Xem Mục Lục

  KINH ĐẠI BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA - Hán dịch: Pháp Sư Huyền Trang - Việt dịch: Hòa Thượng Trí Nghiêm
(Ấn hành năm 1999 - 24 Tập - 600 Quyển )

 Quyển thứ 493: Hội thứ ba Phẩm Thiện Hiện thứ 3-12

Kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa - Tập 20

Quyển thứ 493: Hội thứ ba Phẩm Thiện Hiện thứ 3-12

Hòa Thượng Thích Trí Nghiêm

Bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện lại thưa Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Nói Ðại Thừa, Ðại Thừa ấy vượt khắp tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy, rất tôn, rất thắng, Ðại Thừa như thế ngang đồng hư không. Ví như hư không khắp hay chứa nạp vô lượng, vô số, vô biên hữu tình, Ðại Thừa cũng vậy khắp hay chứa nạp vô lượng, vô số, vô biên hữu tình. Lại như hư không không đến không đi không trụ khá thấy, Ðại Thừa cũng vậy không đến không đi không trụ khá thấy. Lại như hư không ngằn trước sau giữa đều bất khả đắc, Ðại Thừa cũng vậy ngằn trước sau giữa đều bất khả đắc. Ðại thừa như thế rất tôn rất thắng, ngang đồng hư không, chứa nạp được nhiều không động, không trụ, bình đẳng ba đời, vượt khỏi ba đời nên gọi Ðại Thừa.

Phật bảo: Thiện Hiện! Như vậy, như vậy. Như ngươi đã nói. Ðại Thừa Bồ Tát đủ vô lượng công đức như thế thảy. Thiện Hiện phải biết: Ðại thừa Bồ Tát Ma ha tát tức là sáu thứ Ba la mật đa, chỗ gọi bố thí Ba la mật đa cho đến Bát nhã Ba la mật đa.

Lại nữa, Thiện Hiện! Ðại Thừa các Bồ Tát Ma ha tát đó là nội không, ngoại không, nội ngoại không, không không, đại không, thắng nghĩa không, hữu vi không, vô vi không, tất cánh không, vô tế không, tán không, bổn tánh không, tự tướng không, nhất thiết pháp không, vô tánh không, vô tánh tự tánh không.

Lại nữa, Thiện Hiện! Ðại Thừa các Bồ Tát Ma ha tát đó tức là tất cả đà la ni môn, chỗ gọi văn tự đà la ni môn thảy vô lượng vô số đà la ni môn.

Lại nữa, Thiện Hiện! Ðại Thừa các Bồ Tát Ma ha tát đó tức là tất cả tam ma địa môn, chỗ gọi Kiện hành tam ma địa thảy vô lượng vô số tam ma địa môn.

Lại nữa, Thiện Hiện! Ðại Thừa các Bồ Tát Ma ha tát đó là ba mươi bảy phần pháp Bồ đề, ba môn giải thoát, nói rộng cho đến mười tám pháp Phật bất cộng thảy vô lượng vô biên công đức thù thắng, phải biết đều là Ðại Thừa Bồ Tát.

Lại nữa, Thiện Hiện! Ngươi nói Ðại Thừa vượt khắp tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy, rất tôn, rất thắng ấy. Như vậy, như vậy. Như ngươi đã nói.

Thiện Hiện phải biết: Nếu cõi Dục, cõi Sắc, cõi Vô sắc là chơn như chẳng phải hư dối, không biến khác, chẳng điên đảo, chẳng giả thiết, là chơn là thật, có thường có hằng, không biến không đổi, thật có tánh ấy, thời Ðại Thừa đây chẳng tôn chẳng thắng, chẳng vượt tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy. Bởi cõi Dục, cõi Sắc, cõi Vô sắc là biến kế sở chấp, là hư dối giả hợp, là có dời động, cho đến tất cả không thường không hằng, có biến có đổi, đều không thật tánh, nên Ðại Thừa đây vượt khắp tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy rất tôn rất thắng.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu Sắc uẩn cho đến thức uẩn là chơn như chẳng hư dối, không biến khác, chẳng điên đảo, chẳng giả thiết, là chơn là thật, có thường có hằng, không biến không đổi, thật có tánh ấy, thời Ðại Thừa đây chẳng tôn chẳng thắng, chẳng vượt tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy. Bởi sắc uẩn cho đến thưc uẩn là biến kế sở chấp, là hư dối giả hợp, là có dời động, cho đến tất cả không thường không hằng, có biến có đổi, đều không thật tánh, nên Ðại Thừa đây vượt khắp tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy rất tôn rất thắng.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu nhãn xứ cho đến ý xứ là chơn như chẳng hư dối, không biến khác, chẳng điên đảo, chẳng giả thiết, là chơn là thật, có thường có hằng, không biến không đổi, thật có tánh ấy, thời Ðại Thừa đây chẳng tôn chẳng thắng, chẳng vượt tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy. Bởi nhãn xứ cho đến ý xứ là biến kế sở chấp, là hư dối giả hợp, là có dời động, cho đến tất cả không thường không hằng, có biến có đổi, đều không thật tánh, nên Ðại Thừa đây vượt khắp tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy rất tôn rất thắng.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu sắc xứ pháp cho đến pháp xứ là chơn như chẳng hư dối, không biến khác, chẳng điên đảo, chẳng giả thiết, là chơn là thật, có thường có hằng, không biến không đổi, thật có tánh ấy, thời Ðại Thừa đây chẳng tôn chẳng thắng, chẳng vượt tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy. Bởi sắc xứ cho đến pháp xứ là biến kế sở chấp, là hư dối giả hợp, là có dời động, cho đến tất cả không thường không hằng, có biến có đổi, đều không thật tánh, nên Ðại Thừa đây vượt khắp tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy rất tôn rất thắng.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu nhãn giới cho đến ý giới là chơn như chẳng hư dối, không biến khác, chẳng điên đảo, chẳng giả thiết, là chơn là thật, có thường có hằng, không biến không đổi, thật có tánh ấy, thời Ðại Thừa đây chẳng tôn chẳng thắng, chẳng vượt tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy. Bởi nhãn giới cho đến ý giới là biến kế sở chấp, là hư dối giả hợp, là có dời động, cho đến tất cả không thường không hằng, có biến có đổi, đều không thật tánh, nên Ðại Thừa đây vượt khắp tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy rất tôn rất thắng.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu sắc giới cho đến pháp giới là chơn như chẳng hư dối, không biến khác, chẳng điên đảo, chẳng giả thiết, là chơn là thật, có thường có hằng, không biến không đổi, thật có tánh ấy, thời Ðại Thừa đây chẳng tôn chẳng thắng, chẳng vượt tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy. Bởi sắc giới cho đến pháp giới là biến kế sở chấp, là hư dối giả hợp, là có dời động, cho đến tất cả không thường không hằng, có biến có đổi, đều không thật tánh, nên Ðại Thừa đây vượt khắp tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy rất tôn rất thắng.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu nhãn thức giới cho đến ý thức giới là chơn như chẳng hư dối, không biến khác, chẳng điên đảo, chẳng giả thiết, là chơn là thật, có thường có hằng, không biến không đổi, thật có tánh ấy, thời Ðại Thừa đây chẳng tôn chẳng thắng, chẳng vượt tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy. Bởi nhãn thức giới cho đến ý thức giới là biến kế sở chấp, là hư dối giả hợp, là có dời động, cho đến tất cả không thường không hằng, có biến có đổi, đều không thật tánh, nên Ðại Thừa đây vượt khắp tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy rất tôn rất thắng.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu nhãn xúc cho đến ý xúc là chơn như chẳng hư dối, không biến khác, chẳng điên đảo, chẳng giả thiết, là chơn là thật, có thường có hằng, không biến không đổi, thật có tánh ấy, thời Ðại Thừa đây chẳng tôn chẳng thắng, chẳng vượt tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy. Bởi nhãn xúc cho đến ý xúc là biến kế sở chấp, là hư dối giả hợp, là có dời động, cho đến tất cả không thường không hằng, có biến có đổi, đều không thật tánh, nên Ðại Thừa đây vượt khắp tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy rất tôn rất thắng.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ cho đến ý xúc làm duyên sanh ra các thọ là chơn như chẳng hư dối, không biến khác, chẳng điên đảo, chẳng giả thiết, là chơn là thật, có thường có hằng, không biến không đổi, thật có tánh ấy, thời Ðại Thừa đây chẳng tôn chẳng thắng, chẳng vượt tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy. Bởi nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ cho đến ý xúc làm duyên sanh ra các thọ là biến kế sở chấp, là hư dối giả hợp, là có dời động, cho đến tất cả không thường không hằng, có biến có đổi, đều không thật tánh, nên Ðại Thừa đây vượt khắp tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy rất tôn rất thắng.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu địa giới cho đến thức giới là chơn như chẳng hư dối, không biến khác, chẳng điên đảo, chẳng giả thiết, là chơn là thật, có thường có hằng, không biến không đổi, thật có tánh ấy, thời Ðại Thừa đây chẳng tôn chẳng thắng, chẳng vượt tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy. Bởi địa giới cho đến thức giới là biến kế sở chấp, là hư dối giả hợp, là có dời động, cho đến tất cả không thường không hằng, có biến có đổi, đều không thật tánh, nên Ðại Thừa đây vượt khắp tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy rất tôn rất thắng.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu nhân duyên cho đến tăng thượng duyên là chơn như chẳng hư dối, không biến khác, chẳng điên đảo, chẳng giả thiết, là chơn là thật, có thường có hằng, không biến không đổi, thật có tánh ấy, thời Ðại Thừa đây chẳng tôn chẳng thắng, chẳng vượt tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy. Bởi nhân duyên cho đến tăng thượng duyên là biến kế sở chấp, là hư dối giả hợp, là có dời động, cho đến tất cả không thường không hằng, có biến có đổi, đều không thật tánh, nên Ðại Thừa đây vượt khắp tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy rất tôn rất thắng.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu vô minh cho đến lão tử là chơn như chẳng hư dối, không biến khác, chẳng điên đảo, chẳng giả thiết, là chơn là thật, có thường có hằng, không biến không đổi, thật có tánh ấy, thời Ðại Thừa đây chẳng tôn chẳng thắng, chẳng vượt tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy. Bởi vô minh cho đến lão tử là biến kế sở chấp, là hư dối giả hợp, là có dời động, cho đến tất cả không thường không hằng, có biến có đổi, đều không thật tánh, nên Ðại Thừa đây vượt khắp tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy rất tôn rất thắng.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu chơn như cho đến bất tư nghì giới là chơn như chẳng hư dối, không biến khác, chẳng điên đảo, chẳng giả thiết, là chơn là thật, có thường có hằng, không biến không đổi, thật có tánh ấy, thời Ðại Thừa đây chẳng tôn chẳng thắng, chẳng vượt tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy. Bởi chơn như cho đến bất tư nghì giới là biến kế sở chấp, là hư dối giả hợp, là có dời động, cho đến tất cả không thường không hằng, có biến có đổi, đều không thật tánh, nên Ðại Thừa đây vượt khắp tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy rất tôn rất thắng.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu đoạn giới, ly giới, diệt giới, an ẩn giới, tịch tĩnh giới, vô sanh giới, vô vi giới là chơn như chẳng hư dối, không biến khác, chẳng điên đảo, chẳng giả thiết, là chơn là thật, có thường có hằng, không biến không đổi, thật có tánh ấy, thời Ðại Thừa đây chẳng tôn chẳng thắng, chẳng vượt tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy. Bởi đoạn giới cho đến vô vi giới là biến kế sở chấp, là hư dối giả hợp, là có dời động, cho đến tất cả không thường không hằng, có biến có đổi, đều không thật tánh, nên Ðại Thừa đây vượt khắp tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy rất tôn rất thắng.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu bố thí Ba la mật đa cho đến Bát nhã Ba la mật đa là chơn như chẳng hư dối, không biến khác, chẳng điên đảo, chẳng giả thiết, là chơn là thật, có thường có hằng, không biến không đổi, thật có tánh ấy, thời Ðại Thừa đây chẳng tôn chẳng thắng, chẳng vượt tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy. Bởi bố thí ba la mật đa cho đến Bát nhã Ba la mật đa là biến kế sở chấp, là hư dối giả hợp, là có dời động, cho đến tất cả không thường không hằng, có biến có đổi, đều không thật tánh, nên Ðại Thừa đây vượt khắp tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy rất tôn rất thắng.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu nội không cho đến vô tánh tự tánh không là chơn như chẳng hư dối, không biến khác, chẳng điên đảo, chẳng giả thiết, là chơn là thật, có thường có hằng, không biến không đổi, thật có tánh ấy, thời Ðại Thừa đây chẳng tôn chẳng thắng, chẳng vượt tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy. Bởi nội không cho đến vô tánh tự tánh không là biến kế sở chấp, là hư dối giả hợp, là có dời động, cho đến tất cả không thường không hằng, có biến có đổi, đều không thật tánh, nên Ðại Thừa đây vượt khắp tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy rất tôn rất thắng.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu khổ tập diệt đạo thánh đế là chơn như chẳng hư dối, không biến khác, chẳng điên đảo, chẳng giả thiết, là chơn là thật, có thường có hằng, không biến không đổi, thật có tánh ấy, thời Ðại Thừa đây chẳng tôn chẳng thắng, chẳng vượt tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy. Bởi khổ tập diệt đạo thánh đế là biến kế sở chấp, là hư dối giả hợp, là có dời động, cho đến tất cả không thường không hằng, có biến có đổi, đều không thật tánh, nên Ðại Thừa đây vượt khắp tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy rất tôn rất thắng.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu bốn niệm trụ cho đến tám thánh đạo chi là chơn như chẳng hư dối, không biến khác, chẳng điên đảo, chẳng giả thiết, là chơn là thật, có thường có hằng, không biến không đổi, thật có tánh ấy, thời Ðại Thừa đây chẳng tôn chẳng thắng, chẳng vượt tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy. Bởi bốn niệm trụ cho đến tám thánh đạo chi là biến kế sở chấp, là hư dối giả hợp, là có dời động, cho đến tất cả không thường không hằng, có biến có đổi, đều không thật tánh, nên Ðại Thừa đây vượt khắp tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy rất tôn rất thắng.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu bốn tĩnh lự, bốn vô lượng, bốn vô sắc định là chơn như chẳng hư dối, không biến khác, chẳng điên đảo, chẳng giả thiết, là chơn là thật, có thường có hằng, không biến không đổi, thật có tánh ấy, thời Ðại Thừa đây chẳng tôn chẳng thắng, chẳng vượt tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy. Bởi bốn tĩnh lự, bốn vô lượng, bốn vô sắc định là biến kế sở chấp, là hư dối giả hợp, là có dời động, cho đến tất cả không thường không hằng, có biến có đổi, đều không thật tánh, nên Ðại Thừa đây vượt khắp tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy rất tôn rất thắng.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu không, vô tướng, vô nguyện giải thoát môn là chơn như chẳng hư dối, không biến khác, chẳng điên đảo, chẳng giả thiết, là chơn là thật, có thường có hằng, không biến không đổi, thật có tánh ấy, thời Ðại Thừa đây chẳng tôn chẳng thắng, chẳng vượt tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy. Bởi không, vô tướng, vô nguyện giải thoát môn là biến kế sở chấp, là hư dối giả hợp, là có dời động, cho đến tất cả không thường không hằng, có biến có đổi, đều không thật tánh, nên Ðại Thừa đây vượt khắp tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy rất tôn rất thắng.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu tám giải thoát, chín định thứ lớp là chơn như chẳng hư dối, không biến khác, chẳng điên đảo, chẳng giả thiết, là chơn là thật, có thường có hằng, không biến không đổi, thật có tánh ấy, thời Ðại Thừa đây chẳng tôn chẳng thắng, chẳng vượt tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy. Bởi tám giải thoát, chín định thứ lớp là biến kế sở chấp, là hư dối giả hợp, là có dời động, cho đến tất cả không thường không hằng, có biến có đổi, đều không thật tánh, nên Ðại Thừa đây vượt khắp tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy rất tôn rất thắng.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu đà la ni môn, tam ma địa môn là chơn như chẳng hư dối, không biến khác, chẳng điên đảo, chẳng giả thiết, là chơn là thật, có thường có hằng, không biến không đổi, thật có tánh ấy, thời Ðại Thừa đây chẳng tôn chẳng thắng, chẳng vượt tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy. Bởi đà la ni môn, tam ma địa môn là biến kế sở chấp, là hư dối giả hợp, là có dời động, cho đến tất cả không thường không hằng, có biến có đổi, đều không thật tánh, nên Ðại Thừa đây vượt khắp tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy rất tôn rất thắng.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu năm nhãn, sáu thần thông là chơn như chẳng hư dối, không biến khác, chẳng điên đảo, chẳng giả thiết, là chơn là thật, có thường có hằng, không biến không đổi, thật có tánh ấy, thời Ðại Thừa đây chẳng tôn chẳng thắng, chẳng vượt tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy. Bởi năm nhãn, sáu thần thông là biến kế sở chấp, là hư dối giả hợp, là có dời động, cho đến tất cả không thường không hằng, có biến có đổi, đều không thật tánh, nên Ðại Thừa đây vượt khắp tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy rất tôn rất thắng.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu Như Lai mười lực cho đến mười tám pháp Phật bất cộng là chơn như chẳng hư dối, không biến khác, chẳng điên đảo, chẳng giả thiết, là chơn là thật, có thường có hằng, không biến không đổi, thật có tánh ấy, thời Ðại Thừa đây chẳng tôn chẳng thắng, chẳng vượt tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy. Bởi Như Lai mười lực cho đến mười tám pháp Phật bất cộng là biến kế sở chấp, là hư dối giả hợp, là có dời động, cho đến tất cả không thường không hằng, có biến có đổi, đều không thật tánh, nên Ðại Thừa đây vượt khắp tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy rất tôn rất thắng.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu pháp Cực hỷ địa cho đến Pháp vân địa là chơn như chẳng hư dối, không biến khác, chẳng điên đảo, chẳng giả thiết, là chơn là thật, có thường có hằng, không biến không đổi, thật có tánh ấy, thời Ðại Thừa đây chẳng tôn chẳng thắng, chẳng vượt tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy. Bởi pháp Cực hỷ địa cho đến Pháp vân địa là biến kế sở chấp, là hư dối giả hợp, là có dời động, cho đến tất cả không thường không hằng, có biến có đổi, đều không thật tánh, nên Ðại Thừa đây vượt khắp tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy rất tôn rất thắng.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu kẻ Cực hỷ địa cho đến kẻ Pháp vân địa là chơn như chẳng hư dối, không biến khác, chẳng điên đảo, chẳng giả thiết, là chơn là thật, có thường có hằng, không biến không đổi, thật có tánh ấy, thời Ðại Thừa đây chẳng tôn chẳng thắng, chẳng vượt tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy. Bởi kẻ Cực hỷ địa cho đến kẻ Pháp vân địa là biến kế sở chấp, là hư dối giả hợp, là có dời động, cho đến tất cả không thường không hằng, có biến có đổi, đều không thật tánh, nên Ðại Thừa đây vượt khắp tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy rất tôn rất thắng.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu pháp Tịnh quán địa cho đến pháp Như Lai địa là chơn như chẳng hư dối, không biến khác, chẳng điên đảo, chẳng giả thiết, là chơn là thật, có thường có hằng, không biến không đổi, thật có tánh ấy, thời Ðại Thừa đây chẳng tôn chẳng thắng, chẳng vượt tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy. Bởi pháp Tịnh quán địa cho đến pháp Như Lai địa là biến kế sở chấp, là hư dối giả hợp, là có dời động, cho đến tất cả không thường không hằng, có biến có đổi, đều không thật tánh, nên Ðại Thừa đây vượt khắp tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy rất tôn rất thắng.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu kẻ Tịnh quán địa cho đến kẻ Như Lai địa là chơn như chẳng hư dối, không biến khác, chẳng điên đảo, chẳng giả thiết, là chơn là thật, có thường có hằng, không biến không đổi, thật có tánh ấy, thời Ðại Thừa đây chẳng tôn chẳng thắng, chẳng vượt tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy. Bởi kẻ tịnh quán địa cho đến kẻ Như Lai địa là biến kế sở chấp, là hư dối giả hợp, là có dời động, cho đến tất cả không thường không hằng, có biến có đổi, đều không thật tánh, nên Ðại Thừa đây vượt khắp tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy rất tôn rất thắng.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy là thật hữu tánh, chẳng phi hữu tánh, thời Ðại Thừa đây chẳng tôn chẳng thắng, chẳng vượt tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy. Bởi tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy chẳng thật hữu tánh, là phi hữu tánh nên Ðại Thừa đây vượt tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy, rất tôn thắng.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu Bồ Tát Ma ha tát từ sơ phát tâm cho đến ngồi yên tòa diệu Bồ đề, ở thời gian giữa khởi ra vô lượng thứ tâm là thật hữu tánh, chẳng phi hữu tánh, thời Ðại Thừa đây chẳng tôn chẳng thắng, chẳng vượt tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy. Bởi Bồ Tát Ma ha tát từ sơ phát tâm cho đến ngồi yên tòa diệu Bồ đề, ở thời gian giữa khởi ra vô lượng thứ tâm chẳng thật hữu tánh, là phi hữu tánh nên Ðại Thừa đây vượt tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy, rất tôn thắng.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu Bồ Tát ma ha tt trí kim cương dụ thật là hữu tánh, chẳng phi hữu tánh, thời Ðại Thừa đây chẳng tôn chẳng thắng, chẳng vượt tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy. Bởi Bồ Tát Ma ha tát trí Kim cương dụ chẳng thật hữu tánh, là phi hữu tánh nên Ðại Thừa đây vượt tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy, rất tôn thắng.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu Bồ Tát Ma ha tát trí Kim cương dụ sở dứt phiền não tập khí nối nhau là thật hữu tánh, chẳng phi hữu tánh, thời trí Kim cương dụ năng dứt đây chẳng năng thấu rõ kia đều vô tự tánh; dứt rồi chứng được Nhất thiết trí trí Vô thượng vi diệu, chẳng tôn chẳng thắng, chẳng vượt tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy. Bởi trí Kim cương dụ sở dứt phiền não tập khí nối nhau chẳng thật hữu tánh, là phi hữu tánh nên trí Kim cương dụ đây dứt năng thấu rõ kia đều vô tự tánh; dứt rồi chứng được Nhất thiết trí trí Vô thượng vi diệu, vượt tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy, rất tôn thắng.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu … là thật hữu tánh, chẳng phi hữu tánh, thời Ðại Thừa đây chẳng tôn chẳng thắng, chẳng vượt tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy. Bởi … chẳng thật hữu tánh, là phi hữu tánh nên Ðại Thừa đây vượt tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy, rất tôn thắng.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu ba mươi hai tướng Ðại sĩ, tám mươi tùy hảo đã trang nghiêm thân các Như Lai ứng Chánh đẳng giác là thật hữu tánh, chẳng phi hữu tánh, thời oai quang diệu đức các Như Lai Ứng Chánh Ðẳng Giác chẳng tôn chẳng thắng, chẳng vượt tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy. Bởi ba mươi hai tướng Ðại sĩ, tám mươi tùy hảo đã trang nghiêm thân các Như Lai ứng Chánh đẳng giác chẳng thật hữu tánh, là phi hữu tánh nên oai quang diệu đức các Như Lai Ứng Chánh Ðẳng Giác vượt tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy, rất tôn thắng.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu các Như Lai Ứng Chánh Ðẳng Giác sở phóng quang minh là thật hữu tánh, chẳng phi hữu tánh, thời các Như Lai Ứng Chánh Ðẳng Giác sở phóng quang minh chẳng tôn chẳng thắng, chẳng năng soi khắp thế giới mười phương Căng già sa thảy, chẳng vượt tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy. Bởi các Như Lai Ứng Chánh Ðẳng Giác sở phóng quang minh chẳng thật hữu tánh, là phi hữu tánh nên các Như Lai Ứng Chánh Ðẳng Giác sở phóng quang minh đều năng soi khắp thế giới mười phương Căng già sa thảy, vượt tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy, rất tôn thắng.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu các Như Lai Ứng Chánh Ðẳng Giác đã đủ sáu mươi mỹ âm hay ho là thật hữu tánh, chẳng phi hữu tánh, thời các Như Lai Ứng Chánh Ðẳng Giác đã đủ sáu mươi mỹ âm hay ho chẳng tôn chẳng thắng, chẳng năng khắp bảo vệ để giáo hoá hữu tình thế giới mười mười phương vô lượng, vô số, trăm ngàn, trăm ức Căng già sa thảy, chẳng vượt tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy. Bởi các Như Lai Ứng Chánh Ðẳng Giác đã đủ sáu mươi mỹ âm hay ho chẳng thật hữu tánh, là phi hữu tánh nên các Như Lai Ứng Chánh Ðẳng Giác đã đủ sáu mươi mỹ âm hay ho đều năng khắp bảo giáo hóa hữu tình thế giới mười phương vô lượng, vô số, trăm ngàn, trăm ức Căng già sa thảy, vượt tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy, rất tôn thắng.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu các Như Lai Ứng Chánh Ðẳng Giác đã quay xe pháp vi diệu Vô thượng là thật hữu tánh, chẳng phi hữu tánh, thời các Như Lai Ứng Chánh Ðẳng Giác đã quay xe pháp vi diệu Vô thượng chẳng tôn chẳng thắng, chẳng cực thanh tịnh, cũng chẳng tất cả thế gian Sa Môn, Bà la môn thảy chỗ chẳng năng quay được chẳng vượt tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy. Bởi các Như Lai Ứng Chánh Ðẳng Giác đã quay xe pháp vi diệu Vô thượng chẳng thật hữu tánh, là phi hữu tánh nên các Như Lai Ứng Chánh Ðẳng Giác đã quay xe pháp vi diệu Vô thượng rất cực thanh tịnh, tất cả thế gian sở hữu Sa Môn, Bà la môn thảy đều không có ai năng quay đúng pháp , vượt tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy, rất tôn thắng.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu các Như Lai Ứng Chánh Ðẳng Giác sở hóa hữu tình là thật hữu tánh, chẳng phi hữu tánh, thời các Như Lai Ứng Chánh Ðẳng Giác đã quay xe diệu pháp vi diệu Vô thượng chẳng tôn chẳng thắng, chẳng năng khiến các loại hữu tình kia vào cõi Vô dư y Niết Bàn, chẳng vượt tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy. Bởi các Như Lai Ứng Chánh Ðẳng Giác sở hóa hữu tình chẳng thật hữu tánh, là phi hữu tánh, nên các Như Lai Ứng Chánh Ðẳng Giác đã quay xe pháp vi diệu Vô thượng đều năng khiến các loại hữu tình kia vào cõi Vô dư y Niết Bàn, vượt khắp tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy rất tôn rất thắng.

Do các nhân duyên như thế thảy nên nói Ðại Thừa vượt khắp tất cả thế gian trời, người, a tố lạc thảy rất tôn rất thắng.

Lại nữa, Thiện Hiện! Ngươi tác thuyết này: Ðại thừa như thế ngang đồng hư không ấy. Như vậy, như vậy. Như ngươi đã nói. Sở dĩ vì sao? Ví như hư không đông tây nam bắc bốn góc trên dưới, tất cả phương phần đều bất khả đắc. Ðại thừa cũng vậy, đông tây nam bắc bốn góc trên dưới tất cả phương phần đều bất khả đắc, nên nói Ðại Thừa ngang đồng hư không.

Lại như hư không dài ngắn cao thấp vuông tròn tà chính, tất cả hình sắc đều bất khả đắc. Ðại thừa cũng vậy, dài ngắn cao thấp vuông tròn tà chính, tất cả hình sắc đều bất khả đắc, nên nói Ðại Thừa ngang đồng hư không.

Lại như hư không hiển sắc xanh vàng đỏ trắng hồng tía bích xanh biếc xanh lợt thảy đều bất khả đắc. Ðại thừa cũng vậy, hiển sắc xanh vàng đỏ trắng hồng tía bích xanh biết xanh lợt thảy đều bất khả đắc, nên nói Ðại Thừa ngang đồng hư không.

Lại như hư không chẳng quá khứ chẳng vị lai chẳng hiện tại. Ðại thừa cũng vậy, chẳng quá khứ chẳng vị lai chẳng hiện tại, nên nói Ðại Thừa ngang đồng hư không.

Lại như hư không chẳng thêm chẳng bớt, chẳng tiến chẳng lui. Ðại thừa cũng vậy, chẳng thêm chẳng bớt, chẳng tiến chẳng lui, nên nói Ðại Thừa ngang đồng hư không.

Lại như hư không chẳng tạp chẳng nhiễm, chẳng thanh tịnh. Ðại thừa cũng chẳng tạp chẳng nhiễm, chẳng thanh tịnh, nên nói Ðại Thừa ngang đồng hư không.

Lại như hư không vô sanh vô diệt, vô trụ vô dị. Ðại thừa cũng vậy, vô sanh vô diệt, vô trụ vô dị, nên nói Ðại Thừa ngang đồng hư không.

Lại như hư không chẳng thiện chẳng bất thiện, chẳng vô ký. Ðại thừa cũng vậy, cahảng thiện chẳng bất thiện, chẳng vô ký, nên nói Ðại Thừa ngang đồng hư không.

Lại như hư không vô kiến vô văn, vô giác vô tri. Ðại thừa cũng vậy, vô kiến vô văn, vô giác vô tri nên nói Ðại Thừa ngang đồng hư không.

Lại như hư không chẳng sở tri, chẳng sở thức. Ðại thừa cũng vậy, chẳng sở tri chẳng sở thức, nên nói Ðại Thừa ngang đồng hư không.

Lại như hư không chẳng biết khắp, chẳng dứt hẳn, chẳng tác chứng, chẳng tu tập. Ðại thừa cũng vậy, chẳng biết khắp chẳng dứt hẳn, chẳng tác chứng, chẳng tu tập, nên nói Ðại Thừa ngang đồng hư không.

Lại như hư không chẳng quả chẳng pháp quả, chẳng dị thục chẳng pháp dị thục. Ðại thừa cũng vậy, chẳng quả chẳng pháp quả, chẳng dị thục chẳng pháp dị thục, nên nói Ðại Thừa ngang đồng hư không.

Lại như hư không chẳng có pháp tham chẳng lìa pháp tham, chẳng có pháp sân chẳng lìa pháp sân. Ðại thừa cũng vậy,chẳng có pháp tham chẳng lìa pháp tham, chẳng có pháp sân, chẳng lìa pháp sân, nên nói Ðại Thừa ngang đồng hư không.

Lại như hư không chẳng rơi cõi Dục, chẳng rơi cõi Sắc, chẳng rơi cõi Vô sắc. Ðại thừa cũng vậy, chẳng rơi cõi Dục, chẳng rơi cõi sắc, chẳng rơi cõi Vô sắc, nên nói Ðại Thừa ngang đồng hư không.

Lại như hư không, không sơ phát tâm, không phát tâm thứ hai thứ ba thứ tư thứ năm thứ sáu thứ bảy thứ tám thứ chín thứ mười. Ðại thừa cũng vậy, không sơ phát tâm cho đến không có phát tâm thứ mười, nên nói Ðại Thừa ngang đồng hư không.

Lại như hư không, không Tịnh quán địa, Chủng tánh địa, Ðệ bát địa, Cụ kiến địa, Bạc địa, Ly dục địa, Dĩ biện địa, Ðộc giác địa, Bồ Tát địa, Như Lai địa khá được. Ðại thừa cũng vậy,không Tịnh quán địa cho đến Như Lai địa khá được, nên nói Ðại Thừa ngang đồng hư không.

Lại như hư không, không hướng Dự lưu quả Dự lưu, hướng Nhất lai quả Nhất lai, hướng Bất hoàn quả Bất hoàn, hướng A la hán quả A la hán, hướng Ðộc giác quả Ðộc giác, Bồ Tát, Như Lai khá được. Ðại thừa cũng vậy, không hướng Dự lưu quả Dự lưu cho đến Bồ Tát, Như Lai khá được, nên nói Ðại Thừa ngang đồng hư không.

Lại như hư không, không bậc Thanh Văn, bậc Ðộc giác, bậc Bồ Tát, bậc Như Lai khá được. Ðại thừa cũng vậy, không bậc Thanh Văn, bậc Ðộc giác, bậc Bồ Tát, bậc Như Lai khá được, nên nói Ðại Thừa ngang đồng hư không.

Lại như hư không chẳng có sắc chẳng không sắc, chẳng có thấy chẳng không thấy, chẳng có đối, chẳng không đối, chẳng hợp chẳng tan. Ðại thừa cũng vậy, chẳng có sắc chẳng không sắc, chẳng có thấy chẳng không thấy, chẳng có đối chẳng không đối, chẳng hợp chẳng tan, nên nói Ðại Thừa ngang đồng hư không.

Lại như hư không chẳng thường chẳng vô thường, chẳng vui chẳng khổ, chẳng ngã chẳng vô ngã, chẳng tịnh chẳng bất tịnh. Ðại thừa cũng vậy, chẳng thường chẳng vô thường, chẳng vui chẳng khổ, chẳng ngã chẳng vô ngã, chẳng tịnh chẳng bất tịnh, nên nói Ðại Thừa ngang đồng hư không.

Lại như hư không chẳng không chẳng bất không, chẳng hữu tướng chẳng vô tướng, chẳng hữu nguyện chẳng vô nguyện. Ðại thừa cũng vậy, chẳng không chẳng bất không, chẳng hữu tướng chẳng vô tướng, chẳng hữu nguyện chẳng vô nguyện, nên nói Ðại Thừa ngang đồng hư không.

Lại như hư không chẳng vắng lặng chẳng phải chẳng vắng lặng, chẳng xa lìa chẳng phải chẳng xa lìa. Ðại thừa cũng vậy, chẳng vắng lặng chẳng phải chẳng vắng lặng, chẳng xa lìa chẳng phải chẳng xa lìa, nên nói Ðại Thừa ngang đồng hư không.

Lại như hư không chẳng sáng chẳng tối. Ðại thừa cũng vậy, chẳng sáng chẳng tối đều bất khả đắc, nên nói Ðại Thừa ngang đồng hư không.

Lại như hư không chẳng đắc chẳng bất đắc. Ðại thừa cũng vậy, chẳng đắc chẳng bất đắc, nên nói Ðại Thừa ngang đồng hư không.

Lại như hư không chẳng uẩn xứ giới, chẳng lìa uẩn xứ giới. Ðại thừa cũng vậy, chẳng uẩn xứ giới, chẳng lìa uẩn xứ giới, nên nói Ðại Thừa ngang đồng hư không.

Lại như hư không chẳng khả thuyết chẳng bất khả thuyết. Ðại thừa cũng vậy, chẳng khả thuyết chẳng bất khả thuyết, nên nói Ðại Thừa ngang đồng hư không.

Lại như hư không chẳng có hý luận chẳng không hý luận. Ðại thừa cũng vậy, chẳng có hý luận chẳng không hý luận, nên nói Ðại Thừa ngang đồng hư không.

Do các nhân duyên như thế thảy, nên tác thuyết này: Ðại thừa như thế ngang đồng hư không.

Lại nữa, Thiện Hiện! Ngươi tác thuyết này: Ví như hư không khắp hay chứa nạp vô lượng, vô số, vô biên hữu tình. Ðại thừa cũng vậy, khắp hay chứa nạp vô lượng, vô số, vô biên hữu tình ấy. Như vậy, như vậy. Như ngươi đã nói. Sở dĩ vì sao? Vì hữu tình vô sở hữu, nên phải biết hư không cũng vô sở hữu. Hư không vô sở hữu nên phải biết Ðại Thừa cũng vô sở hữu. Do nghĩa như thế nên nói Ðại Thừa ví như hư không khắp hay chứa nạp vô lượng, vô số, vô biên hữu tình. Vì cớ sao? Hoặc hữu tình, hoặc hư không, hoặc Ðại Thừa, tất cả như thế đều vô sở hữu bất khả đắc vậy.

Lại nữa, Thiện Hiện! Hữu tình vô lượng nên phải biết hư không cũng vô lượng, hư không vô lượng nên phải biết Ðại Thừa cũng vô lượng. Hữu tình vô số nên phải biết hư không cũng vô số. Hư không vô số nên phải biết Ðại Thừa cũng vô số. Hữu tình vô biên nên phải biết hư không cũng vô biên. Hư không vô biên nên phải biết Ðại Thừa cũng vô biên. Do nghĩa như thế nên nói Ðại Thừa ví như hư không khắp hay chứa nạp vô lượng, vô số, vô biên hữu tình. Vì cớ sao? Vì hoặc hữu tình vô lượng vô số vô biên, hoặc hư không vô lượng vô số vô biên, hoặc Ðại Thừa vô lượng vô số vô biên, tất cả như thế đều vô sở hữu bất khả đắc vậy.

Lại nữa, Thiện Hiện! Hữu tình vô sở hữu nên phải biết hư không cũng vô ở hữu. Hư không vô sở hữu nên phải biết Ðại Thừa cũng vô sở hữu. Ðại Thừa vô sở hữu nên phải biết vô lượng cũng vô sở hữu, vô lượng vô sở hữu nên phải biết vô số cũng vô sở hữu. Vô số vô sở hữu nên phải biết vô biên cũng vô sở hữu. Vô biên vô sở hữu nên phải biết tất cả pháp cũng vô sở hữu. Do nghĩa như thế nên nói Ðại Thừa ví như hư không khắp hay chứa nạp vô lượng, vô số, vô biên hữu tình. Vì cớ sao? Vì hoặc hữu tình vô lượng vô số vô biên, hoặc hư không vô lượng vô số vô biên, hoặc Ðại Thừa vô lượng vô số vô biên, tất cả như thế đều vô sở hữu bất khả đắc vậy.

Lại nữa, Thiện Hiện! Ngã vô sở hữu nên phải biết hữu tình cũng vô sở hữu. Hữu tình vô sở hữu nên phải biết mạng giả cũng vô sở hữu. Mạng giả vô sở hữu nên phải biết sanh giả cũng vô sở hữu. Sanh giả vô sở hữu nên phải biết dưỡng giả cũng vô sở hữu. Dưỡng giả vô sở hữu nên phải biết sĩ phu cũng vô sở hữu. Sĩ phu vô sở hữu nên phải biết bổ đặc già la cũng vô sở hữu. Bổ đặc già la vô sở hữu nên phải biết ý sanh cũng vô sở hữu. Ý sanh vô sở hữu nên phải biết nho đồng cũng vô sở hữu. Nho đồng vô sở hữu nên phải biết tác giả cũng vô sở hữu. Tác giả vô sở hữu nên phải biết thọ giả cũng vô sở hữu. Thọ giả vô sở hữu nên phải biết tri giả cũng vô sở hữu. Tri giả vô sở hữu nên phải biết kiến giả cũng vô sở hữu. Kiến giả vô sở hữu nên phải biết hư không cũng vô sở hữu. Hư không vô sở hữu nên phải biết Ðại Thừa cũng vô sở hữu. Ðại thừa vô sở hữu nên phải biết vô lượng cũng vô sở hữu. Vô lượng vô sở hữu nên phải biết vô số cũng vô sở hữu. Vô số vô sở hữu nên phải biết vô biên cũng vô sở hữu. Vô biên vô sở hữu nên phải biết tất cả pháp cũng vô sở hữu. Do nghĩa như thế nên nói Ðại Thừa ví như hư không khắp hay chứa nạp vô lượng, vô số, vô biên hữu tình. Vì cớ sao? Vì hoặc ngã cho đến kiến giả, hoặc hư không, hoặc Ðại Thừa, hoặc vô lượng, hoặc vô số, hoặc vô biên, hoặc tất cả pháp, tất cả như thế đều vô sở hữu bất khả đắc vậy.

Lại nữa, Thiện Hiện! Ngã cho đến kiến giả vô sở hữu nên phải biết chơn như cho đến bất tư nghì giới chuyển dần cũng vô sở hữu. Nhãn xứ cho đến ý xứ vô sở hữu nên phải biết hư không cũng vô sở hữu. Hư không vô sở hữu nên phải biết Ðại Thừa cũng vô sở hữu. Ðại thừa vô sở hữu nên phải biết vô lượng, vô số, vô biên chuyển dần cũng vô sở hữu. Vô lượng, vô số, vô biên vô sở hữu nên phải biết tất cả pháp cũng vô sở hữu. Do nghĩa như thế nên nói Ðại Thừa ví như hư không khắp hay chứa nạp vô lượng, vô số, vô biên hữu tình. Vì cớ sao? Vì hoặc ngã cho đến kiến giả, hoặc chơn như cho đến bất tư nghì giới, hoặc vô lượng vô số vô biên, hoặc tất cả pháp, tất cả như thế đều vô sở hữu bất khả đắc vậy.

Lại nữa, Thiện Hiện! Ngã cho đến kiến giả vô sở hữu nên phải biết đoạn giới cho đến vô vi giới chuyển dần cũng vô sở hữu. Ðoạn giới cho đến vô vi giới vô sở hữu nên phải biết hư không cũng vô sở hữu. Hư không vô sở hữu nên phải biết Ðại Thừa cũng vô sở hữu. Ðại thừa vô sở hữu nên phải biết vô lượng, vô số, vô biên chuyển dần cũng vô sở hữu. Vô lượng, vô số vô, vô biên vô sở hữu nên phải biết tất cả pháp cũng vô sở hữu. Do nghĩa như thế nên nói Ðại Thừa ví như hư không khắp hay chứa nạp vô lượng, vô số, vô biên hữu tình. Vì cớ sao? Vì hoặc ngã cho đến kiến giả, hoặc đoạn giới cho đến vô vi giới, hoặc hư không, hoặc Ðại Thừa, hoặc vô lượng vô số vô biên, hoặc tất cả pháp , tất cả như thế đều vô sở hữu bất khả đắc vậy.

Lại nữa, Thiện Hiện! Ngã cho đến kiến giả vô sở hữu nên phải biết sắc uẩn cho đến thức uẩn chuyển dần cũng vô sở hữu. Sắc uẩn cho đến thức uẩn vô sở hữu nên phải biết hư không cũng vô sở hữu. Hư không vô sở hữu nên phải biết Ðại Thừa cũng vô sở hữu. Dại thừa vô sở hữu nên phải biết vô lượng, vô số, vô biên chuyển dần cũng vô sở hữu. Vô lượng, vô số, vô biên vô sở hữu nên phải biết tất cả pháp cũng vô sở hữu. Do nghĩa như thế nên nói Ðại Thừa ví như hư không khắp hay chứa nạp vô lượng, vô số, vô biên hữu tình. Vì cớ sao? Vì hoặc ngã cho đến kiến giả, hoặc sắc uẩn cho đến thức uẩn, hoặc hư không, hoặc Ðại Thừa, hoặc vô lượng vô số vô biên, hoặc tất cả pháp, tất cả như thế đều vô sở hữu bất khả đắc vậy.

Lại nữa, Thiện Hiện! Ngã cho đên kiến giả vô sở hữu nên phải biết nhãn xứ cho đến ý xứ cũng vô sở hữu. Nhãn xứ cho đến ý xứ vô sở hữu nên phải biết hư không cũng vô sở hữu. Hư không vô sở hữu nên phải biết Ðại Thừa cũng vô sở hữu. Ðại thừa vô sở hữu nên phải biết vô lượng, vô số, vô biên chuyển dần cũng vô sở hữu. Vô lượng, vô số, vô biên vô sở hữu nên phải biết tất cả pháp cũng vô sở hữu. Do nghĩa như thế nên nói Ðại Thừa ví như hư không khắp hay chứa nạp vô lượng, vô số, vô biên hữu tình. Vì cớ sao? Vì hoặc ngã cho đến kiến giả, hoặc nhãn xứ cho đến ý xứ, hoặc hư không, hoặc Ðại Thừa, hoặc vô lượng vô số vô biên, hoặc tất cả pháp, tất cả như thế đều vô sở hữu bất khả đắc vậy.

Lại nữa, Thiện Hiện! Ngã cho đến kiến giả vô sở hữu nên phải biết sắc xứ cho đến pháp xứ cũng vô sở hữu. Sắc xứ cho đến pháp xứ vô sở hữu nên phải biết hư không cũng vô sở hữu. Hư không vô sở hữu nên phải biết Ðại Thừa cũng vô sở hữu. Ðại thừa vô sở hữu nên phải biết vô lượng, vô biên vô số chuyển dần cũng vô sở hữu. Vô lượng, vô số, vô biên vô sở hữu nên phải biết tất cả pháp cũng vô sở hữu. Do nghĩa như thế nên nói Ðại Thừa ví như hư không khắp hay chứa nạp vô lượng, vô số, vô biên hữu tình. Vì cớ sao? Vì hoặc ngã cho đến kiến giả, hoặc sắc xứ cho đến pháp xứ, hoặc hư không , hoặc Ðại Thừa, hoặc vô lượng vô số vô biên, hoặc tất cả pháp , tất cả như thế đều vô sở hữu bất khả đắc vậy.

Lại nữa, Thiện Hiện! Ngã cho đến kiến giả vô sở hữu nên phải biết nhãn giới cho đến ý giới cũng vô sở hữu. Nhãn giới cho đến ý giới vô sở hữu nên phải biết hư không cũng vô sở hữu. Hư không vô sở hữu nên phải biết Ðại Thừa cũng vô sở hữu. Ðại thừa vô sở hữu nên phải biết vô lượng, vô số, vô biên chuyển dần cũng vô sở hữu. Vô lượng, vô số vô biên vô sở hữu nên phải biết tất cả pháp cũng vô sở hữu. Do nghĩa như thế nên nói Ðại Thừa ví như hư không khắp hay chứa nạp vô lượng, vô số, vô biên hữu tình. Vì cớ sao? Vì hoặc ngã cho đến kiến giả, hoặc nhãn giới cho đến ý giới, hoặc hư không, hoặc Ðại Thừa, hoặc vô lượng vô số vô biên, hoặc tất cả pháp , tất cả như thế đều vô sở hữu bất khả đắc vậy.

Lại nữa, Thiện Hiện! Ngã cho đến kiến giả vô sở hữu nên phải biết sắc giới cho đến pháp giới cũng vô sở hữu. Sắc giới cho đến pháp giới vô sở hữu nên phải biết hư không cũng vô sở hữu. Hư không vô sở hữu nên phải biết Ðại Thừa cũng vô sở hữu. Ðại thừa vô sở hữu nên phải biết vô lượng, vô số, vô biên chuyển dần cũng vô sở hữu. Vô lượng, vô số, vô biên vô sở hữu nên phải biết tất cả pháp cũng vô sở hữu. Do nghĩa như thế nên nói Ðại Thừa ví như hư không khắp hay chứa nạp vô lượng, vô số, vô biên hữu tình. Vì cớ sao? Vì hoặc hoặc ngã cho đến kiến giả, hoặc sắc giới cho đến pháp giới, hoặc hư không, hoặc Ðại Thừa, hoặc vô lượng vô số vô biên, hoặc tất cả pháp, tất cả như thế đều vô sở hữu bất khả đắc vậy.

Xem Mục Lục

Top Book

Top Book Mp3

Top Music Album

 
© Copyright 2013 - 2019 PHATAM.ORG - Chịu trách nhiệm nội dung: Thị Đức bienman0811@yahoo.com - Hỗ trợ kỹ thuật votamthoai@gmail.com