• NHỮNG LỜI DẠY CỦA ĐẠI SƯ GARCHEN RINPOCHE
    Nguyên tác: H.E. Garchen Rinpoche’s Advices - Việt dịch: Thanh Liên

     

        Garchen Rinpoche với Kinh Luân luôn luôn ở trên tay

     

     

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 969
  • Để đời này thoát khỏi sinh tử, không gì hơn vãng sanh Tịnh Độ. Để được vãng sanh Tịnh Độ, không gì hơn niệm Phật.

    Niệm Phật là bổn nguyện của Đức A Di Đà, nên mười phương hằng sa chư Phật đều chứng thành. Các hạnh khác chẳng phải là bổn nguyện, nên chư Phật chẳng chứng thành. Bởi thế nên thường niệm Phật để được mười phương chư Phật hộ niệm.

    Niệm Phật không có hình thức, ngoài việc xưng danh hiệu, không có hình thức gì cả.

    Niệm Phật lấy không hình thức làm hình thức, chỉ biết rằng thường niệm Phật, thì đến lúc lâm chung nhất định Phật lai nghinh, mà vãng sanh cõi Cực Lạc.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 559
  • Việt Dịch: Hoà Thượng Thích Thiền Tâm

    A. Tôi thường nói: Muốn được sự thật ích của Phật pháp, phải tìm nơi lòng kính sợ. Có một phần cung kính, tiêu một phần tội nghiệp, thêm một phần phúc tuệ. Có mười phần cung kính, tiêu mười phần tội nghiệp, thêm mười phần phúc tuệ. Nếu không mảy may cung kính, thì sự tụng kinh niệm Phật tuy chẳng phải hoàn toàn không lợi ích, nhưng do tội khinh lờn ấy, trước phải bị nhiều kiếp đọa vào tam đồ.

    Đến khi tội hết, mới nương nơi nhân lành ấy, lại được nghe pháp tu hành, ăn chay niệm Phật, cầu về Tây Phương để thoát đường sinh tử?

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 411
  • Chi chú: Nguyên tác Hoa ngữ của “66 cầu thiền ngữ” này là “Lục thập lục điều kinh điển thiền ngữ” (六十六條經典禪語), có nghĩa là “66 câu thiền ngữ trong Kinh điển [Phật giáo]”, được phổ  biến trên internet vào khoảng năm 2004. Bản dịch tiếng Việt được phổ biến năm 2010, có tựa đề là “66 cầu làm chấn động thiền ngữ thế giới” hoặc “66 câu Phật học làm chấn động thiền ngữ” đều không chuẩn với nguyên tác Hoa ngữ, đồng thời, đã thêm cụm từ “chấn động thế giới” và tỉnh lược từ “kinh điển”.

    Không rõ người biên tập bản Hoa ngữ là ai. Cũng không rõ ai là dịch giả bản tiếng Việt. Sau khi đối chiếu bản Hoa ngữ, tôi đã hiệu đính một vài từ cho chuẩn xác và trau chuốt lời văn cho thuần Việt hơn. Phần hiệu đính và biên tập được tô màu xanh dương đậm để nhận dạng. Các đại từ nhân xưng “anh” trong bản dịch, tôi đều đổi thành “bạn” cho gần gũi với người đọc.

    Từ “Kinh điển thiền ngữ” ở đây nên hiểu là “lời minh triết trong Kinh Phật”. Khó tìm được xuất xứ của 66 thiền ngữ này trong Kinh Phật, mặc dù về mặt tư tưởng, chúng diễn ta triết lý Phật giáo ứng dụng, dưới hình thức danh ngôn. Câu 43 diễn đạt sai tư tưởng Phật học, vì Phật giáo không chấp nhận “ngẫu nhiên”, trong khi câu 50 được người biên tập Hoa ngữ đánh tráo tư tưởng Nhất thần giáo vào thiền ngữ Phật giáo, với mục đích lạc dẫn người đọc tin vào quyền uy toàn năng của Thượng đế, vốn không có thật và không được đạo Phật chấp nhận. Không phải tất cả 66 câu “thiền ngữ” này đều mô tả sâu sắc tư tưởng Phật giáo. Đây là điều các Phật tử cần lưu tâm, khi sử dụng tài liệu trên internet vốn khó kiểm chứng tính nguyên thủy về văn bản học Phật giáo, để khỏi hiểu sai tư tưởng Phật giáo nguyên chất.

    Để minh họa cho các bài giảng, tôi tạm phân 66 câu thiền ngữ thành 6 phần, mỗi phần 11 câu và đặt tựa đề cho từng phần, nhằm giúp người đọc dễ nhớ các ý tưởng chính trong từng phần. Sau đây là bản dịch Việt có hiệu đính và nguyên tác Hoa ngữ để đối chiếu.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.305
  • Quý vị thường đến cầu thỉnh khai thị, khiến tôi cảm thấy rất xấu hổ. Quý vị ngày ngày khổ nhọc, bửa cũi cuốc đất, san bằng đất đai, vác ngói mang gạch. Tuy bận rộn từ sáng đến tối, nhưng không quên mất tâm niệm tu hành, mà luôn tinh tấn chú trọng vào đạo, thật khiến cho người khác phải cảm động. Hư Vân tôi rất xấu hổ vì chẳng có đạo, chẳng có đức, chẳng có thể nói lời khai thị cao vọng, chỉ lập lại lời dư thừa của người xưa, để đối đáp cùng quý vị.

     

    1/ Phương pháp dụng công nhập đạo.

    Phương pháp dụng công tu đạo rất nhiều. Hiện tại bàn thảo tóm lược. 

     

    A/ Điều kiện tiên quyết của việc tu đạo.

    a/ Tin sâu lý nhân quả.

    Người muốn dụng công tu đạo, việc đầu tiên là phải tin sâu lý nhân quả. Nếu không tin nhân quả, thì làm những việc hàm hồ. Chẳng những việc tu đạo khó thành công mà ba đường ác cũng không thể thiếu mình. Phật dạy:

    - Muốn biết nhân đời trước, phải nhìn đời này mình thọ quả báo gì. Muốn biết quả đời tương lai, phải xem đời này mình đang gieo nhân gì.

    Phật lại bảo:

    - Giả sử nghiệp tội đã tạo trong trăm ngàn kiếp chưa tan, khi nhân duyên đến, quả báo phải tự thọ.

    Kinh Lăng Nghiêm thuyết: "Nhân địa bất chân chánh thì phải chiêu quả báo cong vạy".

    Trồng nhân thiện thì kết quả lành. Trồng nhân ác thì kết quả xấu. Trồng dưa được dưa, hay trồng đậu thì được đậu. Đây là đạo lý tự nhiên. Đàm luận về lý nhân quả, tôi sẽ đơn cử hai câu chuyện xưa để chứng minh.

    Chuyện thứ nhất là việc vua Lưu Ly diệt chủng tộc họ Thích. Trước thời Phật Thích Ca, trong thành Ca Tỳ La Vệ có một thôn xóm chuyên môn đánh cá. Trong thôn xóm có một hồ lớn. Khi ấy, thời tiết hạn hán, nước khô cạn. Tất cả cá lớn nhỏ đều bị dân làng bắt ăn hết, duy chỉ còn một con cá lớn nhất, gần bị nắng thiêu chết. Trong làng có một đồng tử xưa nay chưa từng ăn thịt cá, nhưng trong ngày ấy lại giỡn chơi, lấy cây côn đập trên đầu cá ba lần. Sau này, trong thời Phật Thích Ca ra đời, có vua Ba Tư Nặc rất tin tưởng sùng phụng Phật Pháp. Ông ta lấy bà hoàng hậu vốn thuộc dòng nô tỳ của họ Thích Ca. Bà ta hạ sanh được một thái tử, tên là Lưu Ly. Lúc nhỏ, vua Lưu Ly thường ở thành Ca Tỳ La Vệ học hành. Ngày nọ, vì giỡn chơi, thái tử Lưu Ly leo lên tòa ngồi của Phật, nên bị người thuộc dòng dõi Thích Ca mắng chửi đuổi xuống. Do đó, ông ta oán hận trong tâm.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 511

  •  
     
     
    Ở Solu Kumbu, hằng ngày tất cả người già đều quay kinh luân. Buổi sáng khi họ ở nhà và buổi tối trước khi họ đi ngủ, họ đều cầm một chuỗi hạt (mala) trong tay trái, một chiếc kinh luân trong tay phải, và trì tụng thần chú OM MANI PADME HUNG. Và khi họ đi lại, họ không ngừng quay kinh luân và trì tụng thần chú OM MANI PADME HUNG.

    Tôi thường nghĩ rằng, "Làm sao quay kinh luân lại là sự thực hành Phật Pháp được nhỉ?" Trong tâm tôi đã khởi lên câu hỏi như vậy, chỉ vì tôi ngu muội, không biết đến những lợi lạc của pháp tu này. Tôi đã không biết đến tầm quan trọng và khả năng tịnh hóa lớn lao của kinh luân. Chỉ cần chạm tay vào và quay chiếc kinh luân thôi, bạn cũng tịnh hóa được vô số tội lỗi và tích tập được một lượng công đức đồ sộ.

    Ở Lawudo tôi tìm thấy nhiều bản văn cổ, những bản viết tay của Lạt-ma Lawudo. Các hóa thân trước của Lạt-ma Lawudo thường được gọi là Lạt-ma (Kunsang) Yeshe và một số người nghĩ rằng tôi là tái sinh của Ngài. Lạt-ma Lawudo không sống trong tu viện, Ngài ẩn tu trong một hang động. Ngài đã bỏ ra rất nhiều nỗ lực để sao chép các pháp tu liên quan đến nhiều vị bổn tôn của Kim Cương thừa. Vào lúc đó các văn bản như thế rất hiếm, vì vậy Ngài đã chép tay ra rất nhiều bản.

    Bởi vì chúng đã được giữ trong các hang động vô cùng ẩm thấp, các bản văn đã bị ẩm ướt, và tôi đã hong khô chúng dưới ánh mặt trời. Nếu bạn không hong khô chúng, các nốt sùi sẽ phát triển và các loài sâu bọ sẽ làm chúng bị hư hoại. Các loài sâu bọ sinh sôi và đục khoét thành lỗ nhỏ trên các bản văn

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.347
  • SÁU CỬA VÀO ÐỘNG THIẾU THẤT
    Bồ-đề Đạt-Ma - Trúc Thiên dịch 1969
    Sách Ấn Tống: 337 N. Keystone st., Burbank, CA 91506 USA

     
    MỤC LỤC

    Tựa: Trước khi vào Ðộng.
    Cửa Thứ Nhất: Tâm Kinh Tụng.
    Cửa Thứ Nhì: Phá Tướng Luận.
    Cửa Thứ Ba: Nhị Chủng Pháp.
    Cửa Thứ Tư: An Tâm Pháp Môn Luận.
    Cửa Thứ Năm: NGộ Tánh Luận.
    Cửa Thứ Sáu: Huyết Mạch Luận.
    Phụ Lục:
    Tiểu Sử Bồ Ðể Ðạt Ma.
    Căn Bản Pháp của Thiền Ðạt Ma.
    Trương Thiếu Tề Giảng Thoại.
    Bạt: Huyền Thoại Bồ Ðề Ðạt Ma.

    "Hoa Lưu Động Khẩu , Ưng Trường Tại"

    TRƯỚC KHI VÀO CỬA ÐỘNG
    (Thay lời tựa)

    SÁU CỬA VÀO ÐỘNG THIẾU THẤT là tên dịch một tác phẩm lớn của thiền Trung Hoa, gọi là Thiếu Thất Lục Môn. Lục môn là sáu cửa, sáu pháp môn - Sáu cửa vào đạo pháp vậy. Ðạo đây là đạo Phật thiền. Trong các ngành Phật giáo, Thiền đứng riêng một chân trời cùng tuyệt, chủ trương chỉ thẳng vào nơi tánh, thấy thẳng nơi tự tâm để tức khắc thành Phật, khỏi phải khổ tu nhiều kiếp. Do đó, Thiền được gọi là tối thượng thừa, nghĩa là cỗ xe tối thượng đi thẳng vào nước Phật. Ai nương cỡi, ai "thừa" cỗ xe ấy tức thành Phật. Nói thế không có nghĩa là cỗ xe lớn nhất so với những cỗ xe khác, xe dê của Thanh văn, xe nai của Duyên giác, xe trâu của Bồ tát v.v... Trái lại tối thượng thừa đích thực là "không còn thừa nào để mà thừa", nên nói suốt ngày "thừa" mà vẫn như chưa hề "thừa". Có thừa như thế mới gọi là Phật thừa - cỗ xe Phật. Mất hết điểm so sánh, Thiền mất luôn chỗ đứng giữa các hệ phái. Nói một cách khác, vì mất tất cả nên được lại tất cả. Thiền đương nhiên bao dung tất cả trong một sức chứa vô lượng vô biên: sức chứa của cái không. Nên Thiền, tức là Ðại Ðồng. Và tối thượng thừa tức là vô thừa. Kinh nói: "Lấy vô thừa làm Phật thừa" là nhằm hiển thị cái lý đại đồng ấy vậy.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 1.077
  •  

        

    HỌC TẬP BA PHÁP TU CỦA KINH VIÊN GIÁC

    Kinh nói tất cả chúng ta đang ở trong pháp tánh, hay tánh Không, Chân Như, tánh Giác… dù chúng ta có biết hay không, có tu hay không, có thường nhớ nghĩ đến nó hay không. Pháp tánh ấy không ngăn ngại chúng ta, trái lại nó luôn luôn hiện tiền, toàn khắp. Chỉ có vô minh vọng tưởng phân biệt của chúng ta là chia chẻ “pháp giới Một Tướng” thành một thế giới chia cách, mâu thuẫn, xung đột của riêng mỗi chúng ta, mà chúng ta gọi là thế giới sanh tử.

      

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 473
  • John Daido Loori là vị hướng dẫn tâm linh và là tu viện trưởng tu viện Zen Mountain Monastery ở New York, cũng là người sáng lập giòng Thiền Mountain and River. Ngài là tác giả của nhiều tác phẩm về Thiền và bài sau đây được trích dịch từ tác phẩm Teachings of the Earth của ngài.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 526
  • CHÍNH XÁC PHỦ NHẬN TỰ TÁNH CỦA SỰ VẬT

    Tất cả những tranh luận triết lý nói trên đều dẫn đến điều căn bản này: chúng ta luôn có khuynh hướng nhìn sự vật không đúng như sự thật. Xin nhắc lại thêm một lần nữa, nói như vậy không phải là để chối bỏ kinh nghiệm thực tại. vấn đề nêu ra không phải là sự vật có hiện hữu hay không, mà là hiện hữu như thế nào. Đây mới chính là nội dung của tất cả những phân tích phức tạp nói trên.


      Người có nguyện vọng muốn tu, quan trọng nhất phải tập sao cho mình có được cái nhìn trực tiếp hóa giải nhận thức sai lầm. Chỉ cái nhìn như vậy mới có khả năng làm giảm mức độ thao túng của phiền não. Công phu hàng ngày -tỉ như tụng chú hay quán tưởng v.v. - tự chúng không có khả năng hóa giải vô- minh-căn-bản. Cả ước nguyện “cầu cho tâm lầm chấp tự tánh biến mất”, cũng không đủ; chúng ta cần phải hiểu tường tận thấu đáo tính chất của tánh không. Đây là con đường duy nhất dẫn đến giải thoát toàn diện khổ đau luân hồi.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 426
  •  

     


     

     

    Thiền sư Nhật Musō Soseki, (Mộng Sơn Sơ Thạch) (1275-1351) là một thiền sư danh tiếng và được vua  phong chức Quốc sư nên thường được gọi là Musō Kokushi (Quốc sư Mộng Sơn). Chẩng những thế mà sau nay nhiều vị vua khác cũng đều phong sư là Quốc sư, cả thảy bẩy lần.

    Khi còn nhỏ Musō theo học phái Shingon (shingon-shū = Chân ngôn tông). Sau đó Musō theo học Thiền tông (Zen) với những vị thầy Trung Hoa và Nhật bản. Vị thầy thứ nhất là thiền sư I-shan I-ning là đại sứ Trung hoa đời Đường. Vị thầy Nhật bản của Musō là Kohō vốn là thái tử nhưng đã từ bỏ cung điện để xuất gia theo học Thiền tông với thiền sư Trung Hoa  là Wu-hsueh Tsu-yuan. Sư Musō là một thiền sư danh tiếng có tới hơn năm mươi đệ tử chứng đạo

     

     

     

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 440
  •  

     

    Tâm Tịnh Lặng -Ajahn Chah

     

    Thiền giữa đời thường

    Sống giữa cuộc đời và hành thiền định, dưới con mắt của thế gian, bạn giống như cái chiêng không người đánh, nên không phát ra âm thanh. Người đời xem bạn như kẻ vô dụng, điên khùng, thất bại; nhưng thực tế thì ngược lại.
    Chân lý ẩn tàng dưới cái không thật, sự vĩnh hằng ẩn mình trong cái bóng của vô thường.

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 2.271
  • Nếu tham thoại đầu mà quán Phật là vọng tưởng, chớ nói là quán, ở trong Thiền đường của Tòng lâm Thiền Tông, niệm một tiếng Phật phải phạt rửa thiền đường ba ngày! Còn Tịnh độ thì phải niệm Phật. Bởi vậy, hễ theo pháp thiền quán nào phải theo đúng tông chỉ tông phái đó, chứ chẳng phải đều giống nhau, do đó Đức Phật mới dạy tám mươi bốn ngàn pháp môn.
    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 599
  •  

    Guru Rinpoche Padmasambhava

    Khi vị đại sư Padmasambhava lưu lại chỗ ẩn cư Núi Lớn ở Samye, thì Sherab Gyalpo Ngog, một ông già 61 tuổi thất học và có niềm tin tột độ và ngưỡng vọng mạnh mẽ đối với Sư, hầu hạ Sư trong một năm. Trong thời gian này Ngog không hỏi xin một lời dạy nào, và Sư cũng không ban cho ông điều gì. Sau một năm, khi đại sư định rời đi, ông Ngog dâng cúng một dĩa mạn đà la trên đó ông đặt một bông hoa bằng một lượng vàng. Rồi ông nói : “Thưa đại sư, xin từ bi nghĩ đến tôi. Trước hết, tôi là một người thất học. Thứ hai, trí thông minh của tôi cạn hẹp. Thứ ba, tôi đã già, thân tâm đã mòn mỏi. Tôi cầu xin ngài ban một giáo huấn cho một ông già đã ở gần ngưỡng cửa của cái chết, giáo huấn ấy thật dễ hiểu, có thể chặt đứt mọi nghi lầm, dễ dàng thực hiện và áp dụng, có một cái thấy hiệu quả và sẽ giúp tôi trong những đời sắp tới

     

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 652
  • Ba truyền thống Phật giáo Ấn Độ, Trung Hoa và Tây Tạng đều cho rằng Phật tánh hay Như Lai tạng là lần thuyết pháp sau cùng và cũng là cực điểm của kinh điển.

    Ngoài những kinh của lần chuyển pháp luân thứ ba nói về Phật tánh như kinh Thắng Man, kinh Lăng Già, kinh Pháp Hoa, kinh Đại Bát Niết Bàn… chúng ta có nhiều kinh luận nói về Phật tánh như Luận Đại Thừa Khởi Tín, Luận Phật Tánh (của Maitreya)…

    Trong bài này chúng tôi sử dụng kinh Đại Bát Niết Bàn dựa trên các bản Việt dịch, một là bản dịch của Đoàn Trung Còn và Nguyễn Tiến Minh và một bản dịch của Hòa Thượng Thích Trí Tịnh

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 505
  •  

    TIẾP XÚC VỚI THƯC TẠI

    Về thực tại Chân Tâm này, Quốc sư Thông Biện (?-1134) nói (với Hoàng thái hậu Phù Thánh Linh Nhân) rằng :

    “Thường trụ thế gian, không sanh không diệt, gọi đó là Phật. Hiểu rõ Tâm tông của Phật, hạnh và hiểu tương ưng, gọi đó là Tổ… Vả Phật là giác vậy. Cái giác này xưa nay trong lặng thường trụ. Tất cả chúng sanh đều đồng một nguyên lý này, chỉ vì tình trần che khuất, theo nghiệp nổi trôi mà chuyển thành các cõi…

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 447
  • Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 2.541

Top Bài Viết

Top Music

Top Book Mp3

Top Music Album

 
© Copyright 2013 - 2019 PHATAM.ORG - Chịu trách nhiệm nội dung: Thị Đức bienman0811@yahoo.com - Hỗ trợ kỹ thuật votamthoai@gmail.com