Xem Mục Lục

  KINH ĐẠI BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA - Hán dịch: Pháp Sư Huyền Trang - Việt dịch: Hòa Thượng Trí Nghiêm
(Ấn hành năm 1999 - 24 Tập - 600 Quyển )

 Quyển Thứ 534: Hội thứ ba Phẩm Thí Thảy thứ 29-3

Kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa - Tập 22

Quyển Thứ 534: Hội thứ ba Phẩm Thí Thảy thứ 29-3

Hòa Thượng Thích Trí Nghiêm

Bấy giờ, Thiện Hiện bèn thưa Phật rằng: Nếu tất cả pháp đều bản tánh không, trong bản tánh không đều không sai khác, các Bồ tát Ma ha tát vì trụ chỗ nào phát tới Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, tác lời nguyện này: Ta phải tới chứng Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề rộng lớn, quay xe diệu pháp độ chúng hữu tình?

Bạch Thế Tôn! Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề rộng lớn thẳm sâu, không hai hành tướng. Chẳng hai hành tướng mà năng chứng được, các Bồ tát Ma ha tát làm sao năng chứng sở cầu Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề? Cúi xin Như Lai thương xót vì nói.

Phật bảo: Thiện Hiện! Như vậy, như vậy. Như ngươi đã nói. Chư Phật Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề rộng lớn thẳm sâu, không hai hành tướng. Chẳng hai hành tướng mà năng chứng được. Sở dĩ vì sao? Bồ đề không hai, cũng không phân biệt. Nếu kẻ đối Bồ đề hành nơi hai tướng, có phân biệt tất chẳng năng chứng Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề rộng lớn.

Thiện Hiện phải biết: Các Bồ tát Ma ha tát chẳng đối Bồ đề hành nơi hai tướng, cũng chẳng phân biệt, đều không sở trụ, phát tới Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Các Bồ tát Ma ha tát đối trong các pháp chẳng hành hai tướng, cũng không phân biệt, đều không sở hành, bèn được tới chứng Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề rộng lớn.

Thiện Hiện phải biết: Các Bồ tát Ma ha tát sở cầu Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề chẳng hành hai tướng mà năng chứng được. Các Bồ tát Ma ha tát sở hữu Bồ đề đều không chỗ hành.

Nghĩa là chẳng hành sắc thọ tưởng hành thức. Chẳng hành nhãn xứ cho đến ý xứ. Chẳng hành sắc xứ cho đến pháp xứ. Chẳng hành nhãn giới cho đến ý giới. Chẳng hành sắc giới cho đến pháp giới. Chẳng hành nhãn thức giới cho đến ý thức giới. Chẳng hành nhãn xúc cho đến ý xúc. Chẳng hành nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ cho đến ý xúc làm duyên sanh ra các thọ.

Chẳng hành địa giới cho đến thức giới. Chẳng hành nhân duyên cho đến tăng thượng duyên. Chẳng hành các pháp theo duyên sanh ra. Chẳng hành vô minh cho đến lão tử. Chẳng hành bố thí cho đến bát nhã Ba la mật đa. Chẳng hành nội không cho đến vô tánh tự tánh không. Chẳng hành chơn như cho đến bất tư nghì giới. Chẳng hành khổ tập diệt đạo thánh đế.

Chẳng hành bốn niệm trụ cho đến tám thánh đạo chi. Chẳng hành bốn tĩnh lự, bốn vô lượng, bốn vô sắc định. Chẳng hành không, vô tướng, vô nguyện giải thoát môn. Chẳng hành tám giải thoát cho đến mười biến xứ. Chẳng hành Tịnh quán địa cho đến Như Lai địa. Chẳng hành Cực hỷ địa cho đến Pháp vân địa.

Chẳng hành đà la ni môn, tam ma địa môn. Chẳng hành năm nhãn, sáu thần thông. Chẳng hành Như Lai mười lực cho đến mười tám pháp Phật bất cộng. Chẳng hành đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả. Chẳng hành ba mươi hai tướng Đại sĩ, tám mươi tùy hảo. Chẳng hành pháp vô vong thất, tánh hằng trụ xả. Chẳng hành nhất thiết trí, đạo tướng trí, nhất thiết tướng trí. Chẳng hành quả Dự lưu cho đến Độc giác Bồ đề. Chẳng hành hạnh Bồ tát Ma ha tát. Chẳng hành chư Phật Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề.

Sở dĩ vì sao? Các Bồ tát Ma ha tát sở hữu Bồ đề chẳng duyên danh tướng chấp ngã ngã sở bảo Bồ đề kia. Chẳng khởi nghĩ này: Ta hành nơi sắc thọ tưởng hành thức cho đến Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề.

Lại nữa, Thiện Hiện! Các Bồ tát Ma ha tát sở hữu Bồ đề chẳng lấy nên hành, chẳng bỏ nên hành, vì đối tất cả pháp không sở phân biệt vậy.

Cụ thọ Thiện Hiện bèn thưa Phật rằng: Nếu Bồ tát Ma ha tát sở hữu Bồ đề chẳng lấy nên hành, chẳng bỏ nên hành, đối tất cả pháp không sở phân biệt, các Bồ tát Ma ha tát sở hữu Bồ đề phải hành chỗ nào?

Phật bảo: Thiện Hiện! Nơi ý hiểu sao? Hóa thân chư Phật sở hữu Bồ đề sẽ hành chỗ nào, vì lấy nên hành, vì bỏ nên hành?

Thiện Hiện thưa rằng: Bạch Thế Tôn! Chẳng hành. Hóa thân chư Phật thật vô sở hữu, làm sao nói được sở hữu Bồ đề hành nơi chỗ nào hoặc lấy hoặc bỏ.

Phật bảo: Thiện Hiện! Nơi ý hiểu sao? Bồ đề trong mộng các A la hán sẽ hành chỗ nào, vì lấy nên hành, vì bỏ nên hành?

Thiện Hiện thưa rằng: Bạch Thế Tôn! Chẳng hành. Các A la hán phiền não dứt hẳn, hôn trầm ngủ nghỉ che buộc đều diệt, rốt ráo không mộng, làm sao mà có Bồ đề trong mộng hành nơi chỗ mà hoặc lấy hoặc bỏ.

Phật bảo: Thiện Hiện! Như vậy, như vậy. Như ngươi đã nói. Các Bồ tát Ma ha tát hành Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm cũng lại như thế, chẳng lấy nên hành, chẳng bỏ nên hành, đều không chỗ hành, vì đạt tất cả pháp bản tánh không vậy.

Cụ thọ Thiện Hiện lại thưa Phật rằng: Nếu Bồ tát Ma ha tát hành Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm, sở hữu Bồ đề chẳng lấy nên hành, chẳng bỏ nên hành, đều không chỗ hành. Nghĩa là chẳng hành sắc thọ tưởng hành thức, nói rộng cho đến chẳng hành Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, cũng lại chẳng hành Nhất thiết trí trí. Hầu như không chúng Bồ tát Ma ha tát chẳng hành mười địa, chẳng hành bố thí cho đến bát nhã Ba la mật đa. Chẳng hành bốn niệm trụ cho đến tám thánh đạo chi. Chẳng hành mười sáu không. Chẳng hành tĩnh lự, đẳng chí, đẳng trì. Cho đến chẳng hành Như Lai mười lực, bốn vô sở uý, bốn vô ngại giải, mười tám pháp Phật bất cộng. Chẳng hành đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, nói rộng cho đến tám mươi tùy hảo và vô lượng vô biên các Phật pháp khác. Chẳng trụ Bồ tát thần thông thù thắng, thành thục hữu tình, nghiêm tịnh cõi Phật mà năng chứng được Nhất thiết trí trí?

Phật bảo: Thiện Hiện! Các Bồ tát Ma ha tát sở hữu Bồ đề, nếu không chỗ hành hầu không chứng Bồ tát Ma ha tát, vì muốn nhiêu ích các hữu tình nên chẳng trụ mười địa tu lâu cho mãn. Chẳng trụ bố thí cho đến bát nhã Ba la mật đa tu lâu cho mãn. Nói rộng cho đến chẳng trụ Bồ tát thần thông thù thắng, thành thục hữu tình, nghiêm tịnh cõi Phật tu lâu cho mãn, mà năng chứng được Nhất thiết trí trí?

Phật bảo: Thiện Hiện! Các Bồ tát Ma ha tát sở hữu Bồ đề mặc dù không chỗ hành mà chứng. Các Bồ tát Ma ha tát vì muốn nhiêu ích các hữu tình nên cần trụ mười địa tu lâu cho mãn. Cần trụ bố thí cho đến bát nhã Ba la mật đa tu lâu cho mãn. Nói rộng cho đến cần trụ Bồ tát thần thông thù thắng, thành thục hữu tình, nghiêm tịnh cõi Phật tu lâu cho mãn. Cho đến năng chứng được Nhất thiết trí trí.

Thiện Hiện phải biết: Nếu các Bồ tát Ma ha tát tu các căn lành chưa khắp viên mãn, trọn chẳng năng được Nhất thiết trí trí.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu Bồ tát Ma ha tát muốn được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề nên trụ sắc bản tánh không, nên trụ thọ tưởng hành thức bản tánh không. Nói rộng cho đến nên trụ hạnh Bồ tát Ma ha tát bản tánh không, nên trụ Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề bản tánh không. Nên trụ tất cả pháp bản tánh không, nên trụ tất cả hữu tình bản tánh không. Tu hành mười địa cho được viên mãn. Tu hành bố thí cho đến bát nhã Ba la mật đa cho được viên mãn. Nói rộng cho đến tu hành Bồ tát thần thông thù thắng, thành thục hữu tình, nghiêm tịnh cõi Phật được viên mãn rồi, bèn được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề.

Thiện Hiện phải biết: Lý tất cả pháp bản tánh không và lý các hữu tình bản tánh không này rất cực vắng lặng, không có chút pháp năng tăng năng giảm, năng sanh năng diệt, năng đoạn năng thường, năng nhiễm năng tịnh, năng đắc quả năng hiện quán.

Thiện Hiện phải biết: Các Bồ tát Ma ha tát nương thế tục nói tu Bát nhã Ba la mật đa, như thật biết rõ bản tánh không rồi, chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, chẳng nương thắng nghĩa. Sở dĩ vì sao? Vì trong thắng nghĩa đế, không sắc khá được, cũng không thọ tưởng hành thức khá được. Nói rộng cho đến không các hạnh Bồ tát Ma ha tát khá được, cũng không Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề khá được. Không kẻ hành hạnh Bồ tát Ma ha tát khá được, cũng không kẻ chứng được chư Phật Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề khá được.

Thiện Hiện phải biết: Các pháp và các hữu tình như thế đều nương lời nói thế tục thi thiết, chẳng nương thắng nghĩa.

Thiện Hiện phải biết: Các Bồ tát Ma ha tát hành Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm từ sơ phát tâm tuy rất bén sướt vì các hữu tình hành hạnh Bồ đề mà đối đây tâm đều vô sở đắc, đối các hữu tình cũng vô sở đắc, đối Đại Bồ đề cũng vô sở đắc, đối Phật Bồ tát cũng vô sở đắc. Vì tất cả pháp, tất cả hữu tình đều bản tánh không, bất khả đắc vậy.

Bấy giờ, Thiện Hiện bèn thưa Phật rằng: Nếu tất cả pháp trọn vô sở hữu, đều bản tánh không, vô sở đắc ấy, Bồ tát Ma ha tát làm sao hành hạnh Bồ đề, làm sao năng được Vô thượng Bồ đề?

Phật bảo: Thiện Hiện! Nơi ý hiểu sao? Ngươi ở thời trước nương cõi ngăn dứt để dứt thân kiến thảy các gút phiền não, được vô lậu căn, trụ định vô gián, chứng quả Dự lưu, kế quả Nhất lai, kế nữa quả Bất hoàn, sau cùng quả A la hán. Ngươi ở lúc ấy vả thấy có mộng hoặc tâm, hoặc đạo, hoặc các đạo quả có khá được chăng?

Thiện Hiện thưa rằng: Bạch Thế Tôn! Chẳng có.

Phật bảo: Thiện Hiện! Nếu ngươi lúc ấy đều vô sở đắc, làm sao nói được quả A la hán?

Thiện Hiện thưa rằng: Nương thế tục nói, chẳng nương thắng nghĩa.

Phật bảo: Thiện Hiện! Như vậy, như vậy. Như ngươi đã nói. Các Bồ tát Ma ha tát cũng lại như thế, nương thế tục nói hành hạnh Bồ đề được Đại Bồ đề, chẳng nương thắng nghĩa.

Thiện Hiện phải biết: Nương thế tục nên thi thiết có sắc thọ tưởng hành thức. Nói rộng cho đến nương thế tục nên thi thiết hạnh Bồ tát Ma ha tát, thi thiết Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Nương thế tục nên thi thiết hữu tình, Bồ tát, chư Phật; chẳng nương thắng nghĩa.

Thiện Hiện phải biết: Các Bồ tát Ma ha tát chẳng thấy có pháp năng đối Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề có tăng có giảm, có ích có tổn, vì tất cả pháp bản tánh không vậy.

Thiện Hiện phải biết: Các Bồ tát Ma ha tát đối tất cả pháp bản tánh không hãy bất khả đắc, huống tâm sơ phát mà có khả đắc. Tâm tối sơ phát hãy bất khả đắc, huống tu sơ địa cho đến thập địa, bố thí thảy sáu Ba la mật đa, ba mươi bảy thứ phần pháp Bồ đề, ba môn giải thoát, cho đến vô lượng vô biên Phật pháp mà có khả đắc. Nếu có khả đắc, định không lẽ ấy. Như vậy, Thiện Hiện! Các Bồ tát Ma ha tát hành Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm phương tiện khéo léo hành hạnh Bồ tát, chứng Đại Bồ đề, độ chúng hữu tình thường không gián đoạn.

Bấy giờ, Thiện Hiện lại thưa Phật rằng: Nếu Bồ tát Ma ha tát tuy siêng tinh tiến tu hành bố thí cho đến bát nhã Ba la mật đa. An trụ nội không cho đến vô tánh tự tánh không. An trụ chơn như cho đến bất tư nghì giới. An trụ khổ tập diệt đạo thánh đế.

Tu hành bốn niệm trụ cho đến tám thánh đạo chi. Tu hành bốn tĩnh lự, bốn vô lượng, bốn vô sắc định. Tu hành không, vô tướng, vô nguyện giải thoát môn. Tu hành tám giải thoát cho đến mười biến xứ. Tu hành Cực hỷ địa cho đến Pháp vân địa. Tu hành tất cả đà la ni môn, tam ma địa môn. Tu hành năm nhãn, sáu thần thông. Tu hành Như Lai mười lực cho đến mười tám pháp Phật bất cộng. Tu hành đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả. Tu hành ba mươi hai tướng Đại sĩ, tám mươi tùy hảo. Tu hành pháp vô vong thất, tánh hằng trụ xả.

Tu hành nhất thiết trí, đạo tướng trí, nhất thiết tướng trí. Tu hành hạnh Bồ tát Ma ha tát. Tu hành Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Nếu đạo Bồ đề tu chưa viên mãn, chẳng năng chứng được Vô thượng Bồ đề. Bồ tát Ma ha tát làm sao tu đạo Bồ đề khiến được viên mãn năng chứng Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề?

Phật bảo: Thiện Hiện! Nếu Bồ tát Ma ha tát hành Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm phương tiện khéo léo, do sức phương tiện khéo léo đây nên khi tu hành bố thí Ba la mật đa chẳng đắc bố thí, chẳng kẻ bố thí, chẳng đắc kẻ nhận, chẳng đắc việc làm; cũng chẳng xa lìa các pháp như thế mà hành bố thí Ba la mật đa. Bồ tát Ma ha tát này khi thí như vậy thời năng viên mãn tu đạo Bồ đề mau được trọn nên.

Như vậy, Thiện Hiện! Các Bồ tát Ma ha tát hành Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm phương tiện khéo léo, tu đạo Bồ đề khiến được viên mãn, năng chứng Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Đối tịnh giới thảy Ba la mật đa cho đến hạnh Bồ tát Ma ha tát và Phật Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, tùy kia sở ưng nói rộng cũng vậy.

Bấy giờ, Xá Lợi Tử thưa Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Bồ tát Ma ha tát khi hành Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm mạnh mẽ chính siêng tu đạo Bồ đề?

Phật bảo: Xá Lợi Tử! Nếu Bồ tát Ma ha tát khi hành Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm phương tiện khéo léo, chẳng hòa hợp sắc cho đến thức, chẳng lìa tan sắc cho đến thức. Chẳng hòa hợp nhãn xứ cho đến ý xứ, chẳng lìa tan nhãn xứ cho đến ý xứ. Chẳng hòa hợp sắc xứ cho đến pháp xứ, chẳng lìa tan sắc xứ cho đến pháp xứ. Chẳng hòa hợp nhãn giới cho đến ý giới, chẳng lìa tan nhãn giới cho đến ý giới. Chẳng hòa hợp sắc giới cho đến pháp giới, chẳng lìa tan sắc giới cho đến pháp giới. Chẳng hòa hợp nhãn thức giới cho đến ý thức giới, chẳng lìa tan nhãn thức giới cho đến ý thức giới. Chẳng hòa hợp nhãn xúc cho đến ý xúc, chẳng lìa tan nhãn xúc cho đến ý xúc. Chẳng hòa hợp nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ cho đến ý xúc làm duyên sanh ra các thọ, chẳng lìa tan nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ cho đến ý xúc làm duyên sanh ra các thọ.

Chẳng hòa hợp địa giới cho đến thức giới, chẳng lìa tan địa giới cho đến thức giới. Chẳng hòa hợp nhân duyên cho đến tăng thượng duyên, chẳng lìa tan nhân duyên cho đến tăng thượng duyên. Chẳng hòa hợp các pháp theo duyên sanh ra, chẳng lìa tan các pháp theo duyên sanh ra.

Chẳng hòa hợp vô minh cho đến lão tử, chẳng lìa tan vô minh cho đến lão tử. Chẳng hòa hợp bố thí cho đến bát nhã Ba la mật đa, chẳng lìa tan bố thí cho đến bát nhã Ba la mật đa. Chẳng hòa hợp nội không cho đến vô tánh tự tánh không, chẳng lìa tan nội không cho đến vô tánh tự tánh không. Chẳng hòa hợp chơn như cho đến bất tư nghì giới, chẳng lìa tan chơn như cho đến bất tư nghì giới. Chẳng hòa hợp khổ tập diệt đạo thánh đế, chẳng lìa tan khổ tập diệt đạo thánh đế.

Chẳng hòa hợp bốn niệm trụ cho đến tám thánh đạo chi, chẳng lìa tan bốn niệm trụ cho đến tám thánh đạo chi. Chẳng hòa hợp bốn tĩnh lự, bốn vô lượng, bốn vô sắc định, chẳng lìa tan bốn tĩnh lự, bốn vô lượng, bốn vô sắc định. Chẳng hòa hợp không, vô tướng, vô nguyện giải thoát môn, chẳng lìa tan không, vô tướng, vô nguyện giải thoát môn. Chẳng hòa hợp tám giải thoát cho đến mười biến xứ, chẳng lìa tan tám giải thoát cho đến mười biến xứ. Chẳng hòa hợp Tịnh quán địa cho đến Như Lai địa, chẳng lìa tan Tịnh quán địa cho đến Như Lai địa. Chẳng hòa hợp Cực hỷ địa cho đến Pháp vân địa, chẳng lìa tan Cực hỷ địa cho đến Pháp vân địa.

Chẳng hòa hợp đà la ni môn, tam ma địa môn; chẳng lìa tan đà la ni môn, tam ma địa môn. Chẳng hòa hợp năm nhãn, sáu thần thông; chẳng lìa tan năm nhãn, sáu thần thông. Chẳng hòa hợp Như Lai mười lực cho đến mười tám pháp Phật bất cộng, chẳng lìa tan Như Lai mười lực cho đến mười tám pháp Phật bất cộng. Chẳng hòa hợp đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả; chẳng lìa tan đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả. Chẳng hòa hợp ba mươi hai tướng Đại sĩ, tám mươi tùy hảo; chẳng lìa tan ba mươi hai tướng Đại sĩ, tám mươi tùy hảo. Chẳng hòa hợp pháp vô vong thất, tánh hằng trụ xả; chẳng lìa tan pháp vô vong thất, tánh hằng trụ xả.

Chẳng hòa hợp nhất thiết trí, đạo tướng trí, nhất thiết tướng trí; chẳng lìa tan nhất thiết trí, đạo tướng trí, nhất thiết tướng trí. Chẳng hòa hợp quả Dự lưu cho đến Độc giác Bồ đề; chẳng lìa tan quả Dự lưu cho đến Độc giác Bồ đề. Chẳng hòa hợp hạnh Bồ tát Ma ha tát, chư Phật Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề; chẳng lìa tan Bồ tát Ma ha tát, chư Phật Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Vì cớ sao? Các pháp như thế đều không tự tánh có thể khiến hòa hợp và lìa tan vậy.

Như vậy, Xá Lợi Tử! Các Bồ tát Ma ha tát khi hành Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm mạnh mẽ chính siêng tu đạo Bồ đề.

Khi ấy, Xá Lợi Tử lại thưa Phật rằng: Nếu tất cả pháp đều không tự tánh có thể khiến hòa hợp và lìa tan ấy. Bồ tát Ma ha tát làm sao dẫn phát Bát nhã Ba la mật đa tu học với trong. Nếu Bồ tát Ma ha tát chẳng học Bát nhã Ba la mật đa, quyết chẳng hay được sở cầu Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề?

Phật bảo: Xá Lợi Tử! Như vậy, như vậy. Như ngươi đã nói. Nếu Bồ tát Ma ha tát chẳng học Bát nhã Ba la mật đa, quyết chẳng hay được sở cầu Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề.

Xá Lợi Tử! Nếu Bồ tát Ma ha tát cầu chứng Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề cần học Bát nhã Ba la mật đa mới hay chứng được.

Xá Lợi Tử! Nếu Bồ tát Ma ha tát sở cầu Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, cần có phương tiện khéo léo mới hay chứng được, chẳng phải không phương tiện khéo léo mà hay chứng được.

Xá Lợi Tử! Các Bồ tát Ma ha tát khi hành Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm, nếu thấy có pháp tự tánh khá được thời nên khá lấy, chẳng thấy có pháp tự tánh khá được thời lấy cái gì? Chỗ gọi chẳng lấy đây là Bát nhã Ba la mật đa, đây là tĩnh lự, tinh tiến, an nhẫn, tịnh giới, bố thí Ba la mật đa. Đây là sắc uẩn cho đến thức uẩn. Đây là nhãn xứ cho đến ý xứ. Đây là sắc xứ cho đến pháp xứ. Đây là nhãn giới cho đến ý giới. Đây là sắc giới cho đến pháp giới. Đây là nhãn thức giới cho đến ý thức giới. Đây là nhãn xúc cho đến ý xúc. Đây là nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ cho đến ý xúc làm duyên sanh ra các thọ.

Đây là địa giới cho đến thức giới. Đây là nhân duyên cho đến tăng thượng duyên. Đây là các pháp theo duyên sanh ra. Đây là vô minh cho đến lão tử. Đây là nội không cho đến vô tánh tự tánh không. Đây là chơn như cho đến bất tư nghì giới. Đây là khổ tập diệt đạo thánh đế. Đây là bốn niệm trụ cho đến tám thánh đạo chi.

Đây là bốn tĩnh lự, bốn vô lượng, bốn vô sắc định. Đây là không, vô tướng, vô nguyện giải thoát môn. Đây là tám giải thoát cho đến mười biến xứ. Đây là Tịnh quán địa cho đến Như Lai địa. Đây là Cực hỷ địa cho đến Pháp vân địa. Đây là đà la ni môn, tam ma địa môn. Đây là năm nhãn, sáu thần thông.

Đây là Như Lai mười lực cho đến mười tám pháp Phật bất cộng. Đây là đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả. Đây là ba mươi hai tướng Đại sĩ, tám mươi tùy hảo. Đây là pháp vô vong thất, tánh hằng trụ xả. Đây là nhất thiết trí, đạo tướng trí, nhất thiết tướng trí. Đây là quả Dự lưu cho đến Độc giác Bồ đề. Đây là tất cả hạnh Bồ tát Ma ha tát. Đây là Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Đây là dị sanh, đây là Thanh văn, đây là Độc giác, đây là Bồ tát Ma ha tát, đây là Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác.

Xá Lợi Tử! Các Bồ tát Ma ha tát hành Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm, như thật biết rõ tất cả pháp tánh đều chẳng thể lấy. Chỗ gọi bát nhã cho đến bố thí Ba la mật đa đều chẳng thể lấy. Sắc uẩn cho đến thức uẩn đều chẳng thể lấy. Nhãn xứ cho đến ý xứ đều chẳng thể lấy. Sắc xứ cho đến pháp xứ đều chẳng thể lấy. Nhãn giới cho đến ý giới đều chẳng thể lấy. Sắc giới cho đến pháp giới đều chẳng thể lấy. Nhãn thức giới cho đến ý thức giới đều chẳng thể lấy. Nhãn xúc cho đến ý xúc đều chẳng thể lấy. Nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ cho đến ý xúc làm duyên sanh ra các thọ đều chẳng thể lấy.

Địa giới cho đến thức giới đều chẳng thể lấy. Nhân duyên cho đến tăng thượng duyên đều chẳng thể lấy. Các pháp theo duyên sanh ra đều chẳng thể lấy. Vô minh cho đến lão tử đều chẳng thể lấy. Bốn niệm trụ cho đến tám thánh đạo chi đều chẳng thể lấy. Nội không cho đến vô tánh tự tánh không đều chẳng thể lấy. Chơn như cho đến bất tư nghì giới đều chẳng thể lấy. Khổ tập diệt đạo thánh đế đều chẳng thể lấy. Bốn tĩnh lự, bốn vô lượng, bốn vô sắc định đều chẳng thể lấy. Không, vô tướng, vô nguyện giải thoát môn đều chẳng thể lấy. Tám giải thoát cho đến mười biến xứ đều chẳng thể lấy. Tịnh quán địa cho đến Như Lai địa đều chẳng thể lấy. Cực hỷ địa cho đến Pháp vân địa đều chẳng thể lấy. Đà la ni môn, tam ma địa môn đều chẳng thể lấy. Năm nhãn, sáu thần thông đều chẳng thể lấy. Như Lai mười lực cho đến mười tám pháp Phật bất cộng đều chẳng thể lấy. Đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả đều chẳng thể lấy. Ba mươi hai tướng Đại sĩ, tám mươi tùy hảo đều chẳng thể lấy. Pháp vô vong thất, tánh hằng trụ xả đều chẳng thể lấy. Nhất thiết trí, đạo tướng trí, nhất thiết tướng trí đều chẳng thể lấy. Quả Dự lưu cho đến Độc giác Bồ đề đều chẳng thể lấy. Tất cả hạnh Bồ tát Ma ha tát, chư Phật Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề đều chẳng thể lấy. Tất cả dị sanh, Thanh văn, Độc giác, Bồ tát, Như Lai đều chẳng thể lấy.

Xá Lợi Tử! Các Bồ tát Ma ha tát hành Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm như thật biết rõ tất cả pháp tánh đều chẳng thể lấy, nên đối tất cả pháp được không chướng ngại.

Xá Lợi Tử! Chẳng thể lấy Ba la mật đa đây tức là không chướng Ba la mật đa. Không chướng Ba la mật đa như thế tức là Bát nhã Ba la mật đa. Các Bồ tát Ma ha tát nên học với trong.

Xá Lợi Tử! Nếu Bồ tát Ma ha tát năng học nơi trong đối tất cả pháp đều vô sở đắc, hãy chẳng đắc học huống đắc Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, huống đắc Bát nhã Ba la mật đa, huống đắc pháp dị sanh, Thanh văn, Độc giác, Bồ tát, Phật. Vì cớ sao? Xá Lợi Tử! Không có chút pháp thật có tự tánh. Trong tất cả pháp không có tự tánh, những pháp nào là dị sanh, những pháp nào là Dự lưu cho đến chư Phật? Xá Lợi Tử! Các pháp như thế đã bất khả đắc, nương những pháp nào có thể thi thiết bổ đặc già la? Bổ đặc già la đã chẳng thể được, làm sao nên nói đây là dị sanh, đây là Dự lưu cho đến Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác?

Khi ấy, Xá Lợi Tử bèn thưa Phật rằng: Nếu tất cả pháp đều không tự tánh, đều chẳng thật có, nương những việc nào mà biết rõ được đây là dị sanh, đây là pháp dị sanh; nói rộng cho đến đây là Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, đây là pháp Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác?

Phật bảo: Xá Lợi Tử! Nơi ý hiểu sao? Vì thật có sắc hoặc đã hoặc sẽ như các ngu phu dị sanh chấp chăng? Vì thật có thọ tưởng hành thức hoặc đã hoặc sẽ như các ngu phu dị sanh chấp chăng? Nói rộng cho đến vì thật có chư Phật Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề hoặc đã hoặc sẽ như các ngu phu dị sanh chấp chăng? Vì thật không dị sanh cho đến Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác hoặc đã hoặc sẽ như các ngu phu dị sanh chấp chăng?

Xá Lợi Tử thưa: Bạch Thế Tôn! Chẳng thật có, chỉ bởi ngu phu dị danh điên đảo chấp có như thế.

Phật bảo: Xá Lợi Tử! Các Bồ tát Ma ha tát hành Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm phương tiện khéo léo, mặc dù quán các pháp đều không tự tánh đều chẳng thật có, mà nương thế tục phát tới Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, vì các hữu tình phương tiện tuyên nói khiến được chính hiểu, lìa các điên đảo.

Khi ấy, Xá Lợi Tử lại thưa Phật rằng: Bồ tát Ma ha tát làm sao khi hành Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm phương tiện khéo léo. Do sức phương tiện khéo léo đây nên mặc dù quán các pháp không tự tánh, đều chẳng thật có, mà nương thế tục phát tới Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, vì các hữu tình phương tiện tuyên nói khiến được chính hiểu lìa các điên đảo?

Phật bảo: Xá Lợi Tử! Các Bồ tát Ma ha tát khi hành Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm trọn nên phương tiện khéo léo như vầy: Nghĩa là trọn chẳng thấy có chút thật pháp khá trụ nơi trong. Do trụ nơi trong mà có ngăn ngại. Do ngăn ngại nên có lui mất. Do lui mất nên tâm bèn kém yếu. Vì tâm kém yếu mới sanh lười nhác.

Xá Lợi Tử! Vì tất cả pháp đều không thật sự, không ngã ngã sở, đều dùng vô tánh mà làm tự tánh, bản tánh trống vắng, tự tướng trống vắng. Duy có tất cả ngu phu dị sanh mê lầm điên đảo chấp trước sắc uẩn cho đến thức uẩn. Chấp trước nhãn xứ cho đến ý xứ. Chấp trước sắc xứ cho đến pháp xứ. Chấp trước nhãn giới cho đến ý giới. Chấp trước sắc giới cho đến pháp giới. Chấp trước nhãn thức giới cho đến ý thức giới. Chấp trước nhãn xúc cho đến ý xúc. Chấp trước nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ cho đến ý xúc làm duyên sanh ra các thọ.

Chấp trước địa giới cho đến thức giới. Chấp trước nhân duyên cho đến tăng thượng duyên. Chấp trước các pháp theo duyên sanh ra. Chấp trước vô minh cho đến lão tử. Chấp trước bố thí cho đến bát nhã Ba la mật đa. Chấp trước nội không cho đến vô tánh tự tánh không. Chấp trước chơn như cho đến bất tư nghì giới. Chấp trước khổ tập diệt đạo thánh đế. Chấp trước bốn niệm trụ cho đến tám thánh đạo chi. Chấp trước bốn tĩnh lự, bốn vô lượng, bốn vô sắc định. Chấp trước không, vô tướng, vô nguyện giải thoát môn. Chấp trước tám giải thoát cho đến mười biến xứ.

Chấp trước Tịnh quán địa cho đến Như Lai địa. Chấp trước Cực hỷ địa cho đến Pháp vân địa. Chấp trước đà la ni môn, tam ma địa môn. Chấp trước năm nhãn, sáu thần thông. Chấp trước Như Lai mười lực cho đến mười tám pháp Phật bất cộng. Chấp trước đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả. Chấp trước ba mươi hai tướng Đại sĩ, tám mươi tùy hảo. Chấp trước pháp vô vong thất, tánh hằng trụ xả. Chấp trước nhất thiết trí, đạo tướng trí, nhất thiết tướng trí. Chấp trước quả Dự lưu cho đến Độc giác Bồ đề. Chấp trước hạnh Bồ tát Ma ha tát. Chấp trước Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Chấp trước dị sanh cho đến Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác.

Do nhân duyên đây các Bồ tát Ma ha tát quán tất cả pháp đều không thật sự, không ngã ngã sở, đều dùng vô tánh mà làm tự tánh, bản tánh trống vắng, tự tướng trống vắng. Hành Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm, tự lập như thầy huyễn vì các hữu tình thuyết pháp: Với các kẻ tham lam vì thuyết bố thí. Với các kẻ phạm giới vì thuyết tịnh giới. Với các kẻ giận dữ vì thuyết an nhẫn. Với các kẻ lười nhác vì thuyết tinh tiến. Với các kẻ tán loạn vì thuyết tĩnh lự. Với các kẻ ác huệ vì thuyết bát nhã. Bồ tát Ma ha tát này an lập hữu tình khiến trụ bố thí cho đến bát nhã Ba la mật đa rồi, lại vì tuyên thuyết Thánh pháp thù thắng năng ra sanh tử, khiến các hữu tình nương đó tu học hoặc được quả Dự lưu, hoặc được quả Nhất lai, hoặc được quả Bất hoàn, hoặc được quả A la hán, hoặc được Độc giác Bồ đề, hoặc vào ngôi Bồ tát Ma ha tát, hoặc trụ Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề.

Khi ấy, Xá Lợi Tử lại thưa Phật rằng: Các Bồ tát Ma ha tát khi hành Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm, vì sao chẳng gọi kẻ hữu sở đắc, là các hữu tình thật không sở hữu, mà khiến an trụ bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tĩnh lự, bát nhã Ba la mật đa, lại vì tuyên nói Thánh pháp thù thắng năng ra sanh tử, hoặc khiến được quả Dự lưu cho đến hoặc khiến chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề.

Phật bảo: Xá Lợi Tử! Các Bồ tát Ma ha tát khi hành Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm đối các hữu tình chẳng có sở đắc. Sở dĩ vì sao? Bồ tát Ma ha tát khi hành Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm, chẳng thấy hữu tình chút thật khá được, duy chỉ có thế tục giả nói hữu tình.

Xá Lợi Tử! Các Bồ tát Ma ha tát khi hành Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm an trụ hai đế vì các hữu tình tuyên nói Chánh pháp. Những gì là hai? Một là thế tục, hai là thắng nghĩa.

Xá Lợi Tử! Tuy trong hai đế hữu tình thi thiết đều bất khả đắc, mà các Bồ tát Ma ha tát khi hành Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm, phương tiện khéo léo vì các hữu tình tuyên nói pháp yếu, khiến các hữu tình nghe Chánh pháp rồi, đối trong hiện pháp hãy chẳng đắc ngã, huống nào sẽ đắc sở cầu Thánh quả.

Như vậy, Xá Lợi Tử! Bồ tát Ma ha tát hành Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm phương tiện khéo léo, tuy vì các hữu tình tuyên nói pháp yếu, khiến tu chánh hạnh đắc quả sở chứng, mà tâm đối kia đều vô sở đắc, vì biết rõ các pháp bất khả đắc vậy.

Khi ấy, Xá Lợi Tử bèn thưa Phật rằng: Các Bồ tát Ma ha tát này là chơn Bồ tát Ma ha tát. Mặc dù đối các pháp chẳng đắc nhất tánh, chẳng đắc dị tánh, chẳng đắc tổng tánh, chẳng đắc biệt tánh mà mặc áo giáp đại công đức như thế.

Do mặc áo giáp đại công đức như thế, chẳng sanh cõi Dục, chẳng sanh cõi Sắc, chẳng sanh cõi Vô sắc, chẳng thấy giới hữu vi, chẳng thấy giới vô vi. Tuy hóa hữu tình khiến ra ba cõi mà đối hữu tình đều vô sở đắc, cũng lại chẳng đắc thi thiết hữu tình. Vì thi thiết hữu tình chẳng thể đắc, nên không buộc không mở. Vì không buộc mở, nên không nhiễm không tịnh. Vì không nhiễm tịnh, nên các thú sai khác chẳng thể biết rõ. Vì các thú sai khác chẳng thể biết rõ, nên không nghiệp không phiền não. Vì không nghiệp không phiền não, nên cũng không quả dị thục. Đã không quả dị thục thời làm sao được có ngã và hữu tình trôi lăn các thú, sanh ba cõi thảy các thú sai khác?

Phật bảo: Xá Lợi Tử! Như vậy, như vậy. Như ngươi đã nói. Xá Lợi Tử! Nếu loại hữu tình trước có sau không, Bồ tát, Như Lai lẽ có lầm lỗi. Trước không sau có, lý cũng chẳng phải. Các thú lộn quanh có không cũng thế.

Vậy nên, Xá Lợi Tử! Hoặc Như Lai ra đời hoặc chẳng ra đời, pháp tánh thường trụ, chơn như pháp giới tánh chẳng hư dối, trọn không cải đổi. Vì tất cả pháp tánh, pháp giới, pháp trụ, pháp định, chơn như, thật tế giống như hư không. Trong đây hãy không ngã thảy khá được, huống có sắc thảy các pháp khá được. Đã không sắc thảy các pháp khá được, làm sao mà có các thú lộn quanh. Các thú lộn quanh đã chẳng khá được, làm sao sẽ có thành thục hữu tình khiến kia giải thoát? Chỉ nương thế tục giả nói là có.

Xá Lợi Tử! Vì pháp như thế tự tánh đều không, các Bồ tát Ma ha tát theo Phật quá khứ như thật nghe rồi, vì mở điên đảo chấp trước hữu tình, cầu tới Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Với khi cầu tới chẳng khởi nghĩ này: “Ta đối pháp đây đã được sẽ được, khiến hữu tình kia đã độ sẽ độ chỗ bị chấp trước sanh tử nhiều khổ”.

Xá Lợi Tử! Bồ tát Ma ha tát này vì thoát điên đảo chấp trước hữu tình, mặc giáp công đức đại thệ trang nghiêm, mạnh mẽ chính siêng không gì luyến tiếc, chẳng lui Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Hằng đối Bồ đề chẳng sanh nghi ngờ rằng ta sẽ được chẳng sẽ được ư? Chỉ chính nghĩ rằng: Ta định sẽ được sở cầu Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, làm nhiêu ích chơn thật các hữu tình là khiến giải thoát mê lầm điên đảo, lộn quanh các thú chịu khổ sanh tử.

Xá Lợi Tử! Bồ tát Ma ha tát này tuy thoát mê lầm điên đảo các thú sanh tử hữu tình mà không sở đắc, duy chỉ nương thế tục nói có việc này.

Xá Lợi Tử! Như Thầy huyễn giỏi hoặc học trò kia, y huyễn thuật thường hóa làm vô lượng trăm ngàn trăm ức muôn ức chúng. Lại hóa nhiều thức uống ăn ngon hạng thượng, thí huyễn hữu tình đều khiến no nê. Làm việc này rồi, vui mừng xướng rằng: Tôi đã được đống phước rộng lớn! Nơi ý hiểu sao? Thầy huyễn giỏi đây hoặc học trò kia thật khiến hữu tình được no nê chăng?

Xá Lợi Tử thưa: Bạch Thế Tôn! Chẳng thật.

Phật bảo: Xá Lợi Tử! Các Bồ tát Ma ha tát cũng lại như thế. Từ sơ phát tâm vì muốn độ thoát các hữu tình nên tu hành bố thí cho đến bát nhã Ba la mật đa. An trụ nội không cho đến vô tánh tự tánh không. An trụ chơn như cho đến bất tư nghì giới. An trụ khổ tập diệt đạo thánh đế.

Tu hành bốn niệm trụ cho đến tám thánh đạo chi. Tu hành bốn tĩnh lự, bốn vô lượng, bốn vô sắc định. Tu hành không, vô tướng, vô nguyện giải thoát môn. Tu hành tám giải thoát cho đến mười biến xứ. Tu hành Cực hỷ địa cho đến Pháp vân địa. Tu hành đà la ni môn, tam ma địa môn. Tu hành năm nhãn, sáu thần thông. Tu hành Như Lai mười lực cho đến mười tám pháp Phật bất cộng. Tu hành đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả. Tu hành ba mươi hai tướng Đại sĩ, tám mươi tùy hảo. Tu hành pháp vô vong thất, tánh hằng trụ xả. Tu hành nhất thiết trí, đạo tướng trí, nhất thiết tướng trí. Viên mãn Bồ tát đạo Đại Bồ đề. Thành thục hữu tình, nghiêm tịnh cõi Phật.

Xá Lợi Tử! Các Bồ tát Ma ha tát mặc dù làm việc đây mà đối hữu tình và tất cả pháp đều vô sở đắc. Chẳng khởi nghĩ này: Ta đem pháp đây điều phục các loại hữu tình như thế khiến nó xa lìa điên đảo chấp trước, chẳng còn qua lại chịu khổ sanh tử nữa.

Bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện bèn thưa Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Sao gọi Bồ tát đạo Đại Bồ đề, các Bồ tát Ma ha tát tu hành đạo này phương tiện khéo léo, thành thục hữu tình, nghiêm tịnh cõi Phật, mau chứng Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề?

Phật bảo: Thiện Hiện! Các Bồ tát Ma ha tát từ sơ phát tâm sở tu bố thí cho đến bát nhã Ba la mật đa, nói rộng cho đến sở tu nhất thiết trí, đạo tướng trí, nhất thiết tướng trí và vô lượng vô biên Phật pháp khác, đều là Bồ tát đạo Đại Bồ đề. Các Bồ tát Ma ha tát tu hành đạo đây phương tiện khéo léo, thành thục hữu tình, nghiêm tịnh cõi Phật, mau chứng Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề mà không tưởng hữu tình cõi Phật thảy.

Cụ thọ Thiện Hiện lại thưa Phật rằng: Sao là Bồ tát Ma ha tát khi hành bố thí Ba la mật đa phương tiện khéo léo, thành thục hữu tình?

Phật bảo: Thiện Hiện! Có Bồ tát Ma ha tát khi tu hành bố thí Ba la mật đa phương tiện khéo léo, tự hành bố thí, cũng khuyên người hành bố thí. Ân cần dạy răn dạy trao kia rằng: “Các thiện nam tử! Chớ chấp bố thí. Nếu chấp bố thí sẽ thọ thân lại. Nếu lại thọ thân, bởi đấy lần lữa phảI chịu vô lượng vô biên khổ lớn. Các thiện nam tử! Trong lý thắng nghĩa trọn không bố thí, cũng không kẻ thí, kẻ nhận, vật thí và các quả thí. Các pháp như vậy bản tánh đều không. Trong bản tánh không, không pháp khá lấy, các pháp tánh không cũng chẳng thể lấy”.

Như vậy, Thiện Hiện! Các Bồ tát Ma ha tát khi tu hành bố thí Ba la mật đa, mặc dù đối hữu tình tự năng hành thí, cũng khuyên người thí mà đối bố thí, kẻ thí, kẻ nhận, vật thí, quả thí đều vô sở đắc. Bố thí Ba la mật đa như thế gọi vô sở đắc Ba la mật đa.

Thiện Hiện phải biết: Bồ tát Ma ha tát này khi đối các pháp vô sở đắc này phương tiện khéo léo, năng hóa hữu tình trụ quả Dự lưu, nói rộng cho đến hoặc tới Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề.

Như vậy, Thiện Hiện! Các Bồ tát Ma ha tát khi tu hành bố thí Ba la mật đa thành thục hữu tình khiến được lợi vui.

Thiện Hiện phải biết: Bồ tát Ma ha tát này tự hành bố thí cũng khuyên người hành bố thí, hằng chính xưng nêu pháp hành bố thí, vui mừng khen ngợi kẻ hành bố thí. Bồ tát Ma ha tát này tu hành đại bố thí như thế rồi, hoặc sanh đại tộc Sát đế lợi, hoặc sanh đại tộc Bà la môn, hoặc sanh đại tộc Trưởng giả, hoặc sanh đại tộc Cư sĩ giàu có của cải sang trọng đầy đủ; hoặc làm Tiểu vương cứ một cõi nước nhỏ giàu sang tự tại, hoặc làm Đại vương cứ một cõi nước lớn giàu sang tự tại, hoặc làm Đại luân vương ở cõi bốn châu giàu sang tự tại.

Bồ tát Ma ha tát này sanh những chỗ như thế thảy dùng bốn nhiếp sự thu nhiếp các hữu tình. Trước dạy hữu tình an trụ bố thí, do đây lần hồi khiến tu tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tĩnh lự, bát nhã. Lại khiến an trụ bốn tĩnh lự, bốn vô lượng, bốn vô sắc định. Lại khiến an trụ ba mươi bảy thứ phần pháp Bồ đề. Lại khiến an trụ ba môn giải thoát.

Bồ tát Ma ha tát này khiến các hữu tình trụ các thiện pháp như thế thảy rồi, hoặc khiến tới vào Chánh tánh ly sanh, được quả Dự lưu cho đến được quả A la hán. Hoặc khiến tới vào Chánh tánh ly sanh lần hồi chứng được Độc giác Bồ đề. Hoặc khiến tới vào Chánh tánh ly sanh lần hồi tu học các bậc Bồ tát, mau chứng Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề.

Lại bảo kia rằng: “Các thiện nam tử! Phải phát đại nguyện mau tới Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, làm việc nhiêu ích thù thắng các hữu tình. Các loại hữu tình hư vọng phân biệt sở chấp các pháp đều không tự tánh, chỉ bởi điên đảo vọng chấp cho là có. Vậy nên, các ngươi phải siêng tin tiến tự dứt điên đảo, cũng khuyên người dứt; tự thoát sanh tử, cũng khiến người thoát; tự được đại lợi, cũng khiến người được.”

Xem Mục Lục

Top Book

Top Book Mp3

Top Music Album

 
© Copyright 2013 - 2019 PHATAM.ORG - Chịu trách nhiệm nội dung: Thị Đức bienman0811@yahoo.com - Hỗ trợ kỹ thuật votamthoai@gmail.com