HAI CHIỀU KÍCH CỦA MỘT TÂM GIẢI THOÁT. - TÁNH HẢI

Nói đến Phật giáo là nói đến giải thoát, và giải thoát là giải thoát cái gì? Như thế nào là giải thoát? Trong phạm vi bài viết này, chúng ta hãy lượt qua cái thấy giải thoát của Phật và các vị Tổ là như thế nào? Và chúng ta xem như thế nào mới thật sự chạm tới giải thoát?

 

1. Cái thấy của của Phật và Tổ trong Kinh:

 

Trước nhất ở phần thu về Như Lai Tạng trong Kinh Lăng Nghiêm như sau: “Anan, ông còn không biết rằng hết thảy các tướng huyễn hóa của tiền trần ngay nơi chỗ mà sanh ra, tùy theo chỗ mà diệt mất. Hư huyễn vì mê vọng nên nói là tướng, chứ thật tánh chúng là Diệu Giác Minh Thể. Như vậy, cho đến năm Ấm, sáu Nhập, mười hai Xứ và mười tám Giới đều là : - Nhân Duyên hòa hợp: in tuồng có sanh ra; - Nhân Duyên chia lìa: in tuồng diệt mất. Quyết chẳng biết rằng sanh, diệt, đến, đi vốn là Như Lai Tạng Tánh thường trụ, mầu sáng, bất động, tròn khắp, tánh diệu Chân Như. Trong Tánh Chân Thường ấy mà tìm cầu cho ra tướng đến, đi, mê, ngộ, sanh, tử rốt là không được”.

Phật nói tất cả chỉ là một Như Lai Tạng. Các tướng là do mê vọng chứ thật ra nó là Diệu Giác Minh Thể. Tức là, Tâm giải thoát thì trùm khắp không còn cái gì gọi là sinh diệt đến đi như cái thấy mê lầm của chúng ta.

 

Trong lý duyên khởi, Tánh không và duyên sinh là hai mặt của một Tâm. Chiều kích tánh Không là nói về chiều sâu của tâm thức là giải thoát là Không, còn chiều kích của duyên sinh hay hiện tượng xảy ra từ tánh Không là chiều hiện tượng biến hóa cùng khắp từ Tánh không. Giữa hai cấp độ: tuyệt đối là Tánh không và cấp độ tương đối là duyên sinh phải được nhận biết như là một tức là một vị của giác ngộ giải thoát.

 

Hay theo Bát Nhã Tâm Kinh, “Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc”.

       

             Trong Đại Ấn diễn tiến của một người tu để thâm nhập Đại Ấn theo thứ tự căn cơ của người bình thường là: đầu tiên thấy bản tánh của tâm an định, rồi kế đến là thấy bản tánh của tâm chuyển động. Rồi hành giả sống bằng cái thấy đó để dung hòa hai cấp độ tuyệt đối và tương đối của mọi mặt trong đời sống, tiến đến cái thấy một vị, và đến giai đoạn không thiền định. (Đại Ấn, Thiền xóa tan bóng tối của vô minh, Karmapa thứ IX Thiện Tri Thức 2001)

 

      Trong Pháp Bảo Đàn Kinh, bài kệ Tâm thông Thuyết thông Lục Tổ nói: “Phật pháp ở trong đời, chẳng lìa đời mà có. Lìa đời tìm Bồ Đề. Nào khác cầu sừng thỏ”.

 

Còn lời khai thị của ngài Padmasambhava (vị Tổ của Phật giáo Tây Tạng):

“Emaho!  Chính cái tâm đơn nhất trùm thông tất cả sanh tử và Niết bàn.

Dù bản tánh cố hữu của nó đã hiện hữu từ sơ thủy, con đã không nhận biết nó.

Dù sự trong sáng và hiện diện của nó là không dứt, con đã chưa gặp khuôn mặt của nó.

Dù sự sanh khởi của nó không bị che ám ở đâu cả, con vẫn chưa nắm hiểu nó.” (Trích trong Tự Giải Thoát Qua Thấy Trần Trụi. NXB Thiện Tri Thức)

 

Qua những đoạn trích trên ta thấy tâm giải thoát hay Pháp thân, có hai chiều kích rõ ràng: một chiều là giải thoát, lặng lẽ, là Không là bản thể còn một chiều là cùng khắp các tư tưởng, các hình tướng, các sự việc, hiện tượng. Giải thoát là thâm nhập được chiều sâu của tâm nhưng cũng biến khắp theo chiều rộng của Tâm.

 

 Hai chiều kích trên là một trong Tâm giải thoát.

 

2. Con đường thâm nhập của người tu để trở về cái thấy Giải thoát.

Cái thấy có hai chiều kích thì tham thiền phải kinh nghiệm được cả hai chiều kích trên. Chính hai phương diện của Pháp thân: một mặt là Không, giải thoát; một mặt là phô diễn thành tất cả các hiện tượng sống (ứng hóa thân). Ít người đi thẳng vào cái thấy trọn vẹn đủ cả hai mặt. Người tu thường có hai lối vào: tức trên phương diện tĩnh tại, hay trên mặt hiện tượng.

 

Về phương diện chứng thật pháp thân trong thiền định, hành giả tham thiền thoát khỏi tư tưởng tạo tác. Ngay khi tham thiền hoặc do tu hành miên mật trong nhiều ngày như tu theo khóa nhập thất dài ngày hoặc có một chương trình nổ lực nào đó của tự thân; nhờ có công phu trước đó cho nên trong cuộc sống sinh hoạt bình thường bỗng nhiên nhận ra được tâm giải thoát tức là trạng thái tâm không còn bị che chướng. Và có hành giả trong lúc tham thiền được nhất tâm cũng là bước đầu của cái thấy giải thoát.

 

Chúng ta thấy trường hợp nhận biết được tâm giải thoát ở đây rất là phổ biến với tất cả những người tu thiền. Giống như một trái cây đủ ngày đủ tháng, chín muồi rồi sẽ rụng; vì vậy trường hợp nhận ra cái thấy giải thoát này không có một hoàn cảnh nào cố định. Hốt nhiên rơi vào cái thấy đó và hành giả tự biết. Tự người tu có được niềm tin về chính mình. Sau cái thấy này phải nỗ lực tu học mạnh mẽ như tham thiền hoặc giữ gìn thời khóa tu hành hết sức mình mới có thể liên hệ hoặc duy trì cái thấy này; làm cho cái thấy này được tương tục. Nếu không nỗ lực tu, hành giả lại rơi trở lại cuộc sống bình thường như trước kia. Cái thấy chỉ là kinh nghiệm đã nhận biết để nói về nó, và việc tái lập lại cái thấy cũng rất khó khăn.

 

Nhưng đây chỉ là một phần của cái thấy, một phần của Pháp thân, muốn được viên mãn thì cơ sở là thiền định vốn có, phải mở rộng Tâm giải thoát ra các hiện tượng sống hằng ngày. Muốn như vậy thì mọi che chướng về mặt ngăn cách theo chiều kích này phải được giải tỏa mà lòng bi là yếu tố chủ lực. Từ thói quen tập trung thiền định. Hành giả phải chuyển sang hoạt động trong đời sống. Người tu phải tham dự mọi hoạt động từ phạm vi hẹp, dần dần đến phạm vi phức tạp hơn để mở rộng cái thấy theo chiều còn lại. Cái thấy ban đầu chỉ thiên về tĩnh tại, cái sau cần bổ sung là cái thấy quán chiếu hay huệ quán.

 

Có một ngã rẽ ở đây với người nhận ra cái thấy trong thiền định. Nếu hành giả chỉ một mực tham thiền về chiều sâu này của tâm thức, thì sẽ giải thoát nhưng đó thiên về giải thoát chỉ cho mỗi một mình. Chỉ có tâm giải thoát còn cảnh thì chưa. Hay nói cách khác chỉ có Ngã Không còn Pháp chưa Không. Nếu không có lòng từ bi nghĩ đến biết bao chúng sanh khác còn trong mê mờ thì hành giả chỉ tu giải thoát cho chỉ riêng mình và không có lòng bi thì khả năng mở rộng cái thấy ra chiều quán chiếu để làm cho cảnh giải thoát là chưa đủ căn cơ, chưa đủ yếu tố để có thể giải thoát được phần còn lại của tâm.

 

Phương diện thứ hai là trên mặt hiện tượng nhận biết được Tâm. Cái thấy này được các vị tổ Trung Hoa khai thị hay các vị guru Tây Tạng đưa cho đệ tử vào cái thấy giải thoát. Tây Tạng gọi là Ripa, còn thiền tông gọi là Kiến tánh. Sự khai thị của các ngài là nhằm vào Tâm giải thoát đang lưu xuất tức nó gồm đủ cả hai mặt như đã phân tích ở trên. Nhưng vì căn cơ của học nhân, khả năng thấu đáo sự việc, kinh nghiệm tu hành còn non kém; mà có khi người học chỉ nhận được tâm ở mức độ như trong Kinh Lăng Nghiêm Phật gọi là mặt trăng thứ hai. Tức cái thấy của Tâm nhưng chỉ trên bề mặt hiện tượng.

 

            Hành giả phải thật sự dè dặt trong nhận biết của mình về cái thấy trên mặt quán chiếu này. Vì một người tu nhận ra bản tâm mà thật sự nhận biết trên phương diện quán chiếu là rất hiếm, trong Đại Ấn có nói những hành giả mà thể nhận cái thấy trong trường hợp này là những người có căn cơ cao hay là những bậc tái sanh. Cũng Trong Tánh Giác Lộ Toàn Thân của Karma Chagmé, Thiện Tri Thức 2003, bốn yoga nói về quá trình nhận ra chân tánh và làm quen với nó diễn ra trong bốn yoga thì: yoga đầu nói về nhất tâm rồi yoga thứ hai mới thoát khỏi tạo tác ý niệm. (Tức cái thấy đủ cả hai mặt như phân tích ở trên). Trừ những hành giả được dìu dắt bởi một vị thầy để xác chứng cho cái thấy của mình đã nhận ra; còn như đã nói ở trên chỉ hiểu do tìm đọc hoặc nhận thức bằng ý thức phân biệt thì cái thấy chỉ là bề mặt nhưng nó cũng là cửa để vào với điều kiện người tu trong trường hợp này phải thường xuyên tỉnh thức trong cái thấy này. Đây là cách làm cho tư tưởng che chướng bị xem xét và cũng song song đó là luyện cho mình thói quen tỉnh thức. Nếu hành giả tu tập thuần thục và với công phu đó; theo thời gian tỉnh thức sẽ chuyển thành Tỉnh giác. Tức là khi không còn tác ý để duy trì sự tỉnh thức này mà bỗng nhiên tâm vẫn nhận biết rõ ràng mọi thứ từ góc độ Vô tâm; chứ không như trước, có chủ tâm, có tác ý.

 

3. Tham khảo thêm Ngữ lục.

Để rõ cái thấy này chúng ta hãy tham khảo qua một số lời khai thị hoặc sự chứng ngộ của các vị thiền sư:

 

Hòa thượng Hối Ðường dạy chúng: “Nếu người chỉ thấu rõ tự kỷ mà chưa ngộ cái trước mắt, người này như có mắt mà không có chân. Nếu ngộ được cái trước mắt mà chẳng thấu rõ tự kỷ, người này như có chân mà không có mắt. Hai người này, trong hai mươi bốn giờ thường có một vật ngăn trong lồng ngực. Vật đã ở trong ngực thì cái tướng bất an thường ở trước mắt. Ðã ở trước mắt thì gặp việc, thành ra bị kẹt, làm sao mà được an ổn?”  (Trích trong Kho Báu Nhà Thiền, sưu tầm Định Huệ).

 

      Sau đây là lời trò chuyện của thầy trò Qui Sơn và Ngưỡng Sơn:
      “Sư (Qui Sơn) cùng chúng đi hái trà. Sư bảo Huệ Tịch (Ngưỡng Sơn):

- Trọn ngày hái trà chỉ nghe tiếng con mà chẳng thấy hình con, hãy hiện Bản hình cho ta thấy coi.

Huệ Tịch liền đập cây trà.

Sư bảo: - Con chỉ được cái Dụng của nó, chẳng được cái Thể của nó.

Huệ Tịch thưa:

- Chưa biết Hòa thượng thế nào?

Sư im lặng. - Hòa thượng chỉ được cái Thể của nó, không được cái Dụng của nó.

- Cho con hai chục gậy”.

           

Hai chục gậy đó là dành cho chúng ta nếu hiểu rằng mỗi vị: Thầy được Thể, trò được Dụng. Các vị khéo bày để nhắn nhủ người đời sau; cái thấy phải đủ hai chiều kích.

 

Kế đến là hai bài kệ trình sở ngộ của thiền sư Trí Nhàn cho Ngưỡng Sơn nghe như sau: “Ngưỡng Sơn đến thăm Trí Nhàn, bảo:

- Hòa thượng khen ngợi Sư đệ đã phát minh đại sự, thử nói tôi nghe?

 

Sư tụng: (Năm xưa nghèo chưa thật nghèo

               Năm nay nghèo mới thật nghèo

               Năm xưa nghèo vẫn còn có đất cắm dùi

               Năm nay nghèo dùi cũng không.)

 

Ngưỡng Sơn bảo:

- Sư đệ ngộ Như Lai thiền mà chưa ngộ Tổ sư thiền.

Sư lại nói bài tụng:

                      Ta có một ki (cơ)

Chớp mắt chỉ y

Nếu người chẳng hội

Riêng gọi Sa-di.

Ngưỡng Sơn gật đầu và về thưa lại Qui Sơn:

- Đáng mừng! Sư đệ Trí Nhàn đã ngộ Tổ sư thiền.

 

Đừng để mắc kẹt vào cái bẫy của các vị về tên Tổ Sư Thiền hay Như Lai Thiền.

Xem? hai bài kệ đó có phải nói về một Tâm hay không?

   (Trích trong Thiền sư Trung Hoa, Hòa Thượng Thích Thanh Từ dịch)

 

          Tóm lại, như đã trích ở trên cái thấy giải thoát chỉ là Như Lai Tạng, hay Tánh không dù là hinh tướng gì cũng ở trong Tánh không, cũng là Như Lai Tạng. Vì thế, trên phương diện để đánh giá cái thấy là: không còn phân chia, không bị mắc trong ba thời quá khứ hiện tại vị lai hay tứ tướng ngã nhân chúng sanh thọ giả như trong Kinh Kim Cang thường nêu. Dù chạm được cái thấy trên phương diện thiền định hay phương diện quán chiếu gì cũng vậy, thực hư phải dựa trên cái Một, không có sự chứng nghiệm của người thấy và sự việc được chứng nghiệm. Tất cả là một không ngăn chia phân mảnh. Nhận ra cái thấy là cái đã sẵn có. Cái thấy phải luôn luôn tươi mới, không cản trở sự phóng chiếu của tâm thức mà là nền tảng của mọi phóng chiếu đó. Giải thoát phải luôn luôn đi kèm với lòng bi như một thuộc tính mới thật sự là cái thấy của Đại thừa.

            

            Như vậy là mới khởi đầu của việc tu hành. Người tu mới thật sự chạm tới giải thoát và từ đây phải theo một chương trình tu tập để làm cho cái thấy này sâu hơn rộng hơn viên mãn hơn. Các vị tổ Trung Hoa đã ở ẩn vài chục năm trên núi như Lục Tổ tám tháng giả gạo, mười năm với phường săn; quốc sư Huệ Trung trụ ở núi Bạch Nhai hơn bốn mươi năm; Thiền sư Triệu Châu mấy mươi năm tu trong chúng… hay như những bước tu nâng cấp trong Đại Ấn hoặc cái Thấy Thiền định và Hạnh trong Đại Toàn Thiện, (đây là giai đoạn thiền định trở đi); của pháp tu Ấn Tạng.

Tánh Hải -  những tháng Hạ năm 2014.

 

  • "Tibetan Meditation Instructions" là một bản văn cô đọng về Thiền Tây Tạng do Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đời 14 viết cho ấn bản điện tử của Tricycle, một tạp chí Phật Giáo tại Hoa Kỳ. Nơi đây, ngài nói về pháp thiền này là hãy để tâm vào trạng thái tự nhiên, và hãy quán sát tâm này - mà tâm là một thực thể, theo ngài, có tánh sáng và tánh biết, nơi đó bất kỳ những pháp gì, hiện tượng gì, sự kiện gì trong thế giới xuất hiện với chúng ta cũng đều qua nhận biết của thức. Khi ngồi, tóm gọn, chỉ để tâm thả lỏng tự nhiên và nhìn vào tâm này, dần dần sẽ thấy bản tánh của tâm.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 2.715
  • Mệnh vận của con người là do nghiệp lực chiêu cảm mà ra. Chúng ta không nên để bẩm chất, thói quen dắt dẫn mình, cũng đừng để dục vọng, vật chất làm mê mờ. Mình cần phải sáng tạo vận mệnh, lèo lái vận mạng. Muốn sửa đổi vận mạng thì phải làm cho nhiều việc công đức. Lúc ấy, khi bạn gặp nạn tự nhiên điều lành sẽ tới. Ðiều dữ sẽ biến thành điều kiết tường. Rằng: Hãy làm việc tốt, chớ hỏi sẽ được kết quả gì trong tương lai.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 2.137
  • Giới luật của Phật giáo có nghĩa là: “Anh đừng tự làm thương tổn mình, anh đừng tự làm hại mình”.

    1. Tự do của lệ thuộc và tự do của hỗn loạn

    Trong những tôn giáo độc thần, giới luật là những định luật vật lý và tâm lý được một Thượng Đế độc thần gài vào trong khi sáng tạo vũ trụ. Và vị Thượng Đế độc thần ấy ra lệnh cho con người – cũng do ngài tạo ra – phải tuân thủ những giới luật ấy, nếu không, trong ngày cánh chung hay tận thế, cũng chính vị ấy sẽ xét xử những ai phạm tội bất tuân những điều luật do vị ấy đặt ra và quẳng họ vào địa ngục đời đời.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.603
  • Bằng cách dần dần trở nên quen biết với bản tánh này, sẽ có được quán chiếu đích thực, nó đạt đến tột đỉnh với sự có được tự tin. Một khi đã có tự tin này, bạn chỉ đơn giản ở trong trạng thái đó và giữ gìn sự tự tin đó mà không thêm vào bất kỳ tạo tác nào. Bản tánh tối vi tế này không nhiễm ô bởi những lỗi lầm của sanh tử, thế nên chớ trộn lẫn nó với bất kỳ cái gì khác. Chớ cố gắng tìm kiếm cái gì khác để làm ; chỉ đơn giản ở trong sự tự tin đã đạt được. Hãy an trụ thường hằng trong trạng thái này và thỏa mãn với sự nhận biết đó.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.499
  • Ta cần phải thực tập cả hai phương cách, Thanh tịnh và Tỉnh giác, để đạt được những kết quả mà Thiền sẽ mang đến cho ta. Phần đông chúng ta đều muốn được an lạc. Ai cũng muốn được bình yên, muốn được có cảm giác vui sướng, mãn nguyện. Trong Thiền định, nếu ta thoáng bắt được cảm giác an lạc đó, ta sẽ hạnh phúc biết bao. Nhiều người đã thỏa mãn khi đạt được đến trình độ đó. Nhưng thanh tịnh không phải là mục đích của Thiền. Đó chỉ là phương tiện đưa đến cứu cánh. Thanh tịnh là phương tiện. Sự tỉnh giác trong nội tâm mới là cứu cánh. Phương tiện rất cần thiết nhưng không thể lầm lẫn chúng với cứu cánh. Nhưng vì phương tiện đó tạo ra sự thoải mái, dễ chịu, ta trở nên bám víu vào chúng.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.795
  •  bất cứ một trường học nào của các quốc gia trên thế giới cũng đều có dạy môn nầy. Ngày xưa tại Việt Nam ở bậc tiểu học có dạy môn: Công Dân Giáo Dục hay Đức Dục. Cứ mỗi sáng Thầy Cô giáo trước khi dò bài học sinh đều viết lên bảng đen một câu cách ngôn hay tục ngữ.

    Ví dụ:
    - Tiên học lễ, hậu học văn

    - Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây

    - Nhơn bất học bất tri lý, ngọc bất trác bất thành khí, ấu bất học lão hà vi?

    - Bầu ơi thương lấy bí cùng,
      Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn v.v...

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 2.132
  • Chúng ta sống nơi này, phút giây này nhưng vẫn ‘ly dị’ với nơi này phút giây này; tâm cứ nghĩ đến nơi khác, phút giây khác, một đời sống không thực vì đã qua hoặc chưa tới.

    Chỉ nói riêng ở Nhật Bản, trà đạo hay trà thiền là do Thiền sư Vinh Tây (1141-1215) chế tác ra, sau khi “du học” ở Trung Hoa và đem hạt giống về trồng. 

    Biến việc uống trà thành nghệ thuật, biến khu vườn thành tác phẩm nghệ thuật, biến thi ca, hội họa, bắn cung, võ thuật, múa, cắm hoa…thành nghệ thuật đã trở thành một lối sống kể từ khi Thiền trở thành một sức sống văn hóa để kết hợp với văn hóa của từng nước vùng Đông Á. Do đó mà có trà đạo, hoa đạo, võ đạo…

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.519
  • Các thói quen có hại và hành xử bất cẩn là nguyên nhân dẫn đến đau khổ. Nếu nỗ lực sống trọn vẹn, ta sẽ không bị rơi vào bẫy của những thói quen..Khi con ong đậu trên một bông hoa để hút mật nghĩa là nó đã bị hương hoa thu hút. Không nhận ra là màn đêm đang buông xuống, con ong bị mắc kẹt khi những cánh hoa từ từ khép lại. Là con người, ta cần sử dụng trí tuệ và mài giũa nhận thức của mình để các thói quen không trói buộc và cướp đi tự do của ta.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.493
  • Shri_SinghaĐại Toàn Thiện là nền tảng tối thượng chung của Sinh tử và Niết bàn - Hư không căn bản tối thượng . Trong đó có ba cách thái : Sinh tử , Niết bàn, và Con đường đều toàn thiện và viên mãn . Hiểu được bản tánh này như nó thực sự là . . . Đây là cái thấy ( Tri kiến hay Kiến giải ) . Đạt được sự thông thạo trong nền tảng vô thượng bổn nguyên nguyên sơ và không có thời gian . Bằng sự tự giác và mở rộng trong thực trạng hiện tiền của chính mình là : Thiền định tự do thoát khỏi mọi khuôn khổ quy chiếu cố định .

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.229
  • Theo lối giải thích của Phật giáo,tâm thức được cho là không hề bị trở ngại và cũng không có tính cách vật chất.Tất cả mọi tình tự cảm giác,mọi phiền não,mọi lỗi lầm của con người đều khởi nguồn từ những hành vi của tâm thức.Tuy nhiên,cũng vì bản chất cố hữu của tâm thức này mà con người có thể loại trừ tất cả những sai quấy và phiền  não ấy hầu mang lại một nền hòa bình vĩnh cửu và niềm an lạc thường hằng.Bởi vì ý thức là nền tảng của mọi hiện hữu và của sự giác ngộ nên còn có rất nhiều bài khảo thuyết uyên áo bàn luận về vấn đề này.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.253
  • 10 Thắng cảnh đẹp nhất Việt Nam trong mắt du khách quốc tế. 11Nói đến Phật giáo là nói đến giải thoát, và giải thoát là giải thoát cái gì? Như thế nào là giải thoát? Trong phạm vi bài viết này, chúng ta hãy lượt qua cái thấy giải thoát của Phật và các vị Tổ. Và chúng ta xem chúng ta tu như thế nào mới thật sự chạm tới giải thoát?

     

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.290
  • Không có gì như tình thương của bậc cha mẹ đối với con cái. Khi ta suy xét về lòng tốt mà cha mẹ ta đã biểu lộ với ta thì chúng ta nên suy tưởng rằng tất cả chúng sinh chịu đau khổ trong vòng sinh tử đã có lúc này hay lúc khác từng là những cha mẹ tốt lành và từ ái của chúng ta. Đây quả nhiên là nguyên nhân để sự phát khởi tự nhiên của lòng bi mẫn, là Bồ đề tâm, tràn trề trong chúng ta, Bồ đề tâm dâng tràn đối với tất cả chúng sinh, thậm chí đối với một con côn trùng bé xíu, con muỗi nhỏ bé nhất.Là các Phật tử, những hành giả Dzogchen, các bạn phải từ bỏ mọi hành vi làm hại bởi các bạn phải nhận ra rằng tất cả chúng sinh đã từng là những cha mẹ của các bạn. Nhận thức đó phải hiện diện trong tâm các bạn. Các bạn cần cảm nhận lòng thương yêu hơn nữa đối với chúng sinh đang ở trong tình huống khó khăn và kém may mắn hơn các bạn và nỗ lực trong khả năng tốt nhất của các bạn để làm lợi lạc cho họ.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.296
  • Có lần bật tivi: hình ảnh sông nước trời mây miền Tây thu hút mắt tôi, và có hai người nhạc sĩ, một thổi kèn saxo, một chơi guitare, đang trình diễn một bài nhạc về quê hương. Coi ít phút cảnh sông nước bao la, tôi đứng dậy, định tắt, vì hai chàng nhạc sĩ đã đứng tuổi, vóc dáng chẳng hấp dẫn gì cho lắm, mặc dù có khi người thổi kèn đứng hẳn trong nước. Ngay lúc đó, tôi thấy mình không trân trọng công sức của những người tạo ra chương trình này. Rồi tôi tiếp tục xem thêm một bài nữa mới tắt.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.275
  • Có một số câu hỏi đã được nêu lên để hỏi Đức Phật, nhưng Ngài không trả lời vì đó là những câu hỏi đặt sai và vô ích. Bám víu vào những câu hỏi ấy bằng những biện luận thuần lý sẽ rơi vào cạm bẫy của sự hiểu biết quy ước, công thức và nhị nguyên. Cạm bẫy ấy sẽ đưa đến tranh luận vô tận và thắc mắc tiếp nối nhau, đánh lạc hướng sự tu tập. Nhiều vị thầy sống đồng thời với Đức Phật, tức là vào thế kỷ thứ VI trước Tây lịch, đã từng chủ xướng nhiều chủ thuyết trong lãnh vực triết học siêu hình. Nhưng Đức Phật đã che chở cho các đệ tử của Ngài tránh khỏi những cạm bẫy ấy, không phải bằng cách cấm đoán, bằng biện luận hay giải thích, nhưng bằng sự yên lặng. Có tất cả 14 câu hỏi đại loại như sau mà Phật không giải đáp.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.584
  •  

     Vì hay đồng hóa bản thân với đủ mọi cảm xúc, tư tưởng, thiên kiến và định kiến nên chúng ta không còn chỗ cho chính mình để có thể nhìn mọi thứ một cách chân xác trong mọi hoàn cảnh. Đắm chìm trong "vũng lầy" vô minh ấy, ta thường có những lựa chọn sai lầm trong hầu hết mọi tình huống. Giống như bị quăng quật, quay cuồng giữa cơn bão biển, cuộc sống cũng tương tự vậy, chúng ta phải học cách giữ định tâm giữa những bão tố của đời thường. Cách tốt nhất là tỉnh thức và rộng mở tâm hồn đón nhận khoảnh khắc hiện tại. Như vậy được gọi là chính niệm. Bậc Đại thành tựu giả Milarepa từng nói rằng càng trải qua bão tố thăng trầm của hạnh phúc và khổ đau, càng có cơ hội tu tập và thành tựu giác ngộ trong cuộc đời.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.643
  • Hạnh phúc chân thật trong cuộc sống bắt đầu có được khi bạn bắt đầu thương yêu chăm sóc mọi người.

    http://2.bp.blogspot.com/-4wXY-CC0Y68/UfE1bAMhdII/AAAAAAAAUF8/bx5XJH-IjLU/s1600/lamazopa.jpgTƯ TƯỞNG BỒ ĐỀ TÂM thật vĩ đại không gì so sánh nổi. Bồ Đề Tâm làm nên mọi sự và khiến cho mọi người ưa thích, hài lòng. Bồ đề tâm đích thực là điều mà ta quan tâm trong cuộc sống này. Ngoài ra, bất cứ cái gì khác đều vô nghĩa, trống rỗng, vô ích.Hạnh phúc chân thật và sự mãn nguyện chân thật sẽ xuất hiện khi bạn bắt đầu sống một cuộc sống vì người khác. Bạn nhập thất ẩn tu vì người, làm việc ở cơ quan cho người, nấu ăn cho người. Khi thái độ của bạn thay đổi nhằm để làm mọi việc, vì người khác, giúp dẹp bỏ khổ đau và tích luỹ hạnh phúc cho họ, lúc đó bạn sẽ có được sự mãn nguyện và bình an chân thật trong tâm.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.130
  • ss

    Đây là một cái nhìn sơ lược tổng quát về Bốn Yoga. Tính chất định nghĩa của yoga thứ nhất, nhất tâm, là nhận biết bản tánh của tâm bạn. Hơn nữa, bạn chứng ngộ rằng những xuất hiện không là gì khác hơn bản tánh của tâm bạn, và bản tánh ấy giống như sự trống không của không gian. Yoga thứ hai thoát khỏi tạo tác ý niệm, gồm nhận biết rằng mọi xuất hiện là giả hợp ; bạn chứng ngộ rằng bản tánh thật sự của tâm là trống không và thoát khỏi mọi tạo tác ý niệm. Thứ ba, trong yoga của một vị, bạn nhận biết rằng sanh tử và niết bàn đồng một bản tánh, nó là chìa khóa để đạt đến giác ngộ. Trong yoga thứ tư, yoga của không-thiền định, bạn nhận biết rằng toàn bộ sanh tử và niết bàn vốn là không sanh, không trụ và không diệt. Nhị nguyên căn bản nhất của chủ thể và đối tượng vốn là không có nền tảng và là một bản tánh, Pháp thân.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.907
    1. Khi vị tăng Trí Thông hỏi về Bốn Trí, Lục tổ nói bài kệ:

    Đại viên cảnh trí: tánh thanh tịnh
    Bình đẳng tánh trí: tâm không bệnh
    Diệu quan sát trí: thấy chẳng công
    Thành sở tác trí: đồng viên cảnh
    Năm, tám, sáu, bảy quả nhân chuyển
    Chỉ dùng danh ngôn không thật tánh
    Nếu nơi chỗ chuyển chẳng lưu tình
    Rộn ràng vẫn mãi Na-già định.

    “Đại viên cảnh trí: tánh thanh tịnh”. Đại viên cảnh trí là trí như tấm gương lớn tròn sáng. Đây là bản tâm Phật tánh, hay nói theo Lục tổ, là tự tánh mà mỗi chúng sanh đều có. Ở chúng sanh, tấm gương tâm ấy bị nhiễm ô, chứa tất cả những kinh nghiệm của chúng sanh, như gương chứa tất cả hình bóng, và những hình bóng ấy che khuất tấm gương. Còn ở người giải thoát thì vẫn là tấm gương ấy nhưng chẳng bị các bóng làm nhiễm ô, các bóng chẳng “lưu tình”, nên gương vẫn hằng sáng, hằng “vẫn mãi Na-già định”.


    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 2.082
  • Nói chung, mọi hiện tượng do duyên đều vô thường và đặc biệt đời sống của chúng sanh hữu tình thì vô thường như bọt nước. Con không bao giờ biết khi nào con sẽ chết. Không chắc chắn con sẽ không chết ngay bây giờ. Hơn nữa, vào lúc chết không có gì cứu giúp con được ngoại trừ Pháp. Nếu con làm việc cho những việc vô nghĩa của thế gian, con sẽ không thể vượt khỏi những nguyên nhân tạo ra khổ đau. Thế nên con hãy phát nguyện rằng bất cứ khi nào tâm con lang thang dù chỉ một khoảnh khắc theo những tư tưởng về thức ăn, y phục v.v... cho cuộc đời này, thì con sẽ nghĩ về cái chết.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 2.816
  •  Chúng ta thường nghe những câu nói như : “Chết là lúc nói sự thật” , hay “Chết là thời điểm ta đối mặt với chính ta”. Như ta đã thấy những người qua kinh nghiệm cận tử đôi khi kể lại rằng họ chứng kiến cả cuộc đời họ quay lại trước mắt, và họ được hỏi những câu như : “Ngươi đã làm gì với cuộc đời ngươi ? Ngươi đã làm gì cho người khác ?” . Tất cả những chuyện này ám chỉ một điều duy nhất rằng : khi chết, ta không thể tránh thoát đối diện với sự thật ta là ai, ta là gì ? Dù ta muốn hay không, bản chất thực của ta cũng hiển lộ. Nhưng điều quan trọng cần biết là có hai khía cạnh con người của ta hiển lộ vào lúc chết : bản chất tuyệt đối của ta và bản chất tương đối - ta hiện tại như thế nào, và đã như thế nào, trong cuộc đời.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.210

Top Bài Viết

Top Music

Top Book Mp3

Top Music Album

 
© Copyright 2013 - 2019 PHATAM.ORG - Chịu trách nhiệm nội dung: Thị Đức bienman0811@yahoo.com - Hỗ trợ kỹ thuật votamthoai@gmail.com