Con đường Bồ Tát và xã hội hiện đại - Nguyễn Thế Đăng

  I. Ý nghĩa Bồ tát

Bồ tát, từ người mới bắt đầu (sơ phát tâm) cho đến những vị đã nhiều đời sống theo hạnh Bồ tát (Đại Bồ tát) đều có một hướng đi rõ rệt: nỗ lực sống giải thoát và giác ngộ bằng chính cuộc đời mình và dùng cuộc đời đó để giúp đỡ những người khác giải thoát và giác ngộ, và hơn nữa, chính trong nỗ lực giúp đỡ những người khác giải thoát và giác ngộ mà vị ấy giải thoát và giác ngộ. Như vậy, Bồ tát có hai công việc chính:  

          - Tự mình giải thoát và giác ngộ, đây là công việc của trí tuệ soi thấy tánh không hay vô tự tánh của tất cả các hiện tượng (các pháp), của tất cả không gian và thời gian. Công việc này được gọi là tích tập trí tuệ.

          - Phụng sự chúng sinh (để họ giải thoát và giác ngộ), đây là công việc của lòng đại bi. Sở dĩ gọi là “đại”, bởi vì đó không phải là công việc của một đời mà là công việc của một số đời bằng số đời của tất cả chúng sinh, công việc của một đời sống “không bỏ chúng sinh” và do đó mà “không sợ sinh tử luân hồi”. Phụng sự, làm lợi lạc cho chúng sinh trải qua nhiều đời, trong mọi mặt, công việc này được gọi là tích tập phước đức. Và cũng vì điều này Bồ tát được gọi là “Anh hùng”.

 

          Bởi vậy, Phật (lý tưởng đạt đến của Bồ tát), bậc thành tựu tất cả mọi khả năng có thể có của một con người, được gọi là Lưỡng Túc Tôn, bậc đã thành tựu viên mãn hai sự tích tập trí tuệ (tự giác) và sự tích tập phước đức phụng sự chúng sinh (giác tha), nghĩa là bậc Trí và Bi trọn vẹn. Cũng do sự tích tập phước đức mà một vị Phật có Sắc thân với đủ 32 tướng tốt, và do sự tích tập trí tuệ vị ấy có Pháp thân, sự giải thoát tự do rốt ráo, đồng nhất giữa tất cả những vị Phật.

 

          Bồ tát là một đời sống hòa hợp được hai cái mâu thuẫn: một mặt nỗ lực giải thoát khỏi sinh tử, mặt khác không lìa bỏ sinh tử. Giải thoát sinh tử bằng tánh không (sự thật vô ngã và vô pháp) đồng thời không bỏ sinh tử vì lòng đại bi. Như thế, trên con đường Bồ tát cuối cùng hai cái tưởng chừng như mâu thuẫn tánh không và đại bi trở thành một, bất khả phân và Bồ tát hòa hợp được hai phương diện mâu thuẫn này là nhờ phương tiện thiện xảo. Nhưng cũng chính từ phương tiện thiện xảo này, với một trí tuệ sâu sắc và một lòng bi bao la, Bồ tát thấy được ý nghĩa của sinh tử. Sinh tử không phải là cái gì đáng ghét và ghê gớm như một đống rác hôi hám nên vứt ra ngoài càng sớm càng tốt, mà rác cũng có cái ích lợi của nó; đây là mặt tích cực của sinh tử trên con đường thành Phật. Cũng do đó mà Bồ tát có sự nhớ ơn đối với sinh tử, với chúng sinh, và trong hạnh Bồ tát có bao hàm phần nào sự nhớ ơn đó:

          “Nếu thấy cái Vô vi (vô sinh, tánh không, Niết bàn) mà nhập chánh vị thì không còn có thể phát tâm vô thượng Bồ đề được nữa. Tuy nhiên, người sống giữa những cái hữu vi, trong những nẻo phiền não, dù chưa thấy chân lý rốt ráo, cũng có thể thật sự phát tâm Bồ đề.

          Ví như chỗ đất cao không thể sinh hoa sen. Nơi bùn lầy ẩm thấp mới sinh hoa ấy. Như vậy thấy pháp vô vi rồi nhập chánh vị rốt cuộc chẳng còn sinh được những phẩm tính Phật. Trong bùn lầy phiền não mới có chúng sinh khởi sinh những phẩm tính Phật. Lại như gieo hạt giống giữa không trung, rốt cuộc chẳng sinh được, ở đất phân bùn mới tốt tươi... Thế nên phải biết: Hết thảy phiền não là hạt giống Như Lai. Ví như không lặn xuống biển cả thì không thể được ngọc quý vô giá, cũng vậy không vào biển cả phiền não thì không thể được Nhất Thiết Trí vô giá (Kinh Duy Ma Cật – phẩm Phật đạo).

 

          Ở mức độ bình thường của con người, có thể nói rằng Bồ tát là người bên trong thì hiểu và thâm nhập tánh không, an trụ trong tánh không, bên ngoài thì hoạt động trong thế giới hiện tượng. Bồ tát là người sống trong thế giới sai biệt, nhưng trong tâm thì tương ưng với tánh không, do đó mà không phân biệt, không động, như kinh Duy Ma Cật diễn tả:

          Hay khéo phân biệt tướng các pháp (Mà) nơi đệ nhất nghĩa (tánh không, pháp tánh) thường không động. 

          Chúng ta thấy trong lịch sử Phật giáo Việt Nam có những gương mặt tiêu biểu rõ nét cho sự nhập thế tích cực đồng thời tâm thức rất giải thóat như Thái sư Khuông Việt, các Thiền sư Vạn Hạnh, Trần Nhân Tông, Thiền sư Hương Hải... chúng ta cũng thấy cuốn kinh được dịch đầu tiên ở nước ta là Lục Độ Tập Kinh (theo sự khảo cứu của học giả Lê Mạnh Thát), một kinh điển nói về hạnh Bồ tát (Lục độ). Có lẽ vì thế mà động lực của dòng chảy Phật giáo Việt Nam là con đường Bồ tát chăng? Và một vị chỉ mới cách đây 40 năm mà chúng ta tôn vinh là Bồ tát Quảng Đức, khi ngài tự thiêu để bảo vệ Phật pháp, hình ảnh ngài ngồi trong lửa mà nét mặt vẫn bình thản, nếu không nói là vui tươi, đã dạy cho chúng ta ít nhiều về Bồ tát: ngồi trong biển lửa sinh tử mà vẫn an trụ trong lòng pháp tánh (hay tánh không) nên vẫn điềm nhiên bất động. Hình ảnh của ngài đúng như hai câu thơ của Thiền sư Ngộ Ấn ở thế kỷ XI  

Trên non ngọc cháy màu thường thắm  

Lò lửa hoa sen nở vẫn tươi

 

(Xem thêm Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận) 

          II. Tính cách của Bồ tát 

          Dĩ nhiên chúng ta không thể nào nói hết những phẩm tính của Bồ tát, bởi vì trong quá trình tiến hóa qua nhiều kiếp sống, những đức tính nào con người có thể có, đều được khai triển đến mức hoàn hảo nơi một Bồ tát. Ở đây chúng ta chỉ nêu lên vài tính cách của Bồ tát phù hợp với ngữ cảnh của bài này:

 

          1. Lạc quan không bờ bến. Con đường Bồ tát có thể gian khổ, nhưng con đường đó đặt trên một nền tảng: tôi và tất cả chúng sinh đều có Phật tính, đều sẽ đạt dến mức toàn thiện và toàn diện nhất, tức là thành Phật. Do đó, mọi tương quan tôi có với người này người nọ, dù tốt dù xấu, dù thuận dù nghịch, đều là tương quan của những vị Phật sẽ thành, tương quan tác thành cho nhau giúp nhau thành Phật. Mỗi người là một hoa sen, bởi thế tương quan giữa những con người là tương quan của những vị Phật sẽ thành. Như thế toàn bộ đời sống là một sự “sẽ thành Phật” bao la, rộng khắp, tất cả đều được chuyển hóa trong sự việc “đều sẽ thành Phật” này. Và đây là một nguồn lạc quan không bờ bến của một người theo hạnh Bồ tát.

 

          2. Giúp đỡ và chia xẻ. Bồ tát là người muốn giúp đỡ và chia xẻ với người khác. Thậm chí giải thoát là cái vô hình vô tướng, hầu như không chia xẻ được, vậy mà Bồ tát cũng muốn chia xẻ với mọi người. Bồ tát đạt giải thoát là để chia xẻ với mọi người. Và như vậy giác ngộ trở thành cái gì chung như kinh điển thường nói: “Như thế đến hai muôn Đức Phật đều đồng một tên hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh, lại cùng đồng một họ Phả La Đọa” (kinh Pháp Hoa). Bồ tát không những muốn chia xẻ giải thoát với chúng sinh, mà còn chia xẻ cùng với chúng sinh sự khổ đau, những vấn nạn, cả cuộc sinh tử của chúng sinh. Sự giúp đỡ và chia xẻ này sâu rộng đến mức tột độ thì như Bồ tát Quán Thế Âm: “Trên hợp với Bản Giác Diệu Tâm của mười phương chư Phật, dưới hợp với tất cả chúng sinh trong sáu nẻo, cùng với các chúng sinh đồng một Bi ngưỡng” (Kinh Lăng Nghiêm).

 

          3. Bồ đề tâm. Hiểu đơn giản, Bồ đề tâm là ý nguyện giải thoát và giác ngộ, đồng thời giúp cho người khác giải thoát và giác ngộ. Nói tóm, đó là phụng sự chúng sinh bằng Phật pháp. Đó là cốt lõi mà mọi hành động, mọi ý nghĩ, mọi biến cố trong cuộc đời một Bồ tát quay quanh. Thiết lập cuộc đời trên Bồ đề tâm, lý tưởng của mình, đời một con người thôi lao đao nghiêng ngã, thôi dật dờ phiêu bạt, và trong một mức độ nào, nó đã liên kết được cuộc đời nó với tất cả những cuộc đời của những bậc đã đi trước mình, đã vững vàng và làm được những Phật sự rộng lớn bao la, nói cách khác, theo kinh Hoa Nghiêm, nó đã đặt cuộc đời bèo bọt của nó vào trong “biển đại nguyện” thường trụ của chư đại Bồ tát và chư Phật.

 

          4. Chuyển hóa những khó khăn, trở ngại, thất bại, khổ đau thành chính con đường giải thoát. Bồ tát làm được điều này nhờ phương tiện thiện xảo.

          III. Con đường Bồ tát và xã hội hiện đại. 

          Thật ra đạo Bồ tát hay hạnh Bồ tát không phải là cái gì xa lạ quá với con người bình thường – giúp đỡ và chia xẻ thì có gì là lạ lùng với cuộc sống bình thường? Từ khi sống trong nhóm bộ lạc cho đến những hình thái xã hội ngày nay, con người luôn luôn thấy trách nhiệm của mình với người khác, luôn luôn gắn liền sự tiến hóa của bản thân mình với sự tiến hóa của cộng đồng. Trong những kinh điển nói về hạnh nguyện Bồ tát, từ ngữ “quyến thuộc của Bồ tát” thường được nhắc đến nhiều. Ngay cả một thực tại cao siêu như đại bi, thì đó cũng là sự khai triển đến mức cùng tột của cái mà chúng ta thường nói hàng ngày là “tình người”. Như vậy, những gì đạo Phật chỉ dạy không phải là một lý thuyết xa lạ được gán ghép một cách giả tạo vào số phận con người, mà trái lại, nó là một số phận tất yếu, con đường tiến hóa tất yếu mà con người phải trải qua, như những đại Bồ tát và những vị Phật là những người tiến hóa, đi trước chúng ta.

 

          Tích tập phước đức đơn giản là làm lợi ích cho một ai đó. Như vậy tích tập phước đức chỉ có trong tương quan. Và trong xã hội ngày nay nhờ giao thông, thông tin... những tương quan giữa người và người càng trở nên phong phú, đa dạng, mở rộng trên toàn thế giới. Ngay trong việc kiếm sống hàng ngày, trồng lúa gạo, cây trái, hay sản xuất trong nhà máy, phẩm vật đó sẽ đi đến một tỉnh nào hay nước nào trên thế giới. Vậy thì trong việc làm hàng ngày này, bằng sự nghĩ đến lợi ích cho người khác, thêm vào một chút tình thương và lòng bi, thêm vào sự không chấp thủ ta và cái của ta (tích tập trí tuệ: không trụ vào sắc thanh hương vị xúc pháp mà bố thí), chúng ta đã làm một công việc Bồ tát, đó là sự tích tập phước đức và trí tuệ. Và trong đó có niềm vui của phụng sự, niềm vui của tình thương, niềm vui của sự không chấp thủ, niềm vui của con đường Bồ tát.

 

          Trong kinh điển, chúng ta thấy có Bồ tát làm cầu đường, làm nghề dược, nghề y... như kinh Hoa Nghiêm, phẩm “Thập Địa” nói: “Đại Bồ tát này vì lợi ích chúng sinh nên học tập đủ tất cả kỹ nghệ thế gian, thông đạt văn tự, toán số, ấn loát. Lại giỏi những thứ văn bút, tán vịnh, ca vũ, kỷ nhạc, diểu cười, đàm luận. Biết rành cách thức kiến trúc, hầm mỏ... tất cả các việc thế gian khác”. Như thế, tất cả mọi người, trong tất cả lĩnh vực đều đã sẵn sàng ở trên mặt bằng của sự tích tập phước đức, chỉ cần thêm vào đó một phần “tinh thần Bồ tát” là công việc ấy trở thành một phần của đạo Bồ tát. Với trí tuệ và lòng bi, công việc hàng ngày trở thành phương tiện thiện xảo để thực hành đạo Bồ tát. Và với trí tuệ và lòng bi, nghề nghiệp và tài năng của một người trở thành phương tiện để phụng sự, và như vậy được phát triển, nâng cấp trong sự mở rộng thay vì dính mắc vào đó (dính mắc nào cũng gây ra khổ đau), và vì không dính mắc, không chấp chặt, mà chính nghề nghiệp ấy có không gian hoạt động rộng hơn, cái nhìn sáng tạo hơn. Từ đó chúng ta thấy rằng nghề nghiệp, tài năng, công việc, đức tính trở thành “hạnh” như những Bồ tát và những vị Phật đã thành tựu qua hạnh của các ngài, như danh hiệu của ngài đã diễn tả: “Lắng nghe âm thanh cuộc đời” (Bồ tát Quan Thế Âm), “Thiện ý” (Phật Thiện Ý – trong Nghi thức sám hối), những Bồ tát Địa Tạng, Phổ Nhãn, Vô Tận Tạng... những vị Phật Dược Sư, Phật Từ Tạng, Phật Vô Lượng Quang...

 

          Theo những kinh điển Đại thừa, thế giới là tánh không, và do đó thế giới là sự tương tác lẫn nhau một cách vô ngại của tất cả mọi hiện tượng. Như vậy, thân khẩu ý của một người có tham dự – dù cố ý hay vô tình, biết – hay không biết – với thế giới. Chính từ cái nhìn như vậy mà chúng ta thấy rằng mỗi người, với thân khẩu ý của mình, đều chịu trách nhiệm với tất cả thế giới, với tất cả những gì xảy ra trong thế giới. Mỗi chúng ta đều có trách nhiệm với toàn bộ thế giới, chúng ta bắt đầu sống trong con đường Bồ tát.

 

          Nhìn vào xã hội ngày nay, chúng ta thấy có sự đan xen nhiều lĩnh vực vào trong một lĩnh vực. Một biến cố nào ở một phần nào của thế giới đều ảnh hưởng lên tất cả thế giới. Mỗi người trở nên “quốc tế” hơn, tham gia vào mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, nghĩa là toàn bộ đời sống của thế giới. Dĩ nhiên đó chỉ là cái nhìn trên bề mặt hiện tượng. Nhưng tính cách đan xen tương tác này cũng khiến chúng ta nghĩ đến tính cách trùng trùng duyên khởi vô tận của pháp giới của các đại Bồ tát; đó cũng là môi trường sinh hoạt của các ngài. Ít ra dù chỉ trên mặt hiện tượng, chúng ta cũng phần nào cảm nhận ra tính cách đan xen, tương tác lẫn nhau, tính cách “xã hội hóa”, “toàn cầu hóa”, nghĩa là tính cách mở rộng mọi mặt của cuộc sống bình thường của chúng ta. Và trước sự mở rộng ra của thế giới, chúng ta cảm thấy tâm thức chúng ta cũng cần mở rộng ra, để ôm lấy thế giới, trong chiều rộng cũng như chiều sâu, bằng ánh sáng của trí tuệ và sự sống động ẩn mật của lòng bi. Và phải chăng ôm trọn toàn bộ đời sống bằng trí tuệ và lòng bi như vậy chính là sự an vui, ý nghĩa của con đường Bồ tát?

 

          Tất cả đời sống con người đang được đa dạng hóa, toàn cầu hóa. Chúng ta cũng thấy toàn cầu hóa không phải là một nền kinh tế áp đặt luật lệ của mình lên những nền kinh tế khác và không chỉ riêng về mặt kinh tế. Xã hội hóa, toàn cầu hóa là sự tương thông lẫn nhau, chia xẻ với nhau những mặt vật chất và tinh thần, chia xẻ với nhau sự sống vốn hàm chứa nhiều ý nghĩa bí mật. Đó là một quá trình mở rộng phạm vi tâm thức, mở rộng giới hạn cuộc sống của mỗi chúng ta. Trong một thế giới đan xen lẫn nhau, tương tác hỗ tương lẫn nhau như vậy, nếu chúng ta biết mở rộng tâm thức để nhìn, để thấy, để sống thì có lẽ cuộc sống hiện đại là một môi trường – đầy nguy hiểm đồng thời cũng đầy cơ hội – để chúng ta khám phá ra một thế giới rộng lớn hơn (pháp giới) và những gì là lớn, là đại: đại trí, đại bi, đại hạnh... Sự khám phá bằng cách mở rộng tâm thức, làm cho tâm thức thêm tinh tế này sẽ đưa chúng ta bước vào một đời sống sâu rộng hơn, bao trùm hơn, mầu nhiệm hơn, đó chính là ý nghĩa cuộc đời Bồ tát.

 

          Như vậy, đạo Phật giúp chúng ta nâng cấp những tương quan, nhìn thấy ý nghĩa, nội dung chân thật của những tương quan để càng lúc càng đi sâu vào thế giới trùng trùng những tương quan vô tận mà đạo Phật gọi là pháp giới, môi trường sinh hoạt bình thường của những Bồ tát. Đó là đời sống của kinh Hoa Nghiêm: một thế giới trong đó cái Một tương quan với Tất cả và Tất cả tương quan với Một, pháp giới duyên khởi trùng trùng vô tận, pháp giới của sự tương quan vô ngại của Một với Tất cả, Tất cả với Một, và Tất cả với Tất cả.

 

          Tóm lại, qua vài phân tích sơ bộ và hẳn có nhiều thiếu sót, chúng ta có thể thấy rằng con đường Bồ tát, con đường dẫn tới sự thành tựu trọn vẹn mọi mặt của con người (con đường thành tựu giác ngộ), không phải là cái gì xa lạ và giả tạo do từ bên ngoài bản thân chúng ta, mà là một cái gì rất gần gũi, rất thân thiết, khai triển từ chính chiều sâu của mỗi chúng ta, nằm trong chính cuộc sống hàng ngày của chúng ta.

  • "Tibetan Meditation Instructions" là một bản văn cô đọng về Thiền Tây Tạng do Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đời 14 viết cho ấn bản điện tử của Tricycle, một tạp chí Phật Giáo tại Hoa Kỳ. Nơi đây, ngài nói về pháp thiền này là hãy để tâm vào trạng thái tự nhiên, và hãy quán sát tâm này - mà tâm là một thực thể, theo ngài, có tánh sáng và tánh biết, nơi đó bất kỳ những pháp gì, hiện tượng gì, sự kiện gì trong thế giới xuất hiện với chúng ta cũng đều qua nhận biết của thức. Khi ngồi, tóm gọn, chỉ để tâm thả lỏng tự nhiên và nhìn vào tâm này, dần dần sẽ thấy bản tánh của tâm.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 2.716
  • Các thói quen có hại và hành xử bất cẩn là nguyên nhân dẫn đến đau khổ. Nếu nỗ lực sống trọn vẹn, ta sẽ không bị rơi vào bẫy của những thói quen..Khi con ong đậu trên một bông hoa để hút mật nghĩa là nó đã bị hương hoa thu hút. Không nhận ra là màn đêm đang buông xuống, con ong bị mắc kẹt khi những cánh hoa từ từ khép lại. Là con người, ta cần sử dụng trí tuệ và mài giũa nhận thức của mình để các thói quen không trói buộc và cướp đi tự do của ta.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.493
  • Có lần bật tivi: hình ảnh sông nước trời mây miền Tây thu hút mắt tôi, và có hai người nhạc sĩ, một thổi kèn saxo, một chơi guitare, đang trình diễn một bài nhạc về quê hương. Coi ít phút cảnh sông nước bao la, tôi đứng dậy, định tắt, vì hai chàng nhạc sĩ đã đứng tuổi, vóc dáng chẳng hấp dẫn gì cho lắm, mặc dù có khi người thổi kèn đứng hẳn trong nước. Ngay lúc đó, tôi thấy mình không trân trọng công sức của những người tạo ra chương trình này. Rồi tôi tiếp tục xem thêm một bài nữa mới tắt.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.275
  • Hạnh phúc chân thật trong cuộc sống bắt đầu có được khi bạn bắt đầu thương yêu chăm sóc mọi người.

    http://2.bp.blogspot.com/-4wXY-CC0Y68/UfE1bAMhdII/AAAAAAAAUF8/bx5XJH-IjLU/s1600/lamazopa.jpgTƯ TƯỞNG BỒ ĐỀ TÂM thật vĩ đại không gì so sánh nổi. Bồ Đề Tâm làm nên mọi sự và khiến cho mọi người ưa thích, hài lòng. Bồ đề tâm đích thực là điều mà ta quan tâm trong cuộc sống này. Ngoài ra, bất cứ cái gì khác đều vô nghĩa, trống rỗng, vô ích.Hạnh phúc chân thật và sự mãn nguyện chân thật sẽ xuất hiện khi bạn bắt đầu sống một cuộc sống vì người khác. Bạn nhập thất ẩn tu vì người, làm việc ở cơ quan cho người, nấu ăn cho người. Khi thái độ của bạn thay đổi nhằm để làm mọi việc, vì người khác, giúp dẹp bỏ khổ đau và tích luỹ hạnh phúc cho họ, lúc đó bạn sẽ có được sự mãn nguyện và bình an chân thật trong tâm.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.131
  • Bất cứ ai muốn vượt qua biển sanh tử không bờ bến trước phải nghĩ đến nỗ lực ngay trong đời này để thành tựu an lạc như là biểu lộ của giải thoát. Một thân người, khó được dễ mất, là một chiếc bè với những quyền hạn tự do và những khả năng (để nghiên cứu và thực hành Pháp). Có được thân người, nếu bạn không tự nỗ lực, bạn sẽ không bao giờ thoát khỏi đại dương sanh tử. Bạn sẽ không bao giờ ngưng được dòng nhiều kiếp khổ đau. Bạn sẽ lắc lư trôi nổi trong đại dương đáng sợ, không thể chịu đựng, nơi những ngọn sóng mê lầm vươn đến  cõi cao nhất, bọt của bệnh tật và tuổi già văng tung tóe khắp nơi và không thể thấy ở đâu dòng sanh và tử chấm dứt.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 810
  • Châm ngôn “Hãy biết ơn mọi người” tự động đi theo một khi chúng ta hướng mọi trách móc vào mình. Chúng ta có một cảm giác rằng nếu những người khác không hiện hữu để quấy rối chúng ta, chúng ta sẽ không hướng mọi trách móc vào chính chúng ta chút nào. Tất cả chúng sanh, tất cả người trong thế giới, hay đa số đó, có một vấn đề trong liên hệ với “chính tôi”. Không có những người khác, chúng ta sẽ không có dịp may nào để phát triển vượt khỏi cái ta. Thế nên ý tưởng ở đây là cảm thấy biết ơn rằng những người khác đang trình diện cho chúng ta những chướng ngại to lớn – thậm chí những đe dọa hay thách thức. Điểm cốt yếu là cảm kích điều đó. Không có họ chúng ta không thể theo đuổi con đường tí nào.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 2.255
  • Chúng ta có thể học Giáo Pháp trong thiên nhiên, trong cây cối chẳng hạn. Cội cây được sanh ra do nguyên nhân, rồi trưởng thành theo giòng trôi chảy của thiên nhiên. Ngay tại đây, cội cây đang thuyết giảng Giáo Pháp cho chúng ta. Nhưng chúng ta không lãnh hội lời giảng. Rồi theo thời gian cây trưởng thành, lớn lên và lớn lên đến lúc nở mộng, trổ hoa, sanh trái. Tất cả những gì ta trông thấy chỉ là sự phát triển của hoa và quả. Chúng ta không thể đem nó vào bên trong mình để quán chiếu. Do đó chúng ta không hiểu biết rằng cội cây đang dạy ta bài học về Giáo Pháp.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 913
  • Nền tảng của con đường Đại thừa là tư tưởng giác ngộ , Tư tưởng cao cả này là con đường duy nhất tất cả chư Phật đều dẫm bước. Không bao giờ bỏ con đường cao cả của tư tưởng giác ngộ, Với lòng bi cho tất cả chúng sanh, hãy trì tụng thần chú sáu âm. 

    “Tư tưởng giác ngộ”, Bồ đề tâm (bodhicitta), là mong muốn đạt đến giác ngộ vì lợi lạc của tất cả chúng sanh. Bồ đề tâm có hai phương diện, tương đối và tuyệt đối. Bồ đề tâm tuyệt đối là sự nhận biết Phật tánh hiện diện vốn sẵn có trong mỗi chúng sanh và chỉ có thể thấu hiểu bởi những ai chứng ngộ tánh Không của tất cả hiện tượng ; bởi vì không dễ dàng thấu hiểu nó một cách trọn vẹn, chúng ta thường bắt đầu với sự thực hành Bồ đề tâm tương đối, nó ít khó khăn hơn.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 763
  • Có người hỏi: "Chư Phật chư Tổ xưa nay đã dùng biết bao pháp môn và phương tiện để tu học pháp Phật, làm sao có câu nói là "không có gì ngoài kiến tánh thành Phật"? Xin đại sư chỉ giáo".
    Bassui trả lời: "Ta thọ giới xuất gia trong những năm sau này, chưa từng học kinh. Ngươi hãy nói cho ta nghe có pháp nào ngoài việc "kiến tánh thành Phật" không.


    Hỏi: "Theo như kinh nói, Đức Thế Tôn đã thành tựu Phật quả sau khi tu được Lục Độ Vạn Hạnh. Làm sao điều này có thể được gọi là "Kiến tánh thành Phật"?

    Đại sư: "Lục Độ Vạn Hạnh" là gì?

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.070
  •    Tất cả chúng ta đều kiếm tìm hạnh phúc, nhưng rất ít người bắt được. Hai điều trong Tứ diệu đế của Đức Phật đã nói rằng hạnh phúc thế gian là ảo tưởng, vậy mà ta chẳng bao giờ từ bỏ hy vọng tìm thấy nó. Tuy nhiên điều đó cũng không hoàn toàn xấu, vì nếu không có lòng mưu cầu hạnh phúc, ta sẽ trở nên thối chí, nản lòng khi không thể tìm được hạnh phúc hoàn toàn. 

    1. Hỷ Lạc Do Các Cảm Thọ Mang Đến   

    Đức Phật nói về bốn loại, bốn cấp bực của hạnh phúc. Thứ nhất là dục giới, hỉ lạc do sự cảm thọ của các giác quan mang đến. Đức Phật ví đó giống như một con bò chỉ có da, trong khi bọn ruồi đậu thì cố tìm thịt sống, nên luôn tạo ra sự đau khổ. Đó là một cái nhìn sâu sắc về ngũ dục. Đức Phật cũng nói về ngũ dục là phương tiện đầu tiên đem lại cho ta hạnh phúc. Và phần đông chúng sanh trụ ở cấp bực nầy. Nhưng không phải lúc nào ta cũng nắm bắt được dục lạc ta tìm kiếm, ngay như ta có tìm được, thì nó cũng đến rồi đi, do đó không thể có hạnh phúc trường cửu qua sự tiếp xúc của sáu căn với sáu trần. 

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 924
  • Để giúp đỡ mọi chúng sanh đang bị giam giữ trong những khổ đau mà họ tin là không thể sửa tránh được, chúng ta hãy mặc áo giáp mềm mại của một lòng bi không chỉ giới hạn vào nhân loại, mà bao trùm toàn bộ hiện hữu, hữu hình hay vô hình.

    Gyalwa Karmapa thứ 16

     

    Có một kho tàng mà mọi chúng sanh đều có đặc quyền chia xẻ, tham dự : đó là mang nơi mình tiềm năng của sự toàn thiện, của trạng thái thức tỉnh của tâm thức. Đó là cái mà trong Phật giáo Đại thừa gọi là Phật tánh : tâm thức được phú bẩm tự nhiên mọi phẩm chất hiểu biết, trí huệ, tình thương và lòng bi, và người nào khám phá ra cái ấy (Phật tánh) nơi mình và đến chỗ biểu lộ trọn vẹn cái tiềm năng ấy là “một người đã thức tỉnh”.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 645
  •  

    Thực hành Giáo Pháp là công trình vô cùng quan trọng. Nếu không có pháp hành tất cả hiểu biết của chúng ta chỉ là hiểu biết trên bề mặt, chỉ hiểu biết cái vỏ bề ngoài. Cũng giống như ta đã có một loại trái cây nhưng chưa bao giờ ăn đến. Mặc dầu trái cây sẵn có trong tay, nhưng ta không hưởng lợi ích của nó. Chỉ bằng cách thực sự có ăn, ta mới cảm nhận được mùi vị của trái.

     


    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 695
  • Thời gian không đợi ai. Kể từ khi chào đời chúng ta cứ từng phút từng giây ,tiến dần về đoạn kết, về cái chết. Ðời sống con người là như vậy; thế giới này, vũ trụ này, tất cả đều như vậy cả. Vì con người có đời sống tinh thần nên phải luôn tự xét xem bản thân mình đang sống như thế nào. Trong trường hợp của tôi, phần lớn cuộc đời đã trôi qua. Dù tôi là một Phật tử biếng nhác, vẫn có thể nói rằng mỗi năm tôi đều có chút tiến bộ. Trên hết, tôi luôn cố gắng chân thành noi theo gót chân đức Phật Thích Ca, cố gắng làm một thầy tu xứng đáng.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 931
  • Sanh tử luân hồi là khuynh hướng tìm thấy
    những lỗi lầm nơi người khác.

    Naropa

     

    Người ta lầm địa chỉ khi tìm hạnh phúc bên ngoài mình, người ta đã thấy điều đó. Người ta có đi du lịch đến đầu kia của thế giới và nhân lên nhiều lần những kinh nghiệm cho đến vô tận cũng vô ích, người ta vẫn sẽ luôn luôn thấy những sự vật qua cùng một đôi mắt, vì người ta tri giác thế giới theo cái mà người ta nghĩ và cảm nhận. Mỗi người có cách diễn dịch riêng của nó về thế giới trong đó nó đang sống.

    Mọi cố gắng sửa đổi thế giới cho phù hợp với những tham muốn và hy vọng của chúng ta đều đưa đến thất bại. Nếu trời mưa, người ta không thể làm gì và không phải vì người ta muốn thấy mặt trời mà trời nắng. Tuy nhiên, có một điều mà người ta có quyền thay đổi : sự khó chịu mà cơn mưa gây ra cho chúng ta. 

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 728
  •   I. Ý nghĩa Bồ tát

              Bồ tát, từ người mới bắt đầu (sơ phát tâm) cho đến những vị đã nhiều đời sống theo hạnh Bồ tát (Đại Bồ tát) đều có một hướng đi rõ rệt: nỗ lực sống giải thoát và giác ngộ bằng chính cuộc đời mình và dùng cuộc đời đó để giúp đỡ những người khác giải thoát và giác ngộ, và hơn nữa, chính trong nỗ lực giúp đỡ những người khác giải thoát và giác ngộ mà vị ấy giải thoát và giác ngộ. Như vậy, Bồ tát có hai công việc chính:

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 695
  • http://i151.photobucket.com/albums/s159/laitutran/hinh%20nho/handmetasianglobe.gifĐể có thể chân chánh quy y Tam bảo, với lòng khao khát sâu sắc đạt đến giác ngộ tối thượng để làm lợi ích cho tất cả chúng sinh hữu tình, ta cần phải hiểu được bản chất của giác ngộ. Tất nhiên, ta nhất thiết phải nhận ra rằng bản chất của đời sống thế tục là đầy dẫy khổ đau. Ta biết rằng việc sống buông thả trong vòng luân hồi là hoàn toàn vô ích, cho dù điều đó có vẻ như rất cám dỗ. Ta quan tâm đến nỗi khổ đau mà người khác đang không ngừng gánh chịu, và khao khát giúp họ vượt thoát khổ đau. Khi sự tu tập được thôi thúc bởi tâm nguyện này, hướng ta đến việc đạt được sự giác ngộ rốt ráo của quả Phật, đó là ta đã bước vào con đường Đại thừa.
    Thuật ngữ Đại thừa thường được dùng với những hình thức của đạo Phật được truyền vào Tây Tạng, Trung Hoa và Nhật Bản. Đôi khi thuật ngữ này cũng được dùng chỉ cho nhiều trường phái triết học Phật giáo khác nhau. Tuy nhiên, ở đây tôi sử dụng thuật ngữ Đại thừa trong ý nghĩa của những thệ nguyện trong lòng mỗi một người tu tập. Động cơ thúc đẩy cao quý nhất mà ta có thể có là mang đến hạnh phúc cho tất cả chúng sinh, và nỗ lực lớn nhất mà ta có thể thực hiện là giúp cho tất cả chúng sinh hữu tình đều đạt được hạnh phúc ấy.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 785
  • Ở mỗi phút giây, chúng ta có thể lựa chọn bị cuốn theo dòng niệm tưởng củng cố sự nhận thức rằng chúng ta là yếu đuối và giới hạn, hoặc chúng ta có thể lưa chọn việc ý thức rằng bản chất thật sự của chúng ta là trong sạch, vô nhiễm và không thể bị tổn hại. Chúng ta có thể ở trong giấc ngủ vô minh, hoặc ý thức rằng chúng ta là tánh giác và luôn luôn thức tỉnh...

    Nhìn bề ngoài, dường như hầu hết chúng ta đều là những người yếu đuối và bất toàn. Nhưng bên sau sự yếu đuối và bất toàn đó, chúng ta có sẵn chiếc chìa khóa để mở ra kho tàng sức mạnh chân thật của chúng ta. Bằng việc trực diện với những cảm xúc quấy động và những khó khăn xảy ra trong đời sống, chúng ta khám phá ra một kinh nghiệm về hạnh phúc dàn trãi ở bên ngoài cũng như bên trong chúng ta.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 862
  •           

    Trích trong Thiền Thực Hành của Chogyam Trungpa

     

                Thiền là một chủ đề rộng lớn và đã phát triển qua nhiều thời đại cùng các biến thể giữa các truyền thống tôn giáo khác nhau. Nhưng nhìn chung thì đặc điểm cơ bản của thiền mang một trong hai hình thức sau đây. Hình thức thứ nhất có nguồn gốc từ các giáo lý liên quan đến sự khám phá bản chất của cuộc sống; hình thức thứ hai nhằm đạt tới sự liên thông với Thượng đế. Dù là trong trường hợp nào thì thiền cũng là cách duy nhất để đưa giáo lý vào thực hành.

                Khi đã có khái niệm về một Đấng “trên cao” thì cũng có khái niệm về một cá thể bên trong – thường có tên là “cái ta” hay cái ngã. Trong trường hợp này thì việc hành thiền trở thành một cách để tạo ra sự liên thông với một Đấng bên ngoài. Điều này có nghĩa là người ta cảm thấy mình nhỏ bé hơn và đang tìm cách để tiếp xúc với một thứ gì đó to lớn, vĩ đại hơn. Phép thiền này dựa trên sự sùng tín.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 804
  • Ngày Tết là một dịp để trở về với gia đình, với bè bạn, với làng xóm, với quê hương, và nếu mở rộng lòng mình hơn nữa thì ngày Tết cũng là một dịp để quay về với kỷ niệm, với tuổi thơ

    Ngày Tết là một dịp để trở về với gia đình, với bè bạn, với làng xóm, với quê hương, và nếu mở rộng lòng mình hơn nữa thì ngày Tết cũng là một dịp để quay về với kỷ niệm, với tuổi thơ, với một vài quãng đời xa xưa nào đó vẫn còn in đậm trong tâm thức mình. Dù xa quê thế nhưng nơi đất khách mỗi độ xuân về, hoa vẫn nở, thời gian vẫn trôi.... Nhìn những cánh hoa "xa lạ" ấy những kẻ xa quê sao tránh được một niềm nhớ nhung nào đó thoáng hiện trong lòng mình. Vì thế cũng xin mượn một bài thơ xưa của một thi nhân thời Đường, sống cách nay đã hơn mười ba thế kỷ để tặng những người "lưu lạc" hôm nay.

     
    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.102
  • NHÌN SỰ VẬT NHƯ CHÚNG THẬT SỰ LÀ

    Tác gỉa: Ajahn Chah

    Việt dịch: Diệu Liên Lý Thu Linh
    (Trích dịch theo Vạn Pháp Sinh Diệt –Everything Arises,

    Everything Falls Away, 
    NXB Shambhala 2005)

    ---o0o---

    Đức Phật dạy chúng ta nhìn bất cứ điều gì xuất hiện trước mắt cũng phải nhận biết rằng: sự vật không trường tồn.  Đã sinh, chúng sẽ diệt.  Diệt rồi, chúng sẽ sinh trở lại.  Sinh trở lại rồi, chúng sẽ mất đi.  Nhưng một người vô minh,  không được hướng dẫn, không muốn nhìn sự  vật như thế.  Khi hành thiền, được định, chúng ta muốn được như thế mãi, không muốn có gì quấy phá, làm gián đoạn.  Nhưng suy nghĩ như vậy là thiếu thực tế.  Đức Phật muốn chúng ta trước hết nhìn vào sự vật và biết rằng những thứ này là giả tạo; rồi chúng ta mới thật sự có được sự an bình.  Khi không biết như thế, chúng ta trở thành người sở hữu của chúng và cái bẫy của ngã tưởng sẽ xuất hiện.  Vì thế chúng ta phải trở lại từ gốc ngọn, tìm hiểu xem chúng xảy ra như thế nào.  

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 880

Top Bài Viết

Top Music

Top Book Mp3

Top Music Album

 
© Copyright 2013 - 2019 PHATAM.ORG - Chịu trách nhiệm nội dung: Thị Đức bienman0811@yahoo.com - Hỗ trợ kỹ thuật votamthoai@gmail.com