Xem Mục Lục

  KINH ĐẠI BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA - Hán dịch: Pháp Sư Huyền Trang - Việt dịch: Hòa Thượng Trí Nghiêm
(Ấn hành năm 1999 - 24 Tập - 600 Quyển )

 Quyển Thứ 526: Hội thứ ba Phẩm Phương Tiện Khéo Léo thứ 26-4

Kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa - Tập 22

Quyển Thứ 526: Hội thứ ba Phẩm Phương Tiện Khéo Léo thứ 26-4

Hòa Thượng Thích Trí Nghiêm

Bấy giờ, Thiện Hiện lại thưa Phật rằng: Thế Tôn thường nói Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm. Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm nương nghĩa nào nên gọi là Bát nhã Ba la mật đa?

Phật bảo: Thiện Hiện! Do Bát nhã Ba la mật đa đây, tất cả pháp đến bờ kia rốt ráo, nương nghĩa đây nên gọi là Bát nhã Ba la mật đa.

Lại nữa, Thiện Hiện! Do Bát nhã Ba la mật đa đây Thanh văn, Độc giác, Bồ tát, Như Lai năng đến bờ kia, nương nghĩa đây nên gọi là Bát nhã Ba la mật đa.

Lại nữa, Thiện Hiện! Do Bát nhã Ba la mật đa đây y theo lý thắng nghĩa phân tách các pháp cho đến không có phần chút khá được, nương nghĩa đây nên gọi là Bát nhã Ba la mật đa.

Lại nữa, Thiện Hiện! Do Bát nhã Ba la mật đa đây nhiếp chứa chơn như, pháp giới, pháp tánh, nói rộng cho đến bất tư nghì giới, nương nghĩa đây nên gọi là Bát nhã Ba la mật đa.

Lại nữa, Thiện Hiện! Do Bát nhã Ba la mật đa đây không có chút pháp hoặc tương ưng hoặc chẳng tương ưng, hoặc có sắc hoặc không sắc, hoặc có thấy hoặc không thấy, hoặc có đối hoặc không đối, nương nghĩa đây nên gọi là Bát nhã Ba la mật đa. Sở dĩ; vì sao? Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm chẳng tương ưng chẳng phải chẳng tương ưng, không sắc, không thấy, không đối, nhất tướng, chỗ gọi vô tướng.

Lại nữa, Thiện Hiện! Do Bát nhã Ba la mật đa đây năng sanh tất cả thắng pháp lành thù thắng, năng phát tất cả biện tài trí huệ, năng dẫn tất cả vui thế gian xuất thế gian, năng soi tất cả nghĩa lý sâu thẳm, nương nghĩa đây nên gọi là Bát nhã Ba la mật đa.

Lại nữa, Thiện Hiện! Do Bát nhã Ba la mật đa đây lý thú vững chắc chẳng thể động hoại, nương nghĩa đây nên gọi là Bát nhã Ba la mật đa.

Thiện Hiện phải biết: Nếu Bồ tát Ma ha tát hành Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm, tất cả ác ma và dòng họ chúng, Thanh văn, Độc giác, ngoại đạo phạm chí, bạn ác oán thù đều chẳng năng phá hoại được. Sở dĩ vì sao? Do vì trong kinh Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm đây nói tất cả pháp đều tự tướng không, nên các ác ma thảy chẳng thể làm gì được. Thiện Hiện! Phải biết các Bồ tát Ma ha tát nên theo thật nghĩa mà hành Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm, nghĩa là tất cả pháp tự tướng đều không, tất cả ác duyên không động hoại được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Các Bồ tát Ma ha tát muốn hành nghĩa thú Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm, đem vô sở đắc mà làm phương tiện nên hành nghĩa vô thường, nghĩa khổ, nghĩa không, nghĩa vô ngã; cũng nên hành nghĩa khổ trí, nghĩa tập trí, nghĩa diêt trí, nghĩa đạo trí, nghĩa pháp trí, nghĩa loại trí, nghĩa thế tục trí, nghĩa tha tâm trí, nghĩa tận trí, nghĩa vô sanh trí, nghĩa như thuyết trí. Như vậy, Thiện Hiện! Các Bồ tát Ma ha tát vì hành nghĩa thú Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm nên hành Bát nhã Ba la mật đa.

Cụ thọ Thiện Hiện lại thưa Phật rằng: Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm nghĩa cùng phi nghĩa đều bất khả đắc. Bồ tát Ma ha tát làm sao vì hành Bát nhã Ba la mật đa nghĩa thú sâu thẳm nên hành Bát nhã Ba la mật đa?

Phật bảo: Thiện Hiện! Các Bồ tát Ma ha tát vì hành Bát nhã Ba la mật đa nghĩa thú sâu thẳm nên khởi nghĩ này: "Ta chẳng nên hành tham dục phi nghĩa, ta chẳng nên hành sân nhuế phi nghĩa, ta chẳng nên hành ngu si phi nghĩa, ta chẳng nên hành kiêu mạn phi nghĩa, ta chẳng nên hành tà kiến phi nghĩa, ta chẳng nên hành cho đến tất cả kiến thú phi nghĩa. Cũng chẳng nên hành tham dục sân nhuế, ngu si, kiêu mạn, tà kiến, kiến thú và các pháp nghĩa khác". Sở dĩ vì sao? Vì chơn như, thật tế, tham sân si thảy chẳng cùng các pháp làm nghĩa phi nghĩa.

Lại nữa, Thiện Hiện! Các Bồ tát Ma ha tát vì hành Bát nhã Ba la mật đa nghĩa thú sâu thẳm nên khởi nghĩ này: "Ta chẳng nên hành sắc nghĩa phi nghĩa, ta chẳng nên hành thọ tưởng hành thức nghĩa phi nghĩa. Nói rộng cho đến ta chẳng nên hành chư Phật Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề nghĩa phi nghĩa. Ta chẳng nên hành Nhất thiết trí trí nghĩa phi nghĩa". Sở dĩ vì sao? Vì khi Phật được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề tìm tất cả pháp nghĩa cùng phi nghĩa đều bất khả đắc.

Thiện Hiện! Phải biết chư Phật ra đời hoặc chẳng ra đời, các pháp pháp giới, pháp trụ, pháp đinh lẽ vậy thường trụ, không có pháp đối pháp làm nghĩa phi nghĩa. Như vậy, Thiện Hiện! Các Bồ tát Ma ha tát nên lìa chấp tất cả nghĩa phi nghĩa mới hành nghĩa thú Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm.

Cụ thọ Thiện Hiện lại thưa Phật rằng: Vì nhân duyên nào Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm chẳng cùng các pháp làm nghĩa phi nghĩa?

Phật bảo: Thiện Hiện! Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm đối pháp hữu vi và pháp vô vi đều không sở tác, chẳng ơn chẳng oán, không ích không tổn. Bởi nhân duyên đây chẳng cùng các pháp làm nghĩa phi nghĩa.

Cụ thọ Thiện Hiện lại thưa Phật rằng: Đâu chẳng chư Phật và đệ tử Phật, tất cả Hiền Thánh đều không lấy vô vi làm nghĩa chỗ tới?

Phật bảo: Thiện Hiện! Như vậy, như vậy. Như ngươi đã nói. Tất cả Hiền Thánh đều lấy vô vi làm nghĩa chỗ tới. Nhưng pháp vô vi chẳng cùng các pháp làm ích làm tổn. Ví như hư không, chơn như, thật tế chẳng cùng các pháp làm ích làm tổn. Các Bồ tát Ma ha tát Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm cũng lại như thế, chẳng cùng các pháp làm ích làm tổn. Vậy nên, Bát nhã Ba la mật đa chẳng cùng các pháp làm nghĩa phi nghĩa.

Cụ thọ Thiện Hiện lại thưa Phật rằng: Các Bồ tát Ma ha tát đâu chẳng cần học vô vi Bát nhã Ba la mật đa mới năng chứng được Nhất thiết trí trí?

Phật bảo: Thiện Hiện! Như vậy, như vậy. Như ngươi đã nói. Các Bồ tát Ma ha tát cần học vô vi Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm mới năng chứng được Nhất thiết trí trí, đem pháp chẳng hai mà làm phương tiện.

Thiện hiện lại hỏi: Vì đem pháp chẳng hai được pháp chẳng hai ư? Phật nói: Chẳng phải.

Thiện hiện lại hỏi: Vì đem hai pháp được pháp chẳng hai ư? Phật nói: Chẳng phải.

Thiện hiện thưa rằng: Nếu không hai pháp đem pháp chẳng hai, được pháp chẳng hai, các Bồ tát Ma ha tát làm sao sẽ được Nhất thiết trí trí?

Phật bảo: Thiện Hiện! Pháp hai chẳng hai đều bất khả đắc. Vậy nên sở đắc Nhất thiết trí trí chẳng đem hai pháp được pháp chẳng hai. Nhưng pháp vô sở đắc năng được vô sở đắc. Sở dĩ vì sao? Vì Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm và Nhất thiết trí trí đều bất khả đắc, nên không đắc mà đắc mới gọi chơn đắc.

Bấy giờ, Thiện Hiện bèn thưa Phật rằng: Bát nhã Ba la mật đa như thế rất cực sâu thẳm. Các Bồ tát Ma ha tát năng làm việc khó, chẳng đắc hữu tình cũng lại chẳng đắc thi thiết hữu tình mà vì hữu tình cầu tới Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Ví như có người trồng cây giữa không là việc rất khó. Các Bồ tát Ma ha tát cũng lại như thế, chẳng đắc hữu tình và thi thiết kia, mà vì hữu tình cầu tới Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề là việc cực khó.

Phật bảo: Thiện Hiện! Như vậy, như vậy. Như ngươi đã nói. Bát nhã Ba la mật đa như thế rất cực sâu thẳm. Các Bồ tát Ma ha tát năng làm việc khó, chẳng đắc hữu tình cũng lại chẳng đắc thi thiết hữu tình, mà vì hữu tình cầu tới Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề.

Thiện Hiện phải biết: Các Bồ tát Ma ha tát mặc dù chẳng thấy có hữu tình và thi thiết kia chơn thật, mà các hữu tình ngu si đên đảo chấp là thật có, chìm ngấm sanh tử chịu khổ vô cùng. Vì cứu vớt kia nên cầu tới Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Được Bồ đề rồi phương tiện khéo léo mà độ thoát đó. Ví như có người trồng cây đất tốt, người này mặc dù chẳng biết gốc thân nhánh lá hoa quả cây đây ai hưởng, mà trồng cây rồi tùy thời bón tưới siêng chăm giữ hộ. Về sau cây này lần được khôn lớn, gốc thân nhánh lá hoa quả thịnh mậu, được nhiều người thọ dụng hết bệnh tật, được an lành. Các Bồ tát Ma ha tát cũng lại như thế, mặc dù chẳng thấy có Phật quả, hữu tình, mà vì hữu tình cầu tới Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, lần hồi tu hành sáu đến bờ kia và vô lượng Bồ đề phần pháp khác. Đã viên mãn rồi, chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, khiến các hữu tình thọ dụng nhánh lá hoa quả cây Phật đều được nhiêu ích. Thiện Hiện! Phải biết nhiêu ích nhánh lá là các hữu tình nương cây Phật đây thoát khổ ác thú. Nhiêu ích của hoa là các hữu tình nương cây Phật đây hoặc sanh đại tộc Sát đế lợi cho đến hoặc sanh đại tộc Cư sĩ, hoặc trời Bốn đại vương chúng cho đến hoặc sanh trời Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Nhiêu ích của quả là các hữu tình nương cây Phật đây hoặc chứng quả Dự lưu cho đến hoặc chứng Độc giác Bồ đề, hoặc chứng Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Các hữu tình này được Bồ đề rồi lại dùng nhánh lá hoa quả cây Phật nhiêu ích cho hữu tình, khiến các hữu tình thoát khổ ác thú, được vui người trời, lần hồi an lập khiến vào Tam thừa, vào cõi Niết bàn.

Thiện Hiện phải biết: Các Bồ tát Ma ha tát mặc dù làm việc nhiêu ích lớn như thế, mà đều chẳng thấy có thật hữu tình kẻ được Niết bàn, chỉ thấy vọng tưởng các khổ dứt hết. Như vậy, Thiện Hiện! Các Bồ tát Ma ha tát hành Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm, chẳng đắc hữu tình và thi thiết kia, nhưng vì trừ vọng tưởng điên đảo kia, cầu tới Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Do nhân duyên đây làm việc cực khó.

Cụ thọ Thiện Hiện lại thưa Phật rằng: Các Bồ tát Ma ha tát phải biết như Phật. Sở dĩ vì sao? Vì nương các Bồ tát Ma ha tát nên mới năng dứt hẳn được tất cả địa ngục, bàng sanh, quỷ giới, cũng năng dứt hẳn được các khổ ba cõi, tất cả thú hèn kém bần cùng không hở rảnh.

Phật bảo: Thiện Hiện! Như vậy, như vậy. Như ngươi đã nói. Các Bồ tát Ma ha tát nên biết như Phật, nếu thế gian không chúng Bồ tát phát tới Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, thời không có chư Phật ba đời mười phương, cũng không độc giác và các Thanh văn, cũng không có năng dứt hẳn địa ngục, bàng sanh, quỷ giới và những các khổ ba cõi thú hèn kém bần cùng không hở rảnh. Vậy nên, Thiện Hiện! Như ngươi đã nói. Các Bồ tát Ma ha tát phải biết như Phật.

Lại nữa, Thiện Hiện! Phải biết chúng Bồ tát Ma ha tát tức là Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác. Sở dĩ vì sao? Nếu do chơn như đây thi thiết Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, tức do chơn như đây thi thiết Độc giác. Nếu do chơn như đây thi thiết Độc giác, tức do chơn như đây thi thiết Thanh văn. Nếu do chơn như đây thi thiết Thanh văn, tức do chơn như đây thi thiết tất cả Hiền Thánh. Nếu do chơn như đây thi thiết tất cả Hiền Thánh, tức do chơn như đây thi thiết sắc uẩn. Nếu do chơn như đây thi thiết sắc uẩn, tức do chơn như đây thi thiết thọ tưởng hành thức uẩn. Nếu do chơn như đây thi thiết thọ tưởng hành thức uẩn, tức do chơn như đây thi thiết nhãn xứ. Nếu do chơn như đây thi thiết nhãn xứ, tức do chơn như đây thi thiết nhĩ tỷ thiệt thân ý xứ. Như vậy chuyển dần, nói rộng cho đến nếu do chơn như đây thi thiết chư Phật Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, tức do chơn như đây thi thiết Nhất thiết trí trí. Nếu do chơn như đây thi thiết Nhất thiết trí trí, tức do chơn như đây thi thiết hữu vi giới. Nếu do chơn như đây thi thiết hữu vi giới, tức do chơn như đây thi thiết vô vi giới. Nếu do chơn như đây thi thiết vô vi giới, tức do chơn như đây thi thiết tất cả pháp. Nếu do chơn như đây thi thiết tất cả pháp, tức do chơn như đây thi thiết tất cả hữu tình. Nếu do chơn như đây thi thiết tất cả hữu tình, tức do chơn như đây thi thiết tất cả Bồ tát Ma ha tát.

Như vậy, Thiện Hiện! Hoặc Như Lai chơn như, hoặc Độc giác chơn như, hoặc Thanh văn chơn như, hoặc tất cả Hiền Thánh chơn như, hoặc sắc thảy tất cả pháp chơn như, hoặc hữu tình chơn như, hoặc Bồ tát Ma ha tát chơn như, chơn như như thế thật đều không khác. Bởi vì không khác nên gọi tên chơn như. Các Bồ tát Ma ha tát đối chơn như đây tu học viên mãn, chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề nên gọi Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác. Vậy nên, Thiện Hiện! Phải biết chúng Bồ tát Ma ha tát tức là Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, vì tất cả pháp, vì tất cả hữu tình đều lấy chơn như làm định lượng vậy.

Vậy nên, Thiện Hiện! Các Bồ tát Ma ha tát nên học chơn như Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm. Nếu học chơn như Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm tức năng học được tất cả pháp chơn như. Nếu năng học được tất cả pháp chơn như, thời năng viên mãn tất cả pháp chơn như. Nếu năng viên mãn tất cả pháp chơn như, thời đối tất cả pháp chơn như được tự tại. Nếu đối tất cả pháp chơn như được tự tại, thời năng khéo biết tất cả hữu tình căn tánh hơn kém. Nếu năng khéo biết tất cả hữu tình căn tánh hơn kém, thời năng xét biết tất cả hữu tình thắng giải sai khác. Nếu năng xét biết tất cả hữu tình thắng giải sai khác, thời biết tất cả hữu tình chịu quả tự nghiệp. Nếu biết tất cả hữu tình chịu quả tự nghiệp, thời nguyện trí viên mãn. Nếu nguyện trí viên mãn, thời năng tịnh tu diệu trí ba đời. Nếu năng tịnh tu diệu trí ba đời, thời năng viên mãn Nhất thiết trí trí. Nếu năng viên mãn Nhất thiết trí trí, thời năng hành hạnh Bồ tát không trái. Nếu năng hành hạnh Bồ tát không trái, thời năng thành thục hữu tình. Nếu năng thành thục hữu tình, thời năng nghiêm tịnh cõi Phật. Nếu năng nghiêm tịnh cõi Phật, thời năng chứng được sở cầu Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Nếu năng chứng được sở cầu Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, thời năng như thật quay xe diệu pháp. Nếu năng như thật quay xe diệu pháp, thời năng an lập hữu tình nơi đạo Tam thừa không trái. Nếu năng an lập hữu tình nơi đạo Tam thừa không trái, thời mới khiến hữu tình vào cõi Vô dư y Bát Niết bàn. Như vậy, Thiện Hiện! Các Bồ tát Ma ha tát thấy tất cả công đức tự lợi lợi tha như thế thảy, nên mới phát tâm Vô thượng Chánh đẳng giác, mạnh mẽ chính siêng hành Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm vững bền không lui chuyển.

Cụ thọ Thiện Hiện bèn thưa Phật rằng: Nếu Bồ tát Ma ha tát vì muố⮠nhiêu ích các hữu tình nên năng phát tâm Vô thượng Chánh đẳng giác, như nói mà tu hành Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm, thế gian trời, người, a tố lạc thảy đều nên lễ kính?

Phật nói: Thiện Hiện! Như vậy, như vậy. Như ngươi đã nói. Nếu các Bồ tát Ma ha tát vì muố⮠nhiêu ích các hữu tình nên năng phát tâm Vô thượng Chánh đẳng giác, như nói mà tu hành Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm, thế gian, trời, người, a tố lạc thảy đều nên lễ kính.

Bấy giờ, Thiện Hiện lại thưa Phật rằng: Nếu Bồ tát Ma ha tát khắp vì nhiêu ích các loại hữu tình sơ phát tâm Vô thượng Chánh đẳng giác được bấy nhiêu phước?

Phật bảo: Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát này được phước vô lượng, toán đếm thí dụ chỗ chẳng thể kịp được.

Thiện Hiện phải biết: Giả sử tất cả hữu tình đầy nhẫy thế giới Phật Tam thiên đại thiên đều tới Thanh văn hoặc bậc Độc giác. Nơi ý hiểu sao? Các hữu tình này phước ấy nhiều chăng? Thiện Hiện thưa rằng: Bạch Thế Tôn! Rất nhiều. Kia chỗ được phước vô lượng vô biên.

Phật bảo: Thiện Hiện! Kia chỗ được phước với ngươi đã hỏi khắp vì nhiêu ích các loại hữu tình sơ phát tâm Vô thượng Chánh đẳng giác của một Bồ tát Ma ha tát, chỗ được nhóm phước trăm phần chẳng kịp một, ngàn phần chẳng kịp một, như vậy cho đến trăm ngàn trăm ức muôn ức phần cũng chẳng kịp một. Sở dĩ vì sao? Vì có Thanh văn, Độc giác đều nương Bồ tát Ma ha tát, chẳng phải Bồ tát Ma ha tát nương các Thanh văn, Độc giác mà có.

Lại nữa, Thiện Hiện! Thôi tất cả hữu tình đầy thế giới Tam thiên đại thiên đều tới Thanh văn hoặc bậc Độc giác chỗ được nhóm phước, giả sử tất cả hữu tình đầy thế giới Tam thiên đại thiên đều trụ bậc Tịnh Quán. Nơi ý hiểu sao? Các hữu tình này phước ấy nhiều chăng? Thiện Hiện thưa rằng: Bạch Thế Tôn! Rất nhiều. Kia chỗ được phước vô lượng vô biên.

Phật bảo: Thiện Hiện! Kia chỗ được phước với ngươi đã hỏi khắp vì nhiêu ích các loại hữu tình sơ phát tâm Vô thượng Chánh đẳng giác của một Bồ tát Ma ha tát, chỗ được nhóm phước trăm phần chẳng kịp một, ngàn phần chẳng kịp một, như vậy cho đến trăm ngàn trăm ức muôn ức phần cũng chẳng kịp một. Sở dĩ vì sao? Vì có Thanh văn, Độc giác đều nương Bồ tát Ma ha tát, chẳng phải Bồ tát Ma ha tát nương các Thanh văn, Độc giác mà có.

Lại nữa, Thiện Hiện! Thôi tất cả hữu tình đầy thế giới Tam Thiên đại thiên đều trụ bậc Tịnh quán chỗ được nhóm phước, giả sử tất cả hữu tình đầy thế giới Tam thiên đại thiên đều trụ Chủng tánh địa, hoặc Đệ bát địa, hoặc Cụ kiến địa, hoặc Bạc địa, hoặc Ly dục địa, hoặc Dĩ biện địa, hoặc Độc giác địa. Nơi ý hiểu sao? Các hữu tình đây phước ấy nhiều chăng? Thiện Hiện thưa rằng: Bạch Thế Tôn! Rất nhiều. Kia chỗ được phước vô lượng vô biên.

Phật bảo: Thiện Hiện! Kia chỗ được phước với ngươi đã hỏi khắp vì nhiêu ích các loại hữu tình sơ phát tâm Vô thượng Chánh đẳng giác của một Bồ tát Ma ha tát, chỗ được nhóm phước trăm phần chẳng kịp một, ngàn phần chẳng kịp một, như vậy cho đến trăm ngàn trăm ức muôn ức phần cũng chẳng kịp một. Sở dĩ vì sao? Vì có Thanh văn, Độc giác đều nương Bồ tát Ma ha tát, chẳng phải Bồ tát Ma ha tát nương các Thanh văn, Độc giác mà có.

Lại nữa, Thiện Hiện! Giả sử tất cả hữu tình đầy nhẫy thế giới Phật Tam thiên đại thiên đều vì nhiêu ích các loại hữu tình sơ phát tâm Vô thượng Chánh đẳng giác. Chúng các Bồ tát Ma ha tát này chỗ được nhóm phước đối một Bồ tát Ma ha tát vào Bồ tát Chánh tánh ly sanh chỗ được nhóm phước trăm phần chẳng kịp một, ngàn phần chẳng kịp một, như vậy cho đến trăm ngàn trăm ức muôn ức phần cũng chẳng kịp một.

Lại nữa, Thiện Hiện! Giả sử tất cả hữu tình đầy nhẫy thế giới Phật Tam thiên đại thiên đều vào Bồ tát Chánh tánh ly sanh. Chúng các Bồ tát Ma ha tát này chỗ được nhóm phước đối một Bồ tát Ma ha tát hành hướng Bồ đề chỗ được nhóm phước trăm phần chẳng kịp một, ngàn phần chẳng kịp một, như vậy cho đến trăm ngàn trăm ức muôn ức phần cũng chẳng kịp một.

Lại nữa, Thiện Hiện! Giả sử tất cả hữu tình đầy nhẫy thế giới Phật Tam thiên đại thiên đều hành hướng Bồ đề. Chúng các Bồ tát Ma ha tát này chỗ được nhóm phước đối sở hữu nhóm phước của một Như Lai Ưng Chánh Đẳng Giác trăm phần chẳng kịp một, ngàn phần chẳng kịp một, như vậy cho đến trăm ngàn trăm ức muôn ức phần cũng chẳng kịp một.



Cụ thọ Thiện Hiện lại thưa Phật rằng: Các Bồ tát Ma ha tát sơ phát tâm Vô thượng Chánh đẳng giác suy nghĩ những gì?

Phật bảo: Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát này hằng chính suy nghĩ Nhất thiết tướng trí.

Cụ thọ Thiện Hiện lại thưa Phật rằng: Nhất thiết tướng trí lấy gì làm tánh? Sở duyên nào? Tăng thượng nào? Hành tướng nào? Có tướng nào?

Phật bảo: Thiện Hiện! Nhất thiết tướng trí vô tánh làm tánh, không tướng, không nhân, không sở cảnh giác, không sanh, không hiện. Lại ngươi đã hỏi: Nhất thiết tướng trí sở duyên nào, tăng thượng nào, hành tướng nào, có tướng nào ấy. Thiện Hiện phải biết: Nhất thiết tướng trí vô tánh làm sở duyên, chánh niệm làm tăng thượng, vắng lặng làm hành tướng, vô tướng làm tướng.

Cụ thọ Thiện Hiện lại thưa Phật rằng: Vì chỉ Nhất thiết tướng trí vô tánh làm tánh hay sắc thọ tưởng hành thức cũng vô tánh làm tánh? Nói rộng cho đến vì chư Phật Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề cũng vô tánh làm tánh, hay hữu vi giới và vô vi giới cũng vô tánh làm tánh?

Phật bảo: Thiện Hiện! Chẳng những Nhất thiết tướng trí vô tánh làm tánh, mà sắc thọ tưởng hành thức cũng vô tánh làm tánh. Cho đến hữu vi giới và vô vi giới cũng vô tánh làm tánh.

Cụ thọ Thiện Hiện lại thưa Phật rằng: Vì nhân duyên nào Nhất thiết tướng trí vô tánh làm tánh? Sắc thọ tưởng hành thức cũng vô tánh làm tánh, cho đến hữu vi giới và vô vi giới cũng vô tánh làm tánh?

Phật bảo: Thiện Hiện! Vì Nhất thiết tướng trí không có tự tánh vậy. Nếu pháp tự tánh không có, pháp ấy vô tánh làm tánh. Vì sắc thọ tưởng hành thức cho đến hữu vi giới và vô vi giới cũng tự tánh không có vậy. Nếu pháp không có tự tánh, pháp này vô tánh làm tánh.

Cụ thọ Thiện Hiện lại thưa Phật rằng: Vì nhân duyên nào Nhất thiết tướng trí không có tự tánh. Sắc thọ tưởng hành thức cho đến hữu vi giới và vô vi giới cũng tự tánh không có?

Phật bảo: Thiện Hiện! Vì Nhất thiết tướng trí không tự tánh hòa hợp vậy. Nếu pháp không tự tánh hòa hợp, pháp ấy thời lấy vô tánh làm tánh. Sắc thọ tưởng hành thức cho đến hữu vi giới và vô vi giới cũng vì không tự tánh hòa hợp vậy. Nếu pháp không tự tánh hòa hợp, pháp ấy thời lấy vô tánh làm tánh. Do nhân duyên đây, các Bồ tát Ma ha tát nên biết tất cả pháp đều vô tánh làm tánh.

Lại nữa, Thiện Hiện! Tất cả pháp đều lấy không làm tự tánh, vô tướng làm tự tánh, vô nguyện làm tự tánh. Do nhân duyên đây, các Bồ tát Ma ha tát nên biết tất cả pháp đều vô tánh làm tánh.

Lại nữa, Thiện Hiện! Tất cả pháp đều lấy chơn như làm tự tánh, nói rộng cho đến bất tư nghì giới làm tự tánh. Do nhân duyên đây, các Bồ tát Ma ha tát nên biết tất cả pháp đều vô tánh làm tánh.

Cụ thọ Thiện Hiện lại thưa Phật rằng: Nếu tất cả pháp đều vô tánh ấy, các Bồ tát Ma ha tát sơ phát tâm Vô thượng Chánh đẳng giác trọn nên những phương tiện khéo léo nào năng hành bố thí cho đến bát nhã Ba la mật đa thành thục hữu tình, nghiêm tịnh cõi Phật? Nói rộng cho đến trọn nên những phương tiện khéo léo nào năng hành Nhất thiết trí trí thành thục hữu tình, nghiêm tịnh cõi Phật?

Phật bảo: Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát này trọn nên phương tiện khéo léo nhiệm mầu, mặc dù biết tất cả pháp đều vô tánh làm tánh, mà thường tinh siêng thành thục hữu tình, nghiêm tịnh cõi Phật. Mặc dù thường tinh siêng thành thục hữu tình, nghiêm tịnh cõi Phật, mà hằng thông suốt tất cả hữu tình và các cõi Phật đều lấy vô tánh mà làm tự tánh.

Thiện Hiện phải biết: Bồ tát Ma ha tát này tuy hành bố thí cho đến bát nhã Ba la mật đa học đạo Bồ đề, mà biết bố thí cho đến bát nhã Ba la mật đa và đạo Bồ đề đều lấy vô tánh mà làm tự tánh.

Nói rộng cho đến tuy hành Nhất thiết trí trí học đạo Bồ đề, mà biết Nhất thiết trí trí và đạo Bồ đề đều lấy vô tánh mà làm tự tánh.

Thiện Hiện phải biết: Bồ tát Ma ha tát này tu hành sáu đến bờ kia học đạo Bồ đề như thế, nói rộng cho đến tu hành Nhất thiết trí trí học đạo Bồ đề như thế, nếu chưa trọn nên Như Lai mười lực, bốn vô sở úy, bố⮠vô ngại giải, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng; pháp vô vong thất, tánh hằng trụ xả; nhất thiết trí, đạo tướng trí, nhất thiết tướng trí và vô lượng vô biên các Phật pháp khác, đều gọi học đạo bồ đề chưa được viên mãn. Nếu học đạo đây đã được viên mãn, thời đối tất cả Ba la mật đa cũng đã viên mãn. Nhờ Ba la mật đa cũng đã viên mãn, nên do một sát na tương ưng Bát nhã bèn năng chứng được Nhất thiết tướng trí. Bấy giờ tất cả phiền não tập khí nhỏ nhiệm nối nhau vì hẳn chẳng sanh nên gọi "dứt không sót" thời tên là Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác. Lại đem Phật nhãn thanh tịnh không ngần ngại xem khắp các pháp mười phương ba đời hãy chẳng đắc "vô" huống sẽ đắc "hữu". Như vậy, Thiện Hiện! Các Bồ tát Ma ha tát nên hành Bát nhã Ba la mật đa quán tất cả pháp đều lấy vô tánh mà làm tự tánh. Thiện Hiện! Đấy gọi các Bồ tát Ma ha tát trọn nên phương tiện khéo léo nhiệm mầu. Nghĩa là hành Bát nhã Ba la mật đa quán tất cả pháp hãy chẳng đắc vô huống sẽ đắc hữu.

Thiện Hiện phải biết: Bồ tát Ma ha tát này hành Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm. Khi tu bố thí, đối bố thí đây, kẻ thí, kẻ nhận và vật sở thí cùng tâm Bồ đề hãy chẳng thấy không huống là thấy có. Khi tu tịnh giới, đối tịnh giới đây, chỗ hộ tịnh giới, kẻ trì tịnh giới, tâm giữ tịnh giới hãy chẳng thấy không huống là thấy có. Khi tu an nhẫn, đối an nhẫn đây, chỗ tu an nhẫn, kẻ năng an nhẫn, tâm tu an nhẫn, hãy chẳng thấy không huống là thấy có. Khi tu tinh tiến, đối tinh tiến đây, chỗ tu tinh tiến, kẻ năng tinh tiến, tâm tu tinh tiến, hãy chẳng thấy không huống là thấy có. Khi tu tĩnh lự, đối tĩnh lự đây, chỗ tu tĩnh lự, kẻ năng tĩnh lự, tâm tu tĩnh lự, hãy chẳng thấy không huống là thấy có. Khi tu bát nhã, đối bát nhã đây, chỗ tu bát nhã, kẻ năng bát nhã, tâm bát nhã, hãy chẳng thấy không huống là thấy có. Nói rộng cho đến khi được Nhất thiết trí trí đối Nhất thiết trí trí đây, hoặc kẻ năng được, hoặc do đây được và thời xứ được hãy chẳng thấy không huống là thấy có. Sở dĩ vì sao? Vì Bồ tát Ma ha tát này thường khởi nghĩ đây: Các pháp đều lấy vô tánh làm tánh. Vô tánh như thế bản tánh tự vậy, chẳng Phật làm ra, chẳng Thanh văn làm, chẳng Độc giác làm, cũng chẳng ai làm, vì tất cả pháp đều không tác giả, lìa tác giả vậy.

Bấy giờ, Thiện Hiện lại thưa Phật rằng: Đâu chẳng các pháp lìa tánh các pháp? Phật bảo: Thiện Hiện! Như vậy, như vậy. Thiện Hiện hỏi lại: Nếu tất cả pháp lìa tánh pháp ấy, làm sao pháp lìa năng biết pháp lìa hoặc có hoặc không? Sở dĩ vì sao? Pháp không chẳng lẽ năng biết pháp không, pháp có chẳng lẽ năng biết pháp có, pháp không chẳng lẽ năng biết pháp có, pháp có chẳng lẽ năng biết pháp không. Như vậy, tất cả pháp đều vô vi làm tánh. Bồ tát Ma ha tát làm sao khi hành Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm chỉ rõ các pháp hoặc có hoặc không?

Phật bảo: Thiện Hiện! Các Bồ tát Ma ha tát hành Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm tùy thế tục chỉ rõ các pháp hoặc có hoặc không, chẳng tùy thắng nghĩa.

Thiện Hiện lại hỏi: Thế tục, thắng nghĩa hãy có khác không?

Phật bảo: Thiện Hiện! Chẳng khác thế tục riêng có thắng nghĩa. Sở dĩ vì sao? Chơn như thế tục tức là thắng nghĩa. Các loại hữu tình điên đảo vọng chấp đối chơn như đây chẳng biết chẳng thấy. Các Bồ tát Ma ha tát vì nhiêu ích kia, tùy tướng thế tục chỉ rõ các pháp hoặc có hoặc không, chẳng tùy thắng nghĩa.

Lại nữa, Thiện Hiện! Các loại hữu tình đối năm uẩn thảy khởi tưởng thật có, chẳng biết chẳng phải có. Các Bồ tát Ma ha tát ví nhiêu ích kia chỉ rỏ uẩn thảy hoặc có hoặc không, khiến các hữu tình nhân đây biết rõ các uẩn các pháp chẳng có chẳng không, chẳng phải muốn khiến chấp tướng thật có không. Như vậy, Thiện Hiện! Các Bồ tát Ma ha tát nên siêng tinh tiến lìa chấp có không, hành Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm vì các hữu tình làm nhiêu ích to lớn!

Bấy giờ, Thiện Hiện lại thưa Phật rằng: Như Lai thường nói các hạnh Bồ tát. Những gì gọi là các hạnh Bồ tát?

Phật bảo: Thiện Hiện! Hạnh Bồ tát ấy, nghĩa là vì Vô thượng Bồ đề nên hành, hoặc vì nhiêu ích các hữu tình nên gọi hạnh Bồ tát.

Cụ thọ Thiện Hiện lại thưa Phật rằng: Các Bồ tát Ma ha tát phải đối chỗ nào hành hạnh Bồ tát?

Phật bảo: Thiện Hiện! Các Bồ tát Ma ha tát nên đối sắc không hành hạnh Bồ tát, nên đối thọ tưởng hành thức không hành hạnh Bồ tát. Nói rộng cho đến nên đối Nhất thiết thí không hành hạnh Bồ tát; nên đối đạo tướng trí, nhất thiết tướng trí không hành hạnh Bồ tát. Nên đối nghiêm tịnh cõi Phật không hành hạnh Bồ tát. Nên đối thành thục hữu tình không hành hạnh Bồ tát. Nên đối dẫn phát biện tài đà la ni không hành hạnh Bồ tát. Nên đối dẫn phát văn tự đà la ni không hành hạnh Bồ tát. Nên đối ngộ vào văn tự đà la ni không hành hạnh Bồ tát. Nên đối ngộ vào vô văn tự đà la ni không hành hạnh Bồ tát. Nên đối hữu vi giới không hành hạnh Bồ tát. Nên đối vô vi giới không hành hạnh Bồ tát. Thiện Hiện phải biết: Các Bồ tát Ma ha tát khi tu hành hạnh Bồ tát như thế, như Phật Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề đối trong các pháp chẳng làm hai tướng. Thiện Hiện phải biết: Các Bồ tát Ma ha tát tu hành Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm như thế gọi là vì Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề và vì hữu tình hành hạnh Bồ tát.

Bấy giờ, Thiện Hiện lại thưa Phật rằng: Nhiều chỗ Như Lai thường nói Phật Đà, tên Phật Đà đây nương nghĩa nào mà nói?

Phật bảo: Thiện Hiện! Năng giác thật nghĩa nên gọi Phật Đà. Đẳng giác thật pháp nên gọi Phật Đà. Đối tất cả pháp như tánh sở hữu, tận tánh sở hữu năng hiện đẳng giác nên gọi là Phật Đà. Đối chơn thật nghĩa năng chánh thông suốt nên gọi Phật Đà. Như thật khai giác tất cả hữu tình khiến lìa điên đảo nên gọi Phật Đà.

Bấy giờ, Thiện Hiện lại thưa Phật rằng: Nhiều nơi Như Lai thường nói Bồ đề, tên Bồ đề đây nương nghĩa nào mà nói?

Phật bảo: Thiện Hiện! Bồ đề ấy là nghĩa không, là nghĩa chơn như, là nghĩa thật tế, là nghĩa pháp giới, là nghĩa pháp tánh.

Lại nữa, Thiện Hiện! Giả lập danh tướng thi thiết lời nói, năng chơn thật giác rất thượng rất diệu nên gọi Bồ đề.

Lại nữa, Thiện Hiện! Là chơn là thật chẳng hư dối chẳng biến khác nên gọi là Bồ đề.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nghĩa chẳng thể phá hoại, không phân biệt là nghĩa Bồ đề.

Lại nữa, Thiện Hiện! Chư Phật sở hữu chơn tịnh khắp giác nên gọi Bồ đề.

Lại nữa, Thiện Hiện! Chư Phật do đây đối tướng tất cả pháp, tất cả chủng hiện đẳng giác nên gọi Bồ đề.

Lại nữa, Thiện Hiện! Chỉ giả thi thiết thế tục danh ngôn không thật khá được nên gọi là Bồ đề.

Bấy giờ, Thiện Hiện lại thưa Phật rằng: Các Bồ tát Ma ha tát vì Bồ đề nên tu hành sáu thứ Ba la mật đa, nói rộng cho đến Nhất thiết trí trí, khi nhóm căn lành đối những pháp nào làm ích làm tổn, làm thêm làm bớt, làm sanh làm diệt, làm nhiễm làm tịnh?

Phật bảo: Thiện Hiện! Các Bồ tát Ma ha tát vì Bồ đề nên tu hành sáu thứ Ba la mật đa, nói rộng cho đến Nhất thiết trí trí, khi nhóm căn lành đối tất cả pháp không ích không tổn, không thêm không bớt, không sanh không diệt, không nhiễm không tịnh. Sở dĩ vì sao? Bồ tát Ma ha tát này vì Bồ đề nên hành Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm, đối tất cả pháp đem vô sở duyên mà làm phương tiện, chẳng làm ích tổn, chẳng làm thêm bớt, chẳng làm sanh diệt, chẳng làm nhiễm tịnh mà hiện tại tiền.

Cụ thọ Thiện Hiện lại thưa Phật rằng: Nếu Bồ tát Ma ha tát vì Bồ đề nên hành Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm, đối tất cả pháp đem vô sở duyên mà làm phương tiện, chẳng làm ích tổn, chẳng làm thêm bớt, chẳng làm sanh diệt, chẳng làm nhiễm tịnh mà hiện tại tiền ấy. Bồ tát Ma ha tát này hành Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm làm sao nhiếp thọ bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tĩnh lự, bát nhã Ba la mật đa, nói rộng cho đến làm sao nhiếp thọ nhất thiết tướng trí, làm sao năng vượt được Thanh văn Độc giác và bậc Dị sanh, tới vào Bồ tát Chánh tánh ly sanh tu hành bậc Bồ tát Ma ha tát, lần hồi chứng được Nhất thiết trí trí?

Phật bảo: Thiện Hiện! Các Bồ tát Ma ha tát hành Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm chẳng đem hai nên nhiếp thọ bố thí cho đến bát nhã Ba la mật đa. Nói rộng cho đến chẳng đem hai nên lần hồi chứng được Nhất thiết trí trí.

Cụ thọ Thiện Hiện lại thưa Phật rằng: Nếu Bồ tát Ma ha tát hành Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm chẳng đem hai nên nhiếp thọ bố thí cho đến bát nhã Ba la mật đa, nói rộng cho đến chẳng đem hai nên lần hồi chứng được Nhất thiết trí trí. Bồ tát Ma ha tát làm sao từ sơ phát tâm cho đến hậu tâm hằng thời tăng lớn pháp lành thù thắng?

Phật bảo: Thiện Hiện! Nếu Bồ tát Ma ha tát đem hai nên hành thời các pháp lành chẳng được tăng lớn. Sở dĩ vì sao? Vì ngu phu dị sanh đều nương hai nên khởi ra pháp lành chẳng được tăng lớn. Các Bồ tát Ma ha tát chẳng hành hai nên từ sơ phát tâm cho đến hậu tâm hằng thời tăng lớn pháp lành thù thắng. Vậy nên, Thiện Hiện! Các Bồ tát Ma ha tát căn lành vững chắc chẳng thể khuất phục, thế gian trời, người, a tố lạc thảy chẳng năng phá hoại khiến rơi các bậc Thanh văn Độc giác, các thứ pháp ác bất thiện của thế gian chẳng năng dẫn cướp, khiến hành sáu thứ Ba la mật đa, nói rộng cho đến Nhất thiết trí trí có bao pháp lành chẳng được tăng lớn. Như vậy, Thiện Hiện! Các Bồ tát Ma ha tát nên hành không hai Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm.

Cụ thọ Thiện Hiện lại thưa Phật rằng: Các Bồ tát Ma ha tát vì căn lành nên hành Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm ư?

Phật nói: Chẳng phải vậy. Thiện Hiện! Phải biết các Bồ tát Ma ha tát chẳng vì căn lành nên hành Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm, cũng chẳng vì căn chẳng lành nên hành Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm. Sở dĩ vì sao? Các Bồ tát Ma ha tát lẽ phải như vậy. Nếu chưa gần gũi cúng dường cung kính chư Phật Thế Tôn, nếu các căn lành chưa cực viên mãn, nếu bạn lành chơn thiện chưa nhiều nhiếp thọ, quyết chẳng năng được Nhất thiết trí trí.

Cụ thọ Thiện Hiện lại thưa Phật rằng: Bồ tát Ma ha tát làm sao gần gũi cúng dường chư Phật Thế Tôn khiến các căn lành rất cực viên mãn, được bạn lành chơn tịnh nhiếp thọ, chóng năng chứng được Nhất thiết trí trí?

Phật bảo: Thiện Hiện! Các Bồ tát Ma ha tát từ sơ phát tâm gần gũi cúng dường chư Phật Thế Tôn, theo chỗ chư Phật nghe thuyết Khế kinh cho đến Luận nghĩa. Nghe rồi thọ trì lại phải đọc tung ôn tập cho được thông lanh. Đã khéo thông lanh suy nghĩ đúng lý. Đã suy nghĩ rồi thấy sâu ý thú. Thấy ý thú rồi năng khéo thông suốt. Đã khéo thông suốt được đà la ni khởi vô ngại giải, cho đến chứng được Vô thượng Bồ đề. Tùy sanh chỗ nào đối giáo nghĩa chánh pháp đã được nghe trì thường chẳng quên mất, ở chỗ chư Phật trồng nhiều căn lành. Nhờ được sức căn lành nắm giữ nên chẳng đọa ác thú sanh chỗ không rảnh. Lại nhờ được căn lành nhiếp thọ nên ý muốn thanh tịnh. Sức ý muốn tịnh nhiếp trì được nên thường năng thành thục hữu tình, nghiêm tịnh cõi Phật không trái. Lại nhờ được căn lành nhiếp thọ nên hằng chẳng xa lìa bạn lành chơn tịnh, nghĩa là các Như Lai và các Bồ tát, Độc giác, Thanh văn cùng những kẻ năng khen ngợi Phật, Pháp, Tăng.

Như vậy, Thiện Hiện! Các Bồ tát Ma ha tát gần gũi cúng dường chư Phật Thế Tôn khiến các căn lành rất cực viên mãn, được bạn lành chơn tịnh nhiếp thọ nhiều, chóng năng chứng được Nhất thiết trí trí.

Vậy nên, Thiện Hiện! Các Bồ tát Ma ha tát hành Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm, muốn mau chứng được Nhất thiết trí trí phải siêng tinh tiến gần gũi cúng dường chư Phật Thế Tôn, nhiếp thọ viên mãn căn lành thù thắng, phụng sự bạn lành chơn tịnh thường không nhàm chán.

Bấy giờ, Thiện Hiện bèn thưa Phật rằng: Các Bồ tát Ma ha tát nếu chẳng gần gũi cúng dường chư Phật, chẳng năng viên mãn căn lành thắng diệu, chẳng nhiều phụng sự bạn lành chơn tịnh, đâu chẳng năng được Nhất thiết trí trí?

Phật bảo: Thiện Hiện! Nếu chẳng gần gũi cúng dường chư Phật, chẳng năng viên mãn căn lành thắng diệu, chẳng nhiều phụng sự bạn lành chơn tịnh, hãy chẳng đáng nhận tên Ma ha tát, huống năng chứng được Nhất thiết trí trí. Sở dĩ vì sao? Vì có Bồ tát Ma ha tát gần gũi cúng dường chư Phật Thế Tôn, trồng nhiều căn lành, thờ nhiều bạn lành, vẫn chẳng năng được Nhất thiết trí trí, huống chẳng gần gũi cúng dường chư Phật, chẳng trồng căn lành, chẳng thờ bạn lành mà năng chứng được Nhất thiết trí trí. Kia nếu năng được Nhất thiết trí trí, định không có lẽ ấy.

Vậy nên, Thiện Hiện! Nếu Bồ tát Ma ha tát muốn nhận tên Bồ tát Ma ha tát, muốn mau chứng được Nhất thiết trí trí, thường nên gần gũi cúng dường chư Phật, nhiếp trồng viên mãn căn lành thù thắng, vâng thờ bạn lành chớ sanh nhàm mỏi.

Cụ thọ Thiện Hiện lại thưa Phật rằng: Vì nhân duyên nào có Bồ tát Ma ha tát tuy năng gần gũi cúng dường chư Phật, trồng nhiều căn lành, thờ nhiều bạn lành, mà chẳng năng được Nhất thiết trí trí?

Phật bảo: Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát kia xa lìa phương tiện khéo léo Bát nhã Ba la mật đa, mặc dù năng gần gũi cúng dường chư Phật, rộng trồng căn lành, thờ nhiều bạn lành mà chẳng năng được Nhất thiết trí trí.

Cụ thọ Thiện Hiện lại thưa Phật rằng: Những gì gọi là phương tiện khéo léo, các Bồ tát Ma ha tát trọn nên phương tiện khéo léo như thế có các việc làm định năng chứng được Nhất thiết trí trí?

Phật bảo: Thiện Hiện! Nếu Bồ tát Ma ha tát từ sơ phát tâm, khi tu hành bố thí Ba la mật đa đem tác ý tương ưng Nhất thiết trí trí, hoặc thí chư Phật, hoặc thí Bồ tát, hoặc thí Độc giác, hoặc thí Thanh văn, hoặc thí các người phi người thảy. Bồ tát Ma ha tát này trọn nên tác ý tương ưng Nhất thiết trí trí như thế, tuy hành bố thí mà không tưởng thí, không tưởng kẻ thọ, cũng không tưởng tất cả ngã ngã sở. Sở dĩ vì sao? Vì Bồ tát Ma ha tát này quán tất cả pháp tánh tướng đều không, không khởi không thành, không chuyển không diệt, vào tướng các pháp. Biết tất cả pháp không tác không năng, vào các hành tướng. Bồ tát Ma ha tát này trọn nên phương tiện khéo léo như thế hằng thời tăng lớn căn lành thắng diệu. Nhờ căn lành đây thường tăng lớn nên năng hành bố thí Ba la mật đa thành thục hữu tình, nghiêm tịnh cõi Phật. Mặc dù hành bố thí mà chẳng mong cầu quả thí sở đắc, nghĩa là chẳng tham đắm thắng báo sanh tử. Chỉ vì cứu hộ kẻ không cứu hộ và muốn giải thoát kẻ chưa giải thoát siêng tu bố thí Ba la mật đa.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu Bồ tát Ma ha tát từ sơ phát tâm, khi tu hành tịnh giới Ba la mật đa, đem tác ý tương ưng Nhất thiết trí trí thọ trì tịnh giới, thường chẳng khởi tham sân si thảy, tùy miên ràng buộc, cũng lại chẳng khởi các pháp bất thiện năng chướng Bồ đề, chỗ gọi keo rít, chen lấn, ác giới, hờn giận, lười nhác, tâm kém, tâm loạn, ác huệ và các mạn thảy, cũng thường chẳng khởi tác ý tương Thanh văn Độc giác. Sở dĩ vì sao? Vì Bồ tát Ma ha tát này quán tất cả pháp tánh tướng đều không, không khởi không thành, không chuyển không diệt, vào tướng các pháp. Biết tất cả pháp không tác không năng, vào các hành tướng. Bồ tát Ma ha tát này trọn nên phương tiện khéo léo như thế hằng thời tăng lớn căn lành thắng diệu. Nhờ căn lành đây thường tăng lớn nên năng hành tịnh giới Ba la mật đa thành thục hữu tình, nghiêm tịnh cõi Phật. Mặc dù hành tịnh giới mà chẳng mong cầu quả giới sở đắc, nghĩa là chẳng tham đắm thắng báo sanh tử. Chỉ vì cứu hộ kẻ không cứu hộ và muốn giải thoát kẻ chưa giải thoát, siêng tu tịnh giới Ba la mật đa cho đến bát nhã Ba la mật đa. Mỗi mỗi đều nên chuẩn theo trước mà thuyết rộng.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu Bồ tát Ma ha tát từ sơ phát tâm phương tiện khéo léo, đem tác ý tương ưng Nhất thiết trí trí vào bốn tĩnh lự và bốn vô lượng, bốn định vô sắc. Bồ tát Ma ha tát này tuy đối tĩnh lự, vô lượng, vô sắc vào ra tự tại mà chẳng thu nhận quả dị thục kia. Sở dĩ vì sao? Vì Bồ tát Ma ha tát này trọn nên phương tiện khéo léo rất thắng, quán tánh tướng các tĩnh lự, vô lượng, vô sắc đều không, không khởi không thành, không chuyển không diệt, vào các pháp tướng. Biết tất cả pháp không tác không năng, vào các hành tướng. Bồ tát Ma ha tát này trọn nên phương tiện khéo léo như thế, hằng thời tăng lớn căn lành thắng diệu. Nhờ căn lành đây thường tăng lớn, nên năng hành tĩnh lự, vô lượng, vô sắc. Do hành tĩnh lự, vô lượng, vô sắc, bèn năng tự tại thành thục hữu tình, nghiêm tịnh cõi Phật.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu Bồ tát Ma ha tát từ sơ phát tâm phương tiện khéo léo đem tác ý tương ưng Nhất thiết trí trí, mặc dù hành thấy pháp đạo tu bị dứt, mà năng chẳng lấy quả Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn, A la hán, Độc giác Bồ đề. Sở dĩ vì sao? Vì Bồ tát Ma ha tát này quán tánh tướng tất cả pháp đều không, không khởi không thành, không chuyển không diệt, vào tướng các pháp. Biết tất cả pháp không tác không năng, vào các hành tướng. Bồ tát Ma ha tát này trọn nên phương tiện khéo léo rất thắng hằng thời tăng lớn căn lành thắng diệu. Nhờ căn lành đây thường tăng lớn, năng hành tất cả phần pháp Bồ đề, vượt các bậc Thanh văn Độc giác thảy, tới vào Bồ tát Chánh tánh ly sanh. Đấy gọi Vô sanh pháp nhẫn của Bồ tát. Do nhẫn đây nên thường năng tự tại thành thục hữu tình, nghiêm tịnh cõi Phật.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu Bồ tát Ma ha tát hành Bát nhã Ba la mật đa phương tiện khéo léo đem tác ý tương ưng Nhất thiết trí trí, tuy được tự tại vào ra thuận nghịch tám định giải thoát, chín định thứ lớp mà năng chẳng lấy quả Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn, A la hán, Độc giác Bồ đề. Sở dĩ vì sao?

Vì Bồ tát Ma ha tát này quán tánh tướng tất cả pháp đều không, không khởi không thành, không chuyển không diệt, vào tướng các pháp. Biết tất cả pháp không tác không năng, vào các hành tướng. Bồ tát Ma ha tát này trọn nên phương tiện khéo léo rất thắng hằng thời tăng lớn căn lành thắng diệu. Nhờ căn lành đây thường tăng lớn, nên mới năng tự tại thành thục hữu tình, nghiêm tịnh cõi Phật, chứng vào bậc Bồ tát Bất thối chuyển, được nhận ký nhẫn.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu Bồ tát Ma ha tát tu hành Bát nhã Ba la mật đa phương tiện khéo léo đem tác ý tương ưng Nhất thiết trí trí tinh tiến tu hành Như Lai mười lực và vô lượng vô biên các Phật pháp, cho đến chưa đủ thành thục hữu tình, nghiêm tịnh cõi Phật, vẫn chưa chứng được Nhất thiết trí trí. Sở dĩ vì sao? Vì Bồ tát Ma ha tát này quán tánh tướng tất cả pháp đều không, không khởi không thành, không chuyển không diệt, vào tướng các pháp. Biết tất cả pháp không tác không năng, vào các hành tướng. Bồ tát Ma ha tát này trọn nên phương tiện khéo léo rất thắng, hằng thời tăng lớn căn lành thắng diệu. Nhờ căn lành đây thường tăng lớn, nên mới năng đầy đủ thành thục hữu tình, nghiêm tịnh cõi Phật, lần hồi chứng được Nhất thiết trí trí. Như vậy gọi là phương tiện khéo léo. Nếu Bồ tát Ma ha tát trọn nên phương tiện khéo léo như thế, có làm các việc định năng chứng được Nhất thiết trí trí. Phương tiện khéo léo rất thắng như thế đều do Bát nhã Ba la mật đa mà được thành tựu. Vậy nên, Thiện Hiện! Các Bồ tát Ma ha tát nên siêng tu học Bát nhã Ba la mật đa sâu thẳm.

Xem Mục Lục

Top Book

Top Book Mp3

Top Music Album

 
© Copyright 2013 - 2019 PHATAM.ORG - Chịu trách nhiệm nội dung: Thị Đức bienman0811@yahoo.com - Hỗ trợ kỹ thuật votamthoai@gmail.com