong đó, quả thật không có hai tướng: TỨC PHẢI hay CHẲNG PHẢI TỨC PHẢI .

Đến chỗ thực tại rốt ráo này mà còn nói TỨC, nói PHẢI, là có cái bóng thứ hai rồi. Chẳng hạn nói TỨC TÂM TỨC PHẬT, đó cũng là phương tiện nói, chưa phải tột lý. Nếu người tỏ ngộ mà còn chưa quên chữ “TỨC”, là còn ngăn cách, còn một chút khái niệm trong đó chưa quên. Đây là chỗ đặc biệt của Thiền, không thể bắt chước hay học lóm.

Cũng chuyện ngài Văn Thù. Một hôm Phong Can sắp đi núi Ngũ Đài bèn nói với Hàn Sơn (6) và Thập Đắc:

- Các ông cùng ta đi viếng Ngũ Đài tức là cùng bọn với ta, nếu chẳng đi tức chẳng phải cùng bọn với ta.

Hàn Sơn hỏi:

- Ông đi Ngũ Đài làm gì?

Phong Can đáp:

- Lễ Văn Thù.

Hàn Sơn bảo:

- Ông chẳng phải cùng bọn với ta.

Phong Can bèn đi một mình đến Ngũ Đài, gặp ông già liền hỏi:

- Có phải là Văn thù chăng?

Ông già đáp:

- Há có hai Văn Thù sao?

Phong Can liền lễ bái, chưa kịp đứng dậy thì ông già bỗng biến mất.

Hàn Sơn chính là Văn Thù rồi, còn rủ đi lễ Văn Thù, là một lần Phong Can lầm qua. Ông già ở Ngũ Đài cũng chính là Văn Thù hiện, Phong Can đang đối diện Văn Thù lại còn hỏi có "phải Văn Thù chăng ?", tức là hai lần lầm qua, nên hết thấy Văn Thù. Thực tại cũng vậy, hỏi về thực tại là không biết thực tại. Huống nữa, trong đó còn tranh cãi về thực tại thì quả là còn cách xa thực tại, chứng minh cả hai chưa biết gì thực tại, chỉ là tướng thực tại thôi. Nói rõ hơn là, cùng SỐNG TRONG KHÁI NIỆM.

Trong kinh Niết Bàn có câu chuyện về đám người mù rờ voi: Một hôm ông vua muốn thử chỗ nhận biết cua những gnười mù, bèn cho đem ra trước sân, đồng thời gọi một số người mù đến, bảo mỗi người hãy diễn tả con voi xem nó thế nào. Trong đám người mù đó lăng xăng đến rờ con voi, người rờ trúng lỗ tai voi, nói: con voi giống cái quạt. Người rờ trúng bụng voi, nói: con voi giống cái lu. Người rờ trúng chân voi, nói: con voi giống cột cái. Người rờ trúng đuôi voi, nói: con voi giống cây chổi v.v… Mỗi người nói mỗi khác, tranh cãi nhau inh ỏi. Trong khi đó ông vua nhìn thấy chỉ cười thôi.

Câu chuyện thật ý vị! Mỗi người đều rờ trúng con voi thật sự, nhưng vì chỉ rờ trúng một bộ phận, không thấy được toàn thể con voi nên có tranh cãi nhau, ai cũng cho mình đúng hơn hết. Ngay lúc đó ông vua thấy rõ toàn thân con voi thì chỉ cười. Nếu ông vua cũng nhảy vào cãi với đám người mù kia thì sao? Tứ cũng mù luôn. Cho thấy còn tranh cãi là còn thấy trong khía cạnh, thấy một bên chưa phải là chân lý trọn vẹn. Bởi vậy thiền ít trọng hý luận, cốt đưa người thẳng vào.

Chính bài CHỨNG ĐẠO CA của Thiền sư Huyền Giác mở đầu bằng cậu: “Anh thấy chăng?” Người học thường bỏ qua chỗ này, nhưng chính đây là cốt tủy của toàn bài ca. Chưa nói gì mà bảo: “Thấy chăng ?” là thấy cái gì? Bởi đây là chỗ chứng đạo, chỗ đó đã sẵn vậy rồi, trước khi nói năng đã có, đâu đợi mở miệng? Tức Thiền sư Huyền Giác muốn nói, với người đã chứng đạo thì ngay đó tự cảm thông rồi, bao nhiêu ngôn ngữ về sau cũng chỉ giải thích chỗ ấy, song cũng làm sao giải thích đến được ? Người có mắt thiền, ngay đó liền thấy xong!

 

II. THỰC TẠI CÓ HAY KHÔNG?
Khi người đặt câu hỏi này, chính là đang quay lưng với thực tại. Câu hỏi tự nó đã sai rồi, nếu chúng ta không khéo thấy lại theo đó giải thích thì càng trái xa thực tại.

Kinh Pháp Hoa, phẩm Tùng Địa Dũng xuất có đoạn: “Khi ấy vô số các Bồ tát từ lòng đất vọt lên đến chỗ Phật Đa Bảo và Phật Thích Ca lễ bái, đi quanh tán thán, cúng dường… lúc đó Phật Thích Ca im lặng ngồi yên, hàng tứ chúng cũng im lặng trải qua 50 tiểu kiếp; do thần lực của Phật khiến hàng tứ chúng cho là như nửa ngày.”

Hãy xem, các Bồ tát từ lòng đất vọt lên, đi quanh, tán thán, cúng dường Phật Đa bảo và Phật Thích Ca, thời gian trải qua 50 tiểu kiếp mà do thần lực Phật, tứ chúng cảm thấy như “nửa ngày”. Như vâỵ, từ khi Phật nói kinh đến này mới hơn 2000 năm, vậy cảnh đó có còn chăng? Tức pháp hội Linh Sơn vẫn đang hiện hữu đâu thiếu! Đặc biệt chúng hội tưởng như nửa ngày. Bởi khi tâm định thì quên thời gian, trong đấy đã bặt ý niệm về thời gian, thì ba đời ngay trong một niệm thôi. Kinh nghiệm thực tế, khi chúng ta ngồi thiền, tâm an định thì cảm thấy ba, bốn tiếng đồng hồ như chừng chốc lát. Người đứng ngoài nghe thật khó tin. Vậy làm sao nói có hay không? Họ không hay biết chút gì, làm sao nói có với họ? Chứng mình chứng nghiệm rõ đây thì làm sao nói không? Cho nên, chỗ này không phải là chỗ để lý luận không, cần nhất là người có "thể nghiệm" được chưa ?

Trong nhà thiền, có một Thiền sư bảo với chúng: “Này các thầy! Hãy xem kìa! Ánh sáng rực rỡ đang tỏa khắp cả đại thiên thế giới, cùng lúc hiển hiện mọi xứ sở, hiển hiện tất cả núi Tu Di, những mặt trời, mặt trăng, những bầu trời, cõi đất… nhiều đến trăm ngàn ức số. Này các thầy! Các thầy có thấy ánh sáng đó chăng?”

Với người chưa chứng ngộ, nghe nói thế có tin được chăng? Hẳn sẽ cho là Thiền sư đang nói với ai đó, ở một cõi xa lạ ngoài cõi Ta bà này. Nhưng chính Thiền sư nói là đang nói ở thế gian này. Tại sao ngài thấy mà ta không thấy. Ta không thấy có có thể bảo là nó hoàn toàn không có được chăng?

Quả thật,  THỰC TẠI SÁNG NGỜI ĐANG HIỆN HỮU khắp nới. Chỉ người chịu MỞ mắt tuệ liền thấy rõ, không chút nghi ngờ. Cứ nhắm mắt mà lo cãi thì cãi bao giờ đến?

 Nơi Thiền sư Duy Chánh, có vị tăng hỏi:

-Thầy mang danh là Thiền sư sao không nói thiền?
Sư bảo:
- Ngày đêm nhờ vạn tượng diễn bày mà thôi, ngôn ngữ có gián đoạn mà pháp này vô tận, nên gọi "Tạo Hóa Vô Tận Tạng".

"Pháp này" mà Thiền sư Duy Chánh nói là kho Tạo Hóa Vô Tận, đó là pháp gì? Chính ngay đây, THẤY NGHE tất cả mà chẳng mê thì có chỗ nào thiếu vắng ánh sáng ấy? Lời nói ra thì có lúc nói, lúc im, còn cái biết đang hiện hữu đây, biết hết mọi thứ mà không lẫn lộn với sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp thì có bao giờ gián đoạn? Có chỗ nào không diễn bày ánh sáng đó? Cái sờ sờ muôn thuở là đây!

Chính Lục Tổ khi đại ngộ trong thất Ngũ Tổ liền la lên:

 

                "Đâu ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh
                Đâu ngờ tự tánh vốn không sanh diệt… "

 

Tức tự tánh xưa nay vốn thanh tịnh hiện tiền chưa bao giờ mất, nhưng chúng ta đành bỏ quên không nhớ tới. Giờ chợt nhận ra, thật không ngờ! Lời “đâu ngờ” là nói lên một cái thấy vượt ngoài suy tưởng. Nói theo đây là: THỰC TẠI ĐÂU NGỜ !

 

III. THỰC TẠI Ở ĐÂU?

Đây là một điểm nữa cần thấu triệt để không lầm ngôn ngữ. Tâm người quen sống có CHỖ đã lâu, không chỗ thì chới với nên luôn hỏi chỗ. Với thực tại mà hỏi ở đâu, tức xa thực tại rồi, đâu còn là thực tại ! Có ở đâu là bị chỗ đó CHUYỂN, là đi vào luân hồi. Còn đợi câu trả lời để hiểu nữa là càng đi quá xa.
Có vị tăng hỏi Thiền sư Tự mãn:

- Chẳng rơi vào xưa nay, xin thầy nói thẳng!

Sư bảo:

- Đã biết ông lờ mờ rồi!

Vị tăng muốn hỏi thêm, Sư liền bảo:

- Sẽ cho là lão tăng rơi vào xưa nay.

Ông tăng hỏi thẳng mà Sư bảo lờ mờ, ai thấy ông tăng lờ mờ ở chỗ nào? Hãy chín chắn lại xem: Đã chẳng rơi vào xưa nay mà còn đợi nói ra thì sao ? Có nói ra tức rơi vào xưa nay rồi. Ngay chính câu hỏi đã kẹt vào " RƠI - CHẲNG RƠI ", là trái thực tại không hay. Nếu thực chẳng rơi XƯA NAY, sao còn đợi chỉ? Người kẹt chữ nghĩa dễ lầm chỗ này!

Còn đây, Thiền sư Huệ Minh cất am trên núi Đại Mai, có hai thiền khách đến am, Sư hỏi:

- Thượng tọa ở đâu đến?

ThIền khách đáp:

- Ở đô thành đến.
Sư bảo:
- Thượng tọa rời đô thành đến núi này thì ở đô thành thiều Thượng tọa, ở núi này dư Thượng tọa. Dư thì ở ngoài tâm có pháp, thiếu thì tâm pháp chẳng khắp. Nói được đạo lý thì ở, chẳng hội nên đi.

Cả hai không đáp được.

Thiền sư Huệ Minh khéo thêm THIẾU DƯ để gạn hai Thượng tọa kia. Đúng ngay hai ông còn kẹt "đây kia", chỗ nơi, quên mất thực tại hằng hữu nơi mình nên bị ngôn ngữ lừa. Chính cái đang đối diện hỏi đáp đó, có đây kia gì đâu? Thấy đây thấy kia là kẹt trên thân tướng giả hợp này. Y cứ trên thân tướng này thì có chỗ nơi nên có ở đây thì vắng ở kia. Đã kẹt chỗ nơi, đây kia nên cũng vướng mắc thiếu dư thành bị ngại.

Lâm Tế cũng từng thể hiện ý này rất tế nhị. Sư từ giã Hoàng Bá đi, Hoàng Bá hỏi:

- Ông đi về đâu?

Sư đáp:

- Chẳng về Hà Nam liền về Hà Bắc.

Chỉ một câu đáp nhẹ nhàng nhưng biểu hiện sức sống thực tại luôn hiện hữu nơi Sư. Nghĩa là, với Sư thì sức sống chân thật đó luôn luôn hiện hữu nơi mình không lúc nào vắng mặt, không dừng ở một chỗ nào, không thuộc ở hà Nam cũng không htuộc ở Hà Bắc. Chính Sư luôn sống trong ấy mới trả lời được như thế. Nếu người còn nhớ chỗ kia, chỗ này hoặc ở Hà Nam hoặc ở Hà Bắc, tức còn kẹt trên cái ta này, đó là chưa thấy TÁNH, chưa SỐNG NGAY THỰC TẠI ĐANG LÀ !

Chính vua Lý Thái Tông vì muốn biết chỗ sống của Thiền sư Thiền Lão nên một hôm vua vào núi hỏi Sư:

- Hằng ngày Hòa thượng làm gì?

 

Sư đáp:
                    Trúc biếc hoa vàng đâu cảnh khác
                    Trăng trong mây bạc lộ toàn chân.

 

Hỏi hằng ngày làm gì, tức hỏi chỗ sống của Thiền sư. Với Thiền Lão thì tất cả trước mặt đều hiện bày ánh sáng chân thật ấy không chỗ nào thiếu vắng, không có thêm cái gì khác nữa để làm. Vì vậy, trăng trong, mây bạc, trúc biếc, hoa vàng đều lộ bày toàn thể tánh chân, Sư thấy cái gì cũng sáng ngời không mê. Đó là thực tại luôn hiện hữu, còn phải tìm đâu nữa?

Cũng như có ông tăng hỏi Hòa thượng Triệu Châu:

- Khi tiên nhân Tỳ Mục cầm tay đồng tử Thiện Tài liền thấy vi trần Phật thì thế nào?

Triều Châu liền cầm tay ông tăng bảo:

- Ông thấy cái gì?

Trong kinh Hoa Nghiêm, phẩm Nhập Pháp Giới nói, khi đồng tử Thiện Tài đến tham học với tiên nhân Tù Mục, được tiên nhân cầm tay thì liền đó thấy vô số đức Phật nhiều như bụi nhỏ. Ở đây ông tăng thắc mắc, trong cái cầm tay có gì đặc biệt mà thấy vi trần Phật như thế? Không ngờ Triệu Châu là bậc mắt sáng, Sư đâu theo cái khuôn chữ nghĩa để giải thích, mà trực tiếp đưa ông tăng vào chỗ thực tại đó! Chính ngay khi Sư cầm tay, ông tăng liền cảm nhận chưa trôi vào niệm thứ hai, trong ấy thiếu cái gì? Phật Phật vô lượng, vô số có ngoài ánh sáng ấy đâu? Nghe nói tiên nhân Tỳ Mục, lo nhớ đến ở thuở nào, về mấy ngàn năm trước, là đánh mất ánh sáng tực tại đây rồi!

 

IV. THIỀN SƯ ĐÁNH THỨC THỰC TẠI

Đến đây, chúng ta hãy lắng lòng xem Thiền sư đánh thức thực tại cho người.

* Hòa thượng Nam Tuyền, một hôm đi qua nhà tắm thấy vị trưởng phòng tắm đang đốt lửa nấu nước, bèn hỏi:

- Ông làm gì?

Trưởng phòng tắm thưa:

- Nấu nước tắm.

Sư bảo:

- Nhớ gọi con trâu đực đi tắm với!

Trưởng phòng tắm đáp: - Dạ!

Đến chiều, trưởng phòng tắm vào phương trượng, Sư hỏi:

- Làm gì?

Trưởng phòng tắm thưa:

- Mời con trâu đực đi tắm.

Sư bảo:

- Đem được dây thừng đến chăng?

Trưởng phòng tắm không đến được

Sau đó, Triệu Châu đến thăm hỏi, Nam Tuyền thuật lại việc trên, Triệu Châu thưa:

- Con có lời.

Nam Tuyền bảo:

- Đem được dây thừng đến chăng?

Triệu Châu liền đến gần trước chợt nhéo mũi Nam Tuyền. Nam Tuyền bảo:

- Phải thì phải mà thô quá!

Xem đó, trưởng phòng tắm biết mời trâu mà không nắm mũi được. Có đầu mà không đuôi, trước như lanh lợi, sau bị ló đuôi. Triệu Châu khéo léo, ngay cái nhéo mũi, trâu bị dẫn tới rồi, hết chạy đâu khỏi! THỰC TẠI ĐÃ HIỆN RA ĐÓ!

* Thạch Củng nhéo mũi Trí Tạng. Một hôm Sư cùng Trí Tạng đi dạo chơi, Sư hỏi Trí Tạng:

- Sư đệ biết bắt hư không chăng?

Trí tạng đáp:

- Biết bắt.

Sư hỏi:

- Làm sao bắt được?

Trí Tạng lấy tay chụp hư không. Sư bảo:

- Làm thế ấy đâu bắt được hư không?

Trí Tạng hỏi lại:

- Sư huynh làm sao bắt?

Sư liền nắm mũi Trí Tạng vặn mạnh. Trí Tạng đau quá la lên:

- Giết chết lỗ mũi người ta! Buông ngay!

Sư bảo:

- Phải làm như thế mới bắt được hư không.

Trí Tạng về đến khuya mới nhận ra ý chỉ ấy.

Trong đây, Trí Tạng lấy tay chụp hư không, rất dễ làm lầm người. Chụp cái gì trong đó.

Thạch Củng nhéo mũi, Trí Tạng đau la lên, người cứ tưởng tRong ấy trống rỗng không có gì, vậy cái gì la lên đó? Quả tang là đang hiện tiền bị tóm lấy rồi! Chính đó là cái KHÔNG VI DIỆU, là THỰC TẠI KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN. Tuy nhiên kỵ nhất sanh tâm động niệm. Ngay đây vừa động niệm là rơi vào ba thời, tức mờ đi thực tại rồi!

* Tăng hỏi Quy Tỉnh về cây bách của Triệu Châu. Có ông tăng đến hỏi Sư về cây bách của Triệu Châu, Sư bảo:

- Ta chẳng tiếc nói với ông, mà ông có tin chăng?

Tăng thưa:

- Lời của Hòa thượng quý trọng, con đâu dám chẳng tin.

Sư bảo:

- Ông có nghe giọt mưa rơi  trước thềm chăng?

Tăng hoát nhiên đại ngộ, thốt:

- Chao!

Sư hỏi:

- Ông thấy đạo lý gì?

Tăng làm tụng:

                    Thiềm đầu thủy đích
                    Phân minh lịch lịch
                    Đả phá càn khôn
                    Đương hạ tâm tức.

Nghĩa:

 

                    Giọt mưa trước thềm
                    Rành rã rõ ràng
                    Đập nát càn khôn
                    Liền đó tâm dứt.

 

Như vậy ông tăng ngộ cái gì? Từng giọt, từng giọt mưa, nghe rõ ràng rành rẽ không sót một giọt, không để lọt một giọt ra ngoài ánh sáng ấy. Thì không phải hằng hữu luôn luôn đó sao? Nếu có gián đoạn thì đâu rành rõ từng giọt, trái lại là đã có giọt bị mê mất rồi. Cốt là ngay đó: “Đập nát càn khôn, liền đó tâm dứt”. Nghĩa là bặt mọi chỗ hiểu biết, không tướng để duyên, thì chính đó ánh sáng thực tại sờ sờ hết còn chạy trốn đâu được. Vậy còn gì mà nói có, không, thế nào ở đâu ?

Quả thật, chúng ta đang sống trong thực tại nhưng lại đi tìm thực tại. Thiền sư đã cảm nhận được điều đó nên các ngài luôn dùng mọi cách hay khéo để đánh thức cho mỗi người chúng ta tỉnh lại chỗ này. Nói sáng tâm, nói tỏ tánh, không ngoài sáng tỏ được việc này. Vậy thì có ai dám can đảm, ngay đây buông hết mọi khái niệm hiểu biết nào tâm tánh, nào thực tại, nào bản lai diện mục… buông và buông sạch, xem lại chính đây là gì?

 

                    Xưa nay trước mắt sờ sờ
                    Có gì thiếu thốn mà quơ thêm vào
                    Khiến cho đã sáng từ lâu
                    Tr
ở thành mờ tối, còn đâu thuở nào!

 

Trích trong Một Sức Sống Chân Thật Giữa Thế Gian
THIỀN TÔNG ĐỐN NGỘ
Thích Thông Phương
Hội Thiền Học Việt Nam PL. 2547 - DL. 2003

 

 

 

 

  • Bằng cách dần dần trở nên quen biết với bản tánh này, sẽ có được quán chiếu đích thực, nó đạt đến tột đỉnh với sự có được tự tin. Một khi đã có tự tin này, bạn chỉ đơn giản ở trong trạng thái đó và giữ gìn sự tự tin đó mà không thêm vào bất kỳ tạo tác nào. Bản tánh tối vi tế này không nhiễm ô bởi những lỗi lầm của sanh tử, thế nên chớ trộn lẫn nó với bất kỳ cái gì khác. Chớ cố gắng tìm kiếm cái gì khác để làm ; chỉ đơn giản ở trong sự tự tin đã đạt được. Hãy an trụ thường hằng trong trạng thái này và thỏa mãn với sự nhận biết đó.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.469
  • Không có gì như tình thương của bậc cha mẹ đối với con cái. Khi ta suy xét về lòng tốt mà cha mẹ ta đã biểu lộ với ta thì chúng ta nên suy tưởng rằng tất cả chúng sinh chịu đau khổ trong vòng sinh tử đã có lúc này hay lúc khác từng là những cha mẹ tốt lành và từ ái của chúng ta. Đây quả nhiên là nguyên nhân để sự phát khởi tự nhiên của lòng bi mẫn, là Bồ đề tâm, tràn trề trong chúng ta, Bồ đề tâm dâng tràn đối với tất cả chúng sinh, thậm chí đối với một con côn trùng bé xíu, con muỗi nhỏ bé nhất.Là các Phật tử, những hành giả Dzogchen, các bạn phải từ bỏ mọi hành vi làm hại bởi các bạn phải nhận ra rằng tất cả chúng sinh đã từng là những cha mẹ của các bạn. Nhận thức đó phải hiện diện trong tâm các bạn. Các bạn cần cảm nhận lòng thương yêu hơn nữa đối với chúng sinh đang ở trong tình huống khó khăn và kém may mắn hơn các bạn và nỗ lực trong khả năng tốt nhất của các bạn để làm lợi lạc cho họ.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.265
  • ss

    Đây là một cái nhìn sơ lược tổng quát về Bốn Yoga. Tính chất định nghĩa của yoga thứ nhất, nhất tâm, là nhận biết bản tánh của tâm bạn. Hơn nữa, bạn chứng ngộ rằng những xuất hiện không là gì khác hơn bản tánh của tâm bạn, và bản tánh ấy giống như sự trống không của không gian. Yoga thứ hai thoát khỏi tạo tác ý niệm, gồm nhận biết rằng mọi xuất hiện là giả hợp ; bạn chứng ngộ rằng bản tánh thật sự của tâm là trống không và thoát khỏi mọi tạo tác ý niệm. Thứ ba, trong yoga của một vị, bạn nhận biết rằng sanh tử và niết bàn đồng một bản tánh, nó là chìa khóa để đạt đến giác ngộ. Trong yoga thứ tư, yoga của không-thiền định, bạn nhận biết rằng toàn bộ sanh tử và niết bàn vốn là không sanh, không trụ và không diệt. Nhị nguyên căn bản nhất của chủ thể và đối tượng vốn là không có nền tảng và là một bản tánh, Pháp thân.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.862
  •  

     

    Nói đến tâm này, Padmasambhava nói rằng bản tánh vốn có của nó, tánh giác nội tại, đã hiện hữu từ nguyên thủy, nghĩa là nó không được tạo ra ở một điểm nào đó trong thời gian. Nhưng nó đã không được nhận biết vì vô minh hay không giác của chúng ta trong mọi đời trước. Nó giống như một viên ngọc quý tự tỏa sáng mà trải qua vô số thế kỷ đã bị bọc thêm nhiều lớp tạp chất. Những lớp che chướng này là phiền não chướng và sở tri chướng. Những phiền não chướng chủ yếu là những phiền não tiêu cực và ích kỷ của chúng ta, như giận dữ, tham lam, ghen tỵ, kiêu căng... Những sở tri chướng là những ý niệm tri giác sai và lầm lẫn về thực tại.

    Ngay lúc này, dù cho sự hiện diện sáng rõ hay tánh giác vẫn không ngừng dứt, nhưng chúng ta không trực tiếp gặp nó mặt đối mặt. Và dù sự hiện hữu của nó thì không chỗ nào bị che ám chướng ngại hay đứt đoạn, chúng ta vẫn không nắm hiểu hay nhận ra nó. Ba dòng ở trên của bản văn ám chỉ bản tánh của tâm theo Tinh Túy của nó, đó là tánh Không, Bản Tánh của nó là sự sáng tỏ quang minh, và Năng Lực của nó thì không bị chướng ngại hay đứt đoạn và thấm nhuần khắp.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.123
  • canh-dep-que-lam      Cần phải ngộ mới được! Sau khi ngộ rồi, cần phải gặp thiện tri thức. Nhà ngươi nói: Ngộ rồi là xong, đâu cần gặp thiện tri thức. Nếu ngộ rồi lại gặp thiện tri thức thì đương lúc ra tay làm phương tiện hằn tự có đường xuất thân, chẳng làm mù mắt người học. Còn nếu chỉ ngộ được đầu cây cải khô thì chẳng những làm mù mắt người học mà khi chính mình cử động trước tiên phạm nhằm mũi nhọn bị thương tay.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.163
  •     Có nhiều phương diện của tâm, nhưng có hai phương diện nổi bật hơn cả. Đầu tiên là cái tâm thông thường mà người Tây Tạng gọi là Sem. Một bậc thầy đã định nghĩa: “ Đó là cái tâm có khả năng phân biệt, có ý thức về nhị nguyên( hoặc lấy hoặc bỏ một đối tượng bên ngoài) đó là tâm”. Đó là thứ có thể giao thiệp với một thứ gì khác, bất cứ thứ gì khác, vốn được xem là điều lĩnh hội, khác với năng lực lĩnh hội. Sem là cái tâm suy nghĩ, tâm nhị nguyên, phân biệt, chỉ có thể vận hành tương quan với một điểm quy chiếu ở ngoài, bị nhận lầm và chỉ là một cái bóng được chiếu ra.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 2.007
  • Tám Tỉnh Giác của bậc Đại Nhân
    (Hachidaininkaku) 

     

    Rốt ráo, Phật giáo được cho là thực tiễn, và sự dè dặt truyền thống của nó về triết học là do bởi trong sự kích thích tập luyện trí thức có khuynh hướng quên đi rằng những giáo lý là để áp dụng. Một vị thầy vĩ đại của Phật giáo Trung Hoa đã nêu điều đó trong những lời này : trước hết là hiểu, không có nó hành động sẽ mù lòa ; rồi đến hành động, không có nó hiểu sẽ không có hiệu lực ; cuối cùng hiểu và hành động thành một.  

    “Chớ làm điều xấu, hãy làm điều tốt, hãy làm trong sạch tâm – đây là lời dạy của chư Phật”. Công thức cổ này của Phật giáo tóm tắt thông điệp của ba chương cuối của Chánh Pháp Nhãn Tạng như được trình bày trong cuốn sách này. Chúng cùng làm rõ ba giai đoạn hay ba yếu tố căn bản của Thiền được tìm thấy khắp toàn bộ giáo lý Phật giáo : xa lìa, hòa nhập và sự hòa hợp giữa xa lìa và hòa nhập.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.453
  • say me voi nhung phong canh thien nhien binh yen 4 Say Mê Với Những Phong Cảnh Thiên Nhiên Bình Yên           Phải tọa thiền như thế nào mới đúng? Khi tọa thiền thân thể cần phải thoải mái mới đúng.

              Tọa thiền là đang tu hành “thân là Bồ-đề(1) (khai ngộ)”, cũng là thể chứng Bồ-đề; vì nếu chúng ta thực sự đang Tọa thiền thì sẽ không có phân biệt giữa tu hành và thể chứng. Đó là trí tuệ “Như thị” (as, is), là trí tuệ “sự vật thế nào thì chính là thế ấy”. Tọa thiền là đang tu Phật đạo, cho nên cũng là đang tu sinh mệnh chính mình.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 823
  •  

    Ngồi yên - hay thiền định - chẳng phải là nhất định phải ngồi. Ngồi yên thực sự là chẳng hiện thân ý trong ba cõi, đó là tâm thiền định. Tâm thiền định này là tâm Không, không trụ vào đâu cả và tâm thiền định ấy đạt đến pháp tánh. Tâm thiền định ấy chính là pháp tánh. Theo ngài Duy Ma Cật, thiền định không phải là một hình tướng ngồi hay đứng, mà thiền định là tương ưng với pháp tánh, và pháp tánh này thì không sanh không diệt, không đến không đi, không nằm không ngồi. Pháp tánh này xưa nay thường định. Và thiền định là ngộ nhập pháp tánh ấy, không cứ gì ngồi hay nằm. Thấu đạt pháp tánh tức là ngồi yên, dù thân có đang làm gì.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 804
  •    I. THỰC TẠI THẾ NÀO ?

    Lâu nay bao người cứ bàn về thực tại, nói về thực tại, luận về thực tại và cãi về thực tại rất nhiều, song thế nào là thực? Thực tại có hay không? Ở đâu ? Dường như câu hỏi vẫn còn đang…! Bởi lẽ, thực tại là cái luôn luôn hằng hữu chưa từng thiếu vắng mà luận về nó, bàn về nó thì sao? Có thực tại chưa ?

    Chính đây là điểm lầm lẫn mà người không hay biết. khi chúng ta nói về nó, tức đã gián tiếp với nó rồi. Thí dụ có người hỏi về anh A, ta trả lời: Anh A cao lớn, mắt to, da trắng, tiếng nói sang sảng v.v… thì lúc đó có mặt anh A ở đó chăng? Nếu lúc đó đang có mặt anh A thì ta chỉ cần trỏ ngay anh, bảo: Đây này! là xong, khỏi diễn tả dài dòng.

     

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.004
  •  

          Vấn đề lớn này, Đạo, mọi người đều sở hữu nó từ đầu. Đạo luôn luôn ở cạnh chư vị. Điều khó khăn là từ vô thủy đến giờ Diệu Giác vẫn bị che khuất bởi các hạt giống của tham ái, các dòng tư tưởng, sự lưu xuất của tư lương phân biện, và lề lối suy tưởng tập tục đã ăn sâu. Vì thế chúng ta chưa bao giờ nắm giữ được Chính giác, thay vì thế chỉ lẩn quẩn giữa những chiếc bóng vọng tưởng về tâm, thân và thế gian. Chính vì thế mà trôi lăn mãi trong Luân Hồi. Xưa chư Phật Tổ hiện thân trong thế giới này, sử dụng hàng vạn lời lẽ và nhiều phương pháp dạy, hoặc Giáo hoặc Thiền(1). Tất cả lời dạy của chư Phật Tổ chẳng là gì khác hơn những dụng cụ để đập tan sự “chấp trước” quen thói thâm nhiễm tư tưởng chúng sinh.

     

          

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 961
  • Giải thoát hay Tánh Không thì không chỗ nào không có,nên bất cứ ở đâu chúng ta cũng có thể gặp nó. Tánh không, vô tự tánh của cái tôi và tất cả sự vật thì có thể tìm thấy nơi sự vật cũng như chính nơi tâm thức này. Bởi vì tánh không là bản tánh của sự vật và của tâm thức.

    Trong bài này, chúng ta tìm hiểu và thể nghiệm tánh không nơi tâm thức hiện có của chúng ta, nơi không có tư tưởng và nơi đang có tư tưởng. Tánh không nằm giữa hai tư tưởng thường được nói đến trong hai truyền thống phật giáo Tây Tạng và Trung Hoa, mà Thiền tông , Đại Toàn Thiện (Dzogchen), và Đại Ấn (Mahamudra) là những đại diện tiêu biểu.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 854
  •  

    Hỏi: Nếu nói Phật tánh hiện ở thân này, đã ở trong thân không lìa phàm phu. Cớ sao nay tôi chẳng thấy Phật tánh? Xin giải rõ khiến được khai ngộ.

     

     

    Ðáp: Ở tại thân ông mà tự ông chẳng thấy. Suốt mười hai giờ ông biết đói biết khát, biết lạnh, biết nóng, hoặc vui, hoặc giận,v.v... Trọn là vật gì? Lại sắc thân là địa thủy hỏa phong bốn duyên hội hợp, cái chất của nó là vô tình, đâu hay thấy nghe hiểu biết? Cái thấy nghe hiểu biết nhất định là Phật tánh của ông. Tổ Lâm Tế nói rằng: “Bốn đại chẳng biết nói pháp, chẳng nghe pháp. Hư không chẳng biết nói pháp, chẳng nghe pháp. Chỉ cái rõ ràng riêng sáng ở trước mẳt của ông, cũng chớ phân tích nó, cái ấy mới biết nói pháp và nghe pháp”.
    Ba chữ “Chớ phân tích” là pháp ấn của chư Phật và cũng là tâm bổn lai của ông. Thế thì Phật tánh ở tại thân ông, đâu có nhờ cầu bên ngoài? Ông nếu chẳng tin, tôi sẽ nêu lên nhơn duyên nhập đạo của các bậc thánh xưa, để cho ông trừ hết nghi hoặc. Ông sẽ tin là chơn thật.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 950
  • một số người băn khoăn vì không biết có cần thiết phải có một vị đạo sư tâm linh hay không? Chúng ta có thể tự học đạo được hay không? Để học được những kỹ năng như đọc sách, nghề mộc, giải phẫu hay ngay cả lái một chiếc xe chúng ta cần phải có người dạy. Tự học là một việc khó khăn đôi khi rất nguy hiểm. Thử hình dung ra cảnh chúng ta cố gắng tự học lái một chiếc máy bay! Rõ ràng là có nhiều hiểm họa không lường được. Để học những nghề nghiệp thông thường chúng ta còn phải có thầy dạy đàng hoàng mới nên thì chắc chắn rằng để học đạo chúng ta phải cần sự hướng dẫn của những bậc đạo sư có phẩm hạnh. Chúng ta không thể xem nhẹ và bất cẩn trong những vấn đề tâm linh, những vấn đề cao sâu có ảnh hưởng lâu dài trong đời này và trong những đời sau.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 911

  • Với sự tin hiểu, ở đâu người ta cũng thấy Diệu Pháp Liên Hoa, thời gian nào cũng là sự hiển xuất của Diệu Pháp Liên Hoa. Không gian và thời gian đã ngấm đầy Phật chất để chuyển hóa thành một cách thế biểu hiện của Phật lực, một sự diễn xuất của Phật tánh và do đó không còn ngăn ngại, không còn ta người, không còn đây kia, sống chết, khổ đau…

    Sống trong Pháp Hoa, nói theo kinh Lăng Nghiêm, là chuyển năm ấm, sáu nhập, mười hai xứ, mười tám giới và bảy đại, nghĩa là toàn bộ thế giới, chúng sanh về bản tánh của chúng là Như Lai tạng. Khi người ta lặn đến đáy cùng của tâm thức rồi đi ngược ra trở lại, bấy giờ thế giới và chúng sanh chính là sự “lộn trái” của tâm, là sự bùng vỡ thành muôn ngàn hình tướng của tâm, bởi thế tất cả chỉ là sự ứng hiện của tâm, tất cả chỉ là tâm.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 772
  •   Trong ngoài lặng lẽ chẳng vin đâu   

    Sáng suốt, hồn nhiên khỏi vọng cầu   

    Buông hết một phen đừng luyến tiếc

    Mới hay ngay đó thấy đạo mầu!

                (Viên Minh)

     Ngày nay, nhân loại đã tiến bộ rất xa về mặt khoa học, kỹ thuật, đã làm thay đổi bộ mặt thế giới từng ngày, từng giờ và thậm chí từng phút, từng giây, nên đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội v.v… đều được nâng cao một cách đáng kể.

    Nhờ phương tiện giao thông vận tải, phương tiện truyền thanh, truyền hình, mạng internet, vô tuyến viễn thông mà thế giới đã và đang hội nhập thành một cộng đồng quốc tế với qui mô toàn cầu hóa. Điều này đem đến biết bao phúc lợi xã hội, tiện nghi đời sống đủ để đáp ứng nhu cầu hưởng thụ ngày càng đa diện và phong phú của con người.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 811
  • Mục đích của tham thiền là minh tâm kiến tánh, tức quét trừ tự tâm ô nhiễm, để chân thật thấy rõ bổn lai diện mục của tự tánh. Ô nhiễm tức là vọng tưởng chấp trước. Tự tánh tức là trí huệ đức tướng của Như Lai. Đối với đức tướng trí huệ của Như Lai, Phật và chúng sanh đều đồng có đầy đủ, không hai không khác. Nếu xa rời được vọng tưởng chấp trước thì tự mình sẽ đắc được trí huệ đức tướng của Như Lai, tức là Phật. Ngược lại thì làm chúng sanh. Chỉ vì chúng ta từ vô lượng kiếp cho đến nay, mê mờ lưu lạc trong vòng sanh tử và bị nhiễm ô đã lâu, nên không thể thoát khỏi được vọng tưởng chấp trước mau chóng được. Muốn thấy rõ bổn tánh chân thật, phải nên tham thiền. Vì thế, điều kiện tiên quyết nhất khi tham thiền là phải dẹp trừ vọng tưởng. Làm sao dẹp trừ vọng tưởng ? Phật Thích Ca thuyết pháp rất nhiều, nhưng đơn giản không ngoài chữ "ngưng". "Ngưng tức Bồ Đề".

    Thiền tông do Đạt Ma Tổ Sư từ bên Ấn Độ truyền qua Đông Độ; đến đời Lục Tổ thì gió thiền lan rộng khắp nơi, chấn động chiếu sáng cổ kim. Những điều tối quan trọng mà Đạt Ma Tổ Sư cùng Lục Tổ thường dạy là "dẹp hết muôn duyên, chẳng sanh một niệm".

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 899
  • http://bndosomething.files.wordpress.com/2013/07/page3_1.jpg

    Linh nguyên minh hạo khiết

    Chi phái ám lưu chú

    Chấp sự nguyên thị mê

    Khế lý diệc phi ngộ

    Nguồn linh sáng trong veo

    Chi phái thầm tuôn trào

    Chấp sự vốn mê muội

    Khế lý đã ngộ đâu

    Mạch nguồn là một cái gì đó tuyệt diệu, không thể mô tả bằng lời, không ngôn ngữ nào có thể chạm đến. Điều Đức Phật nói đến là mạch nguồn của giáo lý, siêu việt mọi so sánh xấu tốt. Điều này rất quan trọng. Những gì mà tâm quý vị có thể nắm bắt và hình thành khái niệm đều không phải là mạch nguồn. Mạch nguồn là điều mà chỉ một vị Phật mới biết được.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 940
  •  

    Tâm đến từ tánh Không và tan hòa trở lại vào tánh Không, giống như nước đông lại thành băng và lại tan chảy ra.  

    Tượng Đức Milarepa trong Tu viện Drirapuk, Núi Kailash, Tây Tạng 

    Vào mùa thu Milarepa đi tới một địa điểm được gọi là Gepa Lesum, nơi người dân đang thu hoạch mùa màng. Ngài đang khất thực thì một thiếu nữ tên là Nyama Paldarbum nói: “Ông đi tới căn nhà ở đằng kia, con sẽ gặp ông và tặng ông thực phẩm.”  

    Milarepa tới trước căn nhà và dùng gậy gõ nhẹ vào cửa. Không có tiếng trả lời. Ngài gõ lại lần nữa, một bà lão bước ra và nói: “Những người được gọi là hành giả như các ông xin ăn rất nhiều và khi không có người ở nhà thì các ông xông vào và trộm cắp, đó chính là những gì ông đang dự định làm!”

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 998
  •  

    VÔ NIỆM CỦA LỤC TỔ HUỆ NĂNG
    Nguyễn Thế Đăng

     

    1. Tâm vô niệm

    Luận Đại thừa Khởi tín của ngài Mã Minh nói:

    “Thể của tâm lìa tất cả niệm, nghĩa là vốn vô niệm. Nó như hư không, không chỗ nào mà chẳng toàn khắp. Pháp giới Một tướng này tức là Pháp thân bình đẳng của chư Như Lai. Pháp thân này tất cả chúng sanh vốn có, nên gọi là Bản giác”.

    Luận nói tiếp:

    “Thế nên chúng sanh nào quán sát vô niệm thì chúng sanh đó đã hướng về Trí Phật”.

    Kinh Thắng Man, chương Tự tánh Thanh tịnh nói: “Như Lai tạng không có sanh không có tử. Như Lai tạng không có tướng hữu vi. Như Lai tạng thường trụ bất biến… Như Lai tạng là pháp giới tạng, là pháp thân tạng, là xuất thế gian thượng thượng tạng, là tự tánh thanh tịnh tạng. Như Lai tạng tự tánh vốn thanh tịnh, vọng tưởng phiền não chẳng thể nhiễm ô vì chúng chẳng thể xúc chạm”.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.224

Top Bài Viết

Top Music

Top Book Mp3

Top Music Album

 
© Copyright 2013 - 2019 PHATAM.ORG - Chịu trách nhiệm nội dung: Thị Đức bienman0811@yahoo.com - Hỗ trợ kỹ thuật votamthoai@gmail.com