Xem Mục Lục

  KINH ĐẠI BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA - Hán dịch: Pháp Sư Huyền Trang - Việt dịch: Hòa Thượng Trí Nghiêm
(Ấn hành năm 1999 - 24 Tập - 600 Quyển )

 Quyển Thứ 424. Hội thứ hai Phẩm Viễn Ly thứ 24-2

Kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa - Tập 17

Quyển Thứ 424
Hội thứ hai Phẩm Viễn Ly thứ 24-2

Hòa Thượng Thích Trí Nghiêm

Bấy giờ, cụ thọ Xá Lợi Tử bảo Thiện Hiện rằng: Như tôi hiểu nghĩa Nhân giả đã nói ngã cho đến kiến giả rốt ráo chẳng sanh. Sắc cho đến thức rốt ráo chẳng sanh. Như vậy cho đến pháp chư Phật và chư Phật rốt ráo chẳng sanh. Tất cả pháp hữu tình và tất cả hữu tình rốt ráo chẳng sanh. Nếu như thế ấy, sáu thú thọ sanh lẽ không sai khác: Dự lưu chẳng nên được quả Dự lưu. Nhất lai chẳng nên được quả Nhất lai. Bất hoàn chẳng nên được quả Bất hoàn. A la hán chẳng nên được quả A la hán. Độc giác chẳng nên được Độc giác Bồ đề. Bồ tát chẳng nên được Nhất thiết tướng trí. Bồ tát Ma ha tát chẳng nên thấy sáu thú sanh tử rất sanh nhàm chán, vì cứu vớt kia nên được năm thứ Bồ đề.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu tất cả pháp rốt ráo chẳng sanh thì sao Dự lưu vì quả Dự lưu siêng tu đạo dứt hẳn ba kiết. Thì sao Nhất lai vì quả Nhất lai siêng tu đạo dứt bội tham sân si. Thì sao Bất hoàn vì quả Bất hoàn siêng tu đạo dứt hẳn thuận hạ kiết. Thì sao A la hán vì quả A la hán siêng tu đạo dứt hẳn thuận thượng kiết. Thì sao Độc giác vì Độc giác Bồ đề siêng tu đạo ngộ riêng pháp duyên khởi. Thì sao Bồ tát Ma ha tát vì độ vô lượng vô biên hữu tình tu nhiều trăm ngàn khổ khó hành, chịu đủ vô lượng trọng khổ khó nhẫn. Thì sao Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Thì sao chư Phật vì độ khổ vô lượng hữu tình nên quay xe diệu pháp?

Bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện đáp Xá Lợi Tử rằng: Chẳng phải tôi đối trong pháp vô sanh kia thấy có sáu thú thọ sanh sai khác. Chẳng phải tôi đối trong pháp vô sanh kia thấy có kẻ năng vào đế hiện quán. Chẳng phải tôi đối trong pháp vô sanh kia thấy có Dự lưu được quả Dự lưu, thấy có Nhất lai được quả Nhất lai, thấy có Bất hoàn được quả Bất hoàn, thấy có A la hán được quả A la hán, thấy có Độc giác được Độc giác Bồ đề, thấy có Bồ tát được Nhất thiết tướng trí. Chẳng phải tôi đối trong pháp vô sanh kia thấy có Bồ tát Ma ha tát nhàm chán sanh tử, được năm Bồ đề. Chẳng phải tôi đối trong pháp vô sanh kia thấy có Thanh văn tu đạo đoạn kiết, thấy có Độc giác siêng tu đạo riêng ngộ pháp duyên khởi. Chẳng phải tôi đối trong pháp vô sanh kia thấy có Bồ tát Ma ha tát vì độ hữu tình tu nhiều khổ hạnh chịu các trọng khổ, nhưng các Bồ tát Ma ha tát chẳng khởi tưởng khổ hạnh khó hành. Vì cớ sao? Xá Lợi Tử! Nếu kẻ khởi tưởng khổ hạnh khó hành, trọn chẳng năng vì vô lượng vô số vô biên hữu tình làm đại nhiêu ích.

Xá Lợi Tử! Tất cả Bồ tát đem vô sở đắc mà làm phương tiện, đối các hữu tình khởi tâm đại bi, trụ tưởng như cha mẹ, anh em, vợ con và thân mình, vì độ thoát kia phát khởi tâm Vô thượng Chánh đẳng Giác mới năng vì kia làm đại nhiêu ích.

Xá Lợi Tử! Tất cả Bồ tát nên khởi nghĩ này: Như tự tánh ta đối tất cả pháp đem tất cả chủng, tất cả xứ, tất cả thời, tìm chẳng khá được. Các pháp nội ngoại cũng lại như thế, đều vô sở hữu, đều bất khả đắc. Nếu trụ tưởng đây bèn chẳng thấy có khổ hạnh khó hành. Do đấy năng vì vô lượng vô số vô biên hữu tình tu nhiều trăm ngàn khổ hạnh khó hành, làm đại nhiêu ích. Vì cớ sao? Bồ tát Ma ha tát đối tất cả pháp, tất cả hữu tình, tất cả chủng, tất cả xứ, tất cả thời không chấp nhận vậy.

Xá Lợi Tử! Chẳng phải tôi đối trong pháp vô sanh kia thấy có Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, quay xe diệu pháp độ vô lượng chúng. Vì cớ sao? Xá Lợi Tử! Vì tất cả pháp, tất cả hữu tình bất khả đắc vậy.

Khi ấy, Xá Lợi Tử hỏi Thiện Hiện rằng: Nơi ý muốn sao? Vì muốn đem pháp sanh có được sở chứng, hay muốn đem pháp vô sanh có được sở chứng ư? Thiện Hiện đáp rằng: Tôi chẳng muốn đem pháp sanh có được sở chứng, cũng chẳng muốn đem pháp vô sanh có được sở chứng.

Xá Lợi Tử nói: Nếu như thế ấy đâu đều không đắc, không hiện quán ư? Thiện Hiện đáp rằng: Tuy có đắc, có hiện quán mà thật chẳng do hai pháp chứng đắc. Xá Lợi Tử! Chỉ theo lời nói thế gian thi thiết có đắc hiện quán, chẳng phải trong thắng nghĩa có đắc hiện quán. Xá Lợi Tử! Chỉ theo lời nói thế gian thi thiết có Dự lưu, có quả Dự lưu, có Nhất lai có quả Nhất lai, có Bất hoàn có quả Bất hoàn, có A la hán có quả A la hán, có Độc giác có Độc giác Bồ đề, có Bồ tát Ma ha tát có hạnh Bồ tát Ma ha tát, có chư Phật có chư Phật Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Chẳng phải trong thắng nghĩa có Dự lưu thảy.

Xá Lợi Tử nói: Nếu theo lời nói thế gian thi thiết có đắc hiện quán và Dự lưu thảy chẳng thắng nghĩa ấy, sáu thú sai khác cũng theo lời nói thế gian chẳng thắng nghĩa ư? Thiện Hiện đáp rằng: Như vậy, như vậy. Vì cớ sao? Xá Lợi Tử! Chẳng phải trong thắng nghĩa có nghiệp dị thục và nhiễm tịnh vậy.

Khi ấy, Xá Lợi Tử hỏi Thiện Hiện rằng: Nơi ý muốn sao? Vì muốn khiến pháp chưa sanh sanh, hay muốn khiến pháp đã sanh sanh ư? Thiện Hiện đáp rằng: Tôi chẳng muốn khiến pháp chưa sanh sanh, cũng chẳng muốn khiến pháp đã sanh sanh.

Xá Lợi Tử nói: Những gì là pháp chưa sanh, Nhân giả chẳng muốn khiến pháp kia sanh? Thiện Hiện đáp rằng: Xá Lợi Tử! Sắc là pháp chưa sanh, tôi chẳng muốn khiến sanh. Vì cớ sao? Vì tự tánh không vậy. Thọ tưởng hành thức là pháp chưa sanh, tôi chẳng muốn khiến sanh. Vì cớ sao? Vì tự tánh không vậy. Cho đến chư Phật Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề là pháp chưa sanh, tôi chẳng muốn khiến sanh. Vì cớ sao? Vì tự tánh không vậy.

Xá Lợi Tử hỏi: Những gì là pháp đã sanh, Nhân giả chẳng muốn khiến pháp kia sanh? Thiện Hiện đáp rằng: Xá Lợi Tử! Sắc là pháp đã sanh, tôi chẳng muốn khiến sanh. Vì cớ sao? Vì tự tánh không vậy. Thọ tưởng hành thức là pháp đã sanh, tôi chẳng muốn khiến sanh. Vì cớ sao? Vì tự tánh không vậy. Cho đến chư Phật Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề là pháp đã sanh, tôi chẳng muốn khiến sanh. Vì cớ sao? Vì tự tánh không vậy.

Khi ấy, Xá Lợi Tử hỏi Thiện Hiện rằng: Nơi ý muốn sao? Vì muốn khiến sanh sanh, hay muốn khiến chẳng sanh sanh ư? Thiện Hiện đáp rằng: Tôi chẳng muốn khiến sanh sanh, cũng chẳng muốn khiến sanh sanh. Vì cớ sao? Xá Lợi Tử! Sanh cùng chẳng sanh hai pháp như thế đều chẳng tương ưng chẳng phải chẳng tương ưng, vô sắc, vô kiến, vô đối, nhất tướng, chỗ gọi vô tướng. Do nhân duyên đây tôi chẳng muốn khiến sanh sanh, cũng chẳng muốn khiến chẳng sanh sanh.

Khi ấy, Xá Lợi Tử lại hỏi Thiện Hiện : Nhân giả đối pháp vô sanh đã nói vui biện nói tướng vô sanh ư? Thiện Hiện đáp rằng: Xá Lợi Tử! Tôi đối pháp vô sanh đã nói, cũng chẳng vui biện nói tướng vô sanh. Vì cớ sao? Xá Lợi Tử! Hoặc pháp vô sanh, hoặc tướng vô sanh, hoặc vui, hoặc biện nói, tất cả như thế đều chẳng tương ưng chẳng phải chẳng tương ưng, vô sắc, vô kiến, vô đối, nhất tướng, gọi vô tướng vậy.

Khi ấy, Xá Lợi Tử hỏi Thiện Hiện rằng: Đối pháp chẳng sanh khởi lời khởi lời chẳng sanh, lời chẳng sanh đây cũng chẳng sanh ư? Thiện Hiện đáp rằng: Như vậy, như vậy. Thật như đã nói, đối pháp chẳng sanh khởi lời chẳng sanh. Pháp và lời đây đều nghĩa vô sanh. Sở dĩ vì sao?

Xá Lợi Tử! Sắc chẳng sanh, thọ tưởng hành thức cũng chẳng sanh. Vì cớ sao? Bản tánh không vậy. Nhãn xứ chẳng sanh, nhĩ tỷ thiệt thân ý xứ cũng chẳng sanh. Vì cớ sao? Bản tánh không vậy. Sắc xứ chẳng sanh, thanh hương vị xúc pháp xứ cũng chẳng sanh. Vì cớ sao? Bản tánh không vậy.

Nhãn giới chẳng sanh, nhĩ tỷ thiệt thân ý giới cũng chẳng sanh. Vì cớ sao? Bản tánh không vậy. Sắc giới chẳng sanh, thanh hương vị xúc pháp giới cũng chẳng sanh. Vì cớ sao? Bản tánh không vậy. Nhãn thức giới chẳng sanh, nhĩ tỷ thiệt thân ý thức giới cũng chẳng sanh. Vì cớ sao? Bản tánh không vậy. Nhãn xúc chẳng sanh, nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc cũng chẳng sanh. Vì cớ sao? Bản tánh không vậy. Nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ chẳng sanh, nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc làm duyên sanh ra các thọ cũng chẳng sanh. Vì cớ sao? Bản tánh không vậy.

Địa giới chẳng sanh, thủy hỏa phong không thức giới cũng chẳng sanh. Vì cớ sao? Bản tánh không vậy.

Thân hành chẳng sanh; ngữ hành, ý hành cũng chẳng sanh. Vì cớ sao? Bản tánh không vậy.

Bố thí Ba la mật đa chẳng sanh, cho đến nhất thiết tướng trí cũng chẳng sanh. Vì cớ sao? Bản tánh không vậy.

Xá Lợi Tử! Do nhân duyên đây, đối pháp chẳng sanh khởi lời chẳng sanh, pháp và lời đây đều nghĩa vô sanh.

Xá Lợi Tử! Hoặc pháp sở thuyết, hoặc kẻ năng thuyết lời, hoặc kẻ nghe đều nghĩa vô sanh.

Bấy giờ, cụ thọ Xá Lợi Tử khen Thiện Hiện rằng: Trong người thuyết pháp Ngài là đệ nhất. Trừ Phật Thế Tôn không ai kịp được. Vì cớ sao? Theo lời gạn hỏi nhiều pháp môn đều năng trả đáp không chút trệ ngại vậy. Thiện Hiện trả lời: Đệ tử chư Phật, đối tất cả pháp không chỗ nương dính, lẽ pháp đều năng theo lời gạn hỏi mỗi mỗi trả đáp tự tại không sợ. Vì cớ sao? Vì tất cả pháp không chỗ nương vậy.

Xá Lợi Tử nói: Các pháp nào là đều không chỗ nương? Thiện Hiện đáp rằng: Xá Lợi Tử! Sắc bản tánh không, nên chẳng nương trong, chẳng nương ngoài, chẳng nương giữa hai. Thọ tưởng hành thức bản tánh cũng không, nên chẳng nương trong, chẳng nương ngoài, chẳng nương giữa hai.

Xá Lợi Tử! Nhãn xứ bản tánh không, nên chẳng nương trong, chẳng nương ngoài, chẳng nương giữa hai. Nhĩ tỷ thiệt thân ý xứ bản tánh cũng không, nên chẳng nương trong, chẳng nương ngoài, chẳng nương giữa hai.

Xá Lợi Tử! Sắc xứ bản tánh không, nên chẳng nương trong, chẳng nương ngoài, chẳng nương giữa hai. Thanh hương vị xúc pháp xứ bản tánh cũng không, nên chẳng nương trong, chẳng nương ngoài, chẳng nương giữa hai.

Xá Lợi Tử! Nhãn giới bản tánh không, nên chẳng nương trong, chẳng nương ngoài, chẳng nương giữa hai. Nhĩ tỷ thiệt thân ý giới bản tánh cũng không, nên chẳng nương trong, chẳng nương ngoài, chẳng nương giữa hai.

Xá Lợi Tử! Sắc giới bản tánh không, nên chẳng nương trong, chẳng nương ngoài, chẳng nương giữa hai. Thanh hương vị xúc pháp giới bản tánh cũng không, nên chẳng nương trong, chẳng nương ngoài, chẳng nương giữa hai.

Xá Lợi Tử! Nhãn thức giới bản tánh không, nên chẳng nương trong, chẳng nương ngoài, chẳng nương giữa hai. Nhĩ tỷ thiệt thân ý thức giới bản tánh cũng không, nên chẳng nương trong, chẳng nương ngoài, chẳng nương giữa hai.

Xá Lợi Tử! Nhãn xúc bản tánh không, nên chẳng nương trong, chẳng nương ngoài, chẳng nương giữa hai. Nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc bản tánh cũng không, nên chẳng nương trong, chẳng nương ngoài, chẳng nương giữa hai.

Xá Lợi Tử! Nhãn xúc làm duyện sanh ra các thọ bản tánh không, nên chẳng nương trong, chẳng nương ngoài, chẳng nương giữa hai. Nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc làm duyện sanh ra các thọ bản tánh cũng không, nên chẳng nương trong, chẳng nương ngoài, chẳng nương giữa hai.

Xá Lợi Tử! Bố thí Ba la mật đa bản tánh không, nên chẳng nương trong, chẳng nương ngoài, chẳng nương giữa hai. Cho đến bát nhã Ba la mật đa bản tánh cũng không, nên chẳng nương trong, chẳng nương ngoài, chẳng nương giữa hai.

Xá Lợi Tử! Nột không bản tánh không, nên chẳng nương trong, chẳng nương ngoài, chẳng nương giữa hai. Cho đến vô tánh tự tánh không bản tánh cũng không, nên chẳng nương trong, chẳng nương ngoài, chẳng nương giữa hai.

Xá Lợi Tử! Bốn niệm trụ bản tánh không, nên chẳng nương trong, chẳng nương ngoài, chẳng nương giữa hai. Cho đến tám thánh đạo chi bản tánh cũng không, nên chẳng nương trong, chẳng nương ngoài, chẳng nương giữa hai.

Xá Lợi Tử! Cho đến Phật mười lực bản tánh không, nên chẳng nương trong, chẳng nương ngoài, chẳng nương giữa hai. Cho đến mười tám pháp Phật bất cộng bản tánh cũng không, nên chẳng nương trong, chẳng nương ngoài, chẳng nương giữa hai.

Xá Lợi Tử! Cho đến nhất thiết trí bản tánh không, nên chẳng nương trong, chẳng nương ngoài, chẳng nương giữa hai. Đạo tướng trí, nhất thiết tướng trí bản tánh cũng không, nên chẳng nương trong, chẳng nương ngoài, chẳng nương giữa hai.

Xá Lợi Tử! Do nhân duyên đây tôi nói các pháp bản tánh không, nên đều không chỗ nương.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các Bồ tát Ma ha tát khi tu hành sáu thứ Ba la mật đa nên tịnh sắc cho đến thức. Nên tịnh nhãn xứ cho đến ý xứ. Nên tịnh sắc xứ cho đến pháp xứ. Nên tịnh nhãn giới cho đến ý giới. Nên tịnh sắc giới cho đến pháp giới. Nên tịnh nhãn thức giới cho đến ý thức giới. Nên tịnh nhãn xúc cho đến ý xúc. Nên tịnh nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ cho đến ý xúc làm duyên sanh ra các thọ. Nên tịnh bố thí Ba la mật đa cho đến bát nhã Ba la mật đa. Nên tịnh nội không cho đến vô tánh tự tánh không. Nên tịnh bốn niệm trụ cho đến tám thánh đạo chi. Như vậy, cho đến nên tịnh Phật mười lực cho đến mười tám pháp Phật bất cộng. Cho đến nên tịnh nhất thiết trí, đạo tướng trí, nhất thiết tướng trí. Nên tịnh Bồ đề đạo.

Bấy giờ, cụ thọ Xá Lợi Tử hỏi Thiện Hiện rằng: Sao là Bồ tát Ma ha tát khi tu hành sáu thứ Ba la mật đa tịnh Bồ đề đạo? Thiện Hiện đáp rằng: Xá Lợi Tử! Sáu Ba la mật đa mỗi có hai thứ: một là thế gian, hai là xuất thế gian.

Xá Lợi Tử hỏi: Sao là bố thí Ba la mật đa thế gian? Sao là bố thí Ba la mật đa xuất thế gian?

Thiện Hiện đáp rằng: Xá Lợi Tử! Nếu Bồ tát Ma ha tát làm đại thí chủ, năng thí tất cả Sa môn, Bà la môn, kẻ nghèo, bệnh, côi quả, đi đường, ăn xin, cần ăn cho ăn, cần uống cho uống, cần xe cho xe, cần áo cho áo, cần hương hoa cho hương hoa, cần đồ trang nghiêm cho đồ trang nghiêm, cần nhà cửa cho nhà cửa, cần thuốc chữa cho thuốc chữa, cần đèn sáng cho đèn sáng, cần đồ ngồi nằm cho đồ ngồi nằm. Tất cả như thế tùy kia cần dùng, các đồ giúp sống thảy đều thí cho. Nếu lại có đến xin nam cho nam, xin nữ cho nữ, xin vợ hầu cho vợ hầu; xin quan phẩm cho quan phẩm, xin nước thành cho nước thành, xin ngôi vua cho ngôi vua, xin đầu mắt cho đầu mắt, xin tai mũi cho tai mũi, xin tay chân cho tay chân, xin lóng đốt cho lóng đốt, xin máu thịt cho máu thịt, xin xương tủy cho xương tủy, xin tôi tớ cho tôi tớ, xin sanh loại cho sanh loại. Tất cả như thế tùy kia cần xin vật nội ngoại thảy đều thí cho. Tuy làm thí này mà có chỗ nương là khởi nghĩ đây: Ta thí kia nhận, ta làm thí chủ, ta chẳng tham lam, ta theo lời Phật dạy năng xả tất cả, ta hành bố thí Ba la mật đa. Kia khi hành thí đem hữu sở đắc mà làm phương tiện, cùng các hữu tình bình đẳng chung có hồi hướng Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Lại khởi nghĩ này: Ta đem phước đây thí các hữu tình, khiến được an vui đời này đời sau cho đến chứng được Vô dư Niết bàn. Kia chấp ba luân mà hành bố thí. Những gì là ba? Chỗ gọi tưởng mình, tưởng người, tưởng thí. Bởi chấp ba luân đây mà hành thí, nên gọi thế gian bố thí Ba la mật đa. Duyên nào thí đây gọi là thế gian? Vì cùng thế gian đồng chung hành vậy, chẳng động chẳng ra khỏi pháp thế gian vậy. Do đây nên nói thế gian bố thí Ba la mật đa.

Xá Lợi Tử! Nếu Bồ tát Ma ha tát khi hành bố thí ba luân thanh tịnh. Những gì là ba? Một là chẳng chấp ta là kẻ thí, hai là chẳng chấp kia là kẻ nhận, ba là chẳng đắm thí và quả thí. Bồ tát Ma ha tát này khi hành bố thí ba luân thanh tịnh. Lại Xá Lợi Tử! Nếu Bồ tát Ma ha tát đem đại bi làm thượng thủ, sở tu thí phước khắp thí hữu tình. Đối các hữu tình đều vô sở đắc. Tuy cùng hữu tình bình đẳng chung có, hồi hướng Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề mà với trong ấy chẳng thấy chút tướng, bởi đều vô sở chấp mà hành thí, nên gọi xuất thế bố thí Ba la mật đa. Duyên nào thí đây gọi xuất thế gian? Vì chẳng cùng thế gian đồng chung hành vậy, năng động năng vượt khỏi pháp thế gian vậy. Do đây nên nói xuất thế bố thí Ba la mật đa.

Xá Lợi Tử nói: Sao là thế gian tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tĩnh lự, bát nhã Ba la mật đa? Sao là xuất thế gian tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tĩnh lự, bát nhã Ba la mật đa? Thiện Hiện đáp rằng: Xá Lợi Tử! Nếu Bồ tát Ma ha tát khi tu hành tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tĩnh lự, bát nhã có chỗ nương ấy, đắm ba luân, nên gọi thế gian Ba la mật đa. Vì cùng thế gian đồng chung hành vậy, chẳng động chẳng vượt khỏi pháp thế gian vậy. Nếu Bồ tát Ma ha tát khi tu hành tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tĩnh lự, bát nhã không chỗ nương ấy, ba luân tịnh, nên gọi xuất thế gian Ba la mật đa. Vì chẳng cùng thế gian đồng chung hành vậy, năng động năng vượt khỏi pháp thế gian vậy.

Xá Lợi Tử! Bồ tát Ma ha tát khi tu hành sáu thứ Ba la mật đa như thế tịnh Bồ đề đạo.

Bấy giờ, cụ thọ Xá Lợi Tử hỏi Thiện Hiện rằng: Sao gọi đạo Bồ đề Bồ tát Ma ha tát?

Thiện Hiện đáp rằng: Xá Lợi Tử! Bố thí Ba la mật đa cho đến bát nhã Ba la mật đa là đạo Bồ đề Bồ tát Ma ha tát. Bốn niệm trụ cho đến tám thánh đạo chi là đạo Bồ đề Bồ tát Ma ha tát. Không giải thoát môn, vô tướng, vô nguyện giải thoát môn là đạo Bồ đề Bồ tát Ma ha tát. Nội không cho đến vô tánh tự tánh không là đạo Bồ đề Bồ tát Ma ha tát. Chơn như, pháp giới, thật tế, bất tư nghì giới thảy là đạo Bồ đề Bồ tát Ma ha tát. Tất cả tam ma địa môn, tất cả đà la ni môn là đạo Bồ đề Bồ tát Ma ha tát. Phật mười lực cho đến mười tám pháp Phật bất cộng là đạo Bồ đề Bồ tát Ma ha tát.

Xá Lợi Tử! Nhóm đại công đức vô lượng vô biên như thế thảy đều là đạo Bồ đề Bồ tát Ma ha tát.

Khi ấy, Xá Lợi Tử khen Thiện Hiện rằng: Hay thay, hay thay. Thật như đã nói. Thiện Hiện! Nhóm đại công đức như thế, vì do thế lực nhũng Ba la mật đa nào làm được?

Thiện Hiện đáp rằng: Xá Lợi Tử! Nhóm đại công đức đã nói như thế đều do thế lực Bát nhã Ba la mật đa làm nên. Vì cớ sao? Xá Lợi Tử! Bát nhã Ba la mật đa như thế năng làm mẹ cho tất cả thiện pháp. Tất cả thiện pháp Thanh văn, Độc giác, Bồ tát, chư Phật từ đây sanh vậy.

Xá Lợi Tử! Bát nhã Ba la mật đa như thế khắp năng nhiếp nhận tất cả thiện pháp. Tất cả thiện pháp Thanh văn, Độc giác, Bồ tát, chư Phật nương đây trụ vậy.

Xá Lợi Tử! Chúng Bồ tát Ma ha tát qua khứ tu hành Bát nhã Ba la mật đa cực viên mãn, nên đã chứng Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Chúng Bồ tát Ma ha tát vị lai tu hành Bát nhã Ba la mật đa cực viên mãn, nên sẽ chứng Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Chúng Bồ tát Ma ha tát hiện tại mười phương vô lượng thế giới chư Phật tu hành Bát nhã Ba la mật đa cực viên mãn hiện chứng Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Nếu Bồ tát Ma ha tát nghe thuyết Bát nhã Ba la mật đa tâm không nghi lầm, cũng không mê muội. Phải biết Bồ tát Ma ha tát này trụ trụ như thế hằng chẳng bỏ lìa, nghĩa là vô sở đắc mà làm phương tiện, thường siêng cứu vớt tất cả hữu tình. Phải biết Bồ tát Ma ha tát này trọn nên tác ý thù thắng như thế, nghĩa là tác ý tương ưng đại bi.

Khi ấy, Xá Lợi Tử bảo Thiện Hiện rằng: Nếu Bồ tát Ma ha tát trụ trụ như thế, hằng chẳng bỏ lìa, trọn nên tác ý tương ưng đại bi ấy, thời tất cả hữu tình lẽ cũng thành Bồ tát Ma ha tát trọn. Sở dĩ vì sao? Vì tất cả hữu tình cũng trụ nơi đây và tác ý này thường chẳng bỏ lìa, thời các Bồ tát Ma ha tát cùng tất cả hữu tình lẽ không sai khác?

Bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện đáp Xá Lợi Tử rằng: Hay thay, hay thay. Thật như đã nói. Năng như thật biết ý tôi muốn nói. Tuy như nạn tôi mà thành lập nghĩa tôi. Vì cớ sao? Xá Lợi Tử! Hữu tình phi hữu, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng phi hữu. Hữu tình vô thật, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vô thật. Hữu tình vô tánh, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vô tánh. Hữu tình không, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng không. Hữu tình xa lìa, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng xa lìa. Hữu tình vắng lặng, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vắng lặng. Hữu tình vô giác tri, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vô giác tri.

Xá Lợi Tử! Sắc cho đến thức phi hữu, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng phi hữu. Sắc cho đến thức vô thật, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vô thật. Sắc cho đến thức vô tánh, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vô tánh. Sắc cho đến thức không, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng không. Sắc cho đến thức xa lìa, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng xa lìa. Sắc cho đến thức vắng lặng, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vắng lặng. Sắc cho đến thức vô giác tri, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vô giác tri.

Xá Lợi Tử! Nhãn xứ cho đến ý xứ phi hữu, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng phi hữu. Nhãn xứ cho đến ý xứ vô thật, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vô thật. Nhãn xứ cho đến ý xứ vô tánh, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vô tánh. Nhãn xứ cho đến ý xứ không, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng không. Nhãn xứ cho đến ý xứ xa lìa, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng xa lìa. Nhãn xứ cho đến ý xứ vắng lặng, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vắng lặng. Nhãn xứ cho đến ý xứ vô giác tri, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vô giác tri.

Xá Lợi Tử! Sắc xứ cho đến pháp xứ phi hữu, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng phi hữu. Sắc xứ cho đến pháp xứ vô thật, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vô thật. Sắc xứ cho đến pháp xứ vô tánh, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vô tánh. Sắc xứ cho đến pháp xứ không, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng không. Sắc xứ cho đến pháp xứ xa lìa, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng xa lìa. Sắc xứ cho đến pháp xứ vắng lặng, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vắng lặng. Sắc xứ cho đến pháp xứ vô giác tri, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vô giác tri.

Xá Lợi Tử! Nhãn giới cho đến ý giới phi hữu, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng phi hữu. Nhãn giới cho đến ý giới vô thật, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vô thật. Nhãn giới cho đến ý giới vô tánh, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vô tánh. Nhãn giới cho đến ý giới không, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng không. Nhãn giới cho đến ý giới xa lìa, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng xa lìa. Nhãn giới cho đến ý giới vắng lặng, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vắng lặng. Nhãn giới cho đến ý giới vô giác tri, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vô giác tri.

Xá Lợi Tử! Sắc giới cho đến pháp giới phi hữu, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng phi hữu. Sắc giới cho đến pháp giới vô thật, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vô thật. Sắc giới cho đến pháp giới vô tánh, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vô tánh. Sắc giới cho đến pháp giới không, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng không. Sắc giới cho đến pháp giới xa lìa, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng xa lìa. Sắc giới cho đến pháp giới vắng lặng, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vắng lặng. Sắc giới cho đến pháp giới vô giác tri, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vô giác tri.

Xá Lợi Tử! Nhãn thức giới cho đến ý thức giới phi hữu, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng phi hữu. Nhãn thức giới cho đến ý thức giới vô thật, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vô thật. Nhãn thức giới cho đến ý thức giới vô tánh, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vô tánh. Nhãn thức giới cho đến ý thức giới không, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng không. Nhãn thức giới cho đến ý thức giới xa lìa, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng xa lìa. Nhãn thức giới cho đến ý thức giới vắng lặng, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vắng lặng. Nhãn thức giới cho đến ý thức giới vô giác tri, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vô giác tri.

Xá Lợi Tử! Nhãn xúc cho đến ý xúc phi hữu, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng phi hữu. Nhãn xúc cho đến ý xúc vô thật, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vô thật. Nhãn xúc cho đến ý xúc vô tánh, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vô tánh. Nhãn xúc cho đến ý xúc không, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng không. Nhãn xúc cho đến ý xúc xa lìa, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng xa lìa. Nhãn xúc cho đến ý xúc vắng lặng, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vắng lặng. Nhãn xúc cho đến ý xúc vô giác tri, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vô giác tri.

Xá Lợi Tử! Nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ cho đến ý xúc làm duyên sanh ra các thọ phi hữu, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng phi hữu. Nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ cho đến ý xúc làm duyên sanh ra các thọ vô thật, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vô thật. Nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ cho đến ý xúc làm duyên sanh ra các thọ vô tánh, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vô tánh. Nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ cho đến ý xúc làm duyên sanh ra các thọ không, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng không. Nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ cho đến ý xúc làm duyên sanh ra các thọ xa lìa, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng xa lìa. Nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ cho đến ý xúc làm duyên sanh ra các thọ vắng lặng, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vắng lặng. Nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ cho đến ý xúc làm duyên sanh ra các thọ vô giác tri, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vô giác tri.

Xá Lợi Tử! Địa giới cho đến thức giới phi hữu, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng phi hữu. Địa giới cho đến thức giới vô thật, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vô thật. Địa giới cho đến thức giới vô tánh, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vô tánh. Địa giới cho đến thức giới không, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng không. Địa giới cho đến thức giới xa lìa, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng xa lìa. Địa giới cho đến thức giới vắng lặng, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vắng lặng. Địa giới cho đến thức giới vô giác tri, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vô giác tri.

Xá Lợi Tử! Bố thí Ba la mật đa cho đến bát nhã Ba la mật đa phi hữu, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng phi hữu. Bố thí Ba la mật đa cho đến bát nhã Ba la mật đa vô thật, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vô thật. Bố thí Ba la mật đa cho đến bát nhã Ba la mật đa vô tánh, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vô tánh. Bố thí Ba la mật đa cho đến bát nhã Ba la mật đa không, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng không. Bố thí Ba la mật đa cho đến bát nhã Ba la mật đa xa lìa, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng xa lìa. Bố thí Ba la mật đa cho đến bát nhã Ba la mật đa vắng lặng, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vắng lặng. Bố thí Ba la mật đa cho đến bát nhã Ba la mật đa vô giác tri, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vô giác tri.

Xá Lợi Tử! Nội không cho đến vô tánh tự tánh không phi hữu, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng phi hữu. Nội không cho đến vô tánh tự tánh không vô thật, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vô thật. Nội không cho đến vô tánh tự tánh không vô tánh, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vô tánh. Nội không cho đến vô tánh tự tánh không không, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng không. Nội không cho đến vô tánh tự tánh không xa lìa, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng xa lìa. Nội không cho đến vô tánh tự tánh không vắng lặng, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vắng lặng. Nội không cho đến vô tánh tự tánh không vô giác tri, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vô giác tri.

Xá Lợi Tử! Bốn niệm trụ cho đến tám thánh đạo chi phi hữu, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng phi hữu. Bốn niệm trụ cho đến tám thánh đạo chi vô thật, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vô thật. Bốn niệm trụ cho đến tám thánh đạo chi vô tánh, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vô tánh. Bốn niệm trụ cho đến tám thánh đạo chi không, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng không. Bốn niệm trụ cho đến tám thánh đạo chi xa lìa, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng xa lìa. Bốn niệm trụ cho đến tám thánh đạo chi vắng lặng, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vắng lặng. Bốn niệm trụ cho đến tám thánh đạo chi vô giác tri, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vô giác tri.

Xá Lợi Tử! Như vậy cho đến Phật mười lực cho đến mười tám pháp Phật bất cộng phi hữu, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng phi hữu. Phật mười lực cho đến mười tám pháp Phật bất cộng vô thật, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vô thật. Phật mười lực cho đến mười tám pháp Phật bất cộng vô tánh, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vô tánh. Phật mười lực cho đến mười tám pháp Phật bất cộng không, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng không. Phật mười lực cho đến mười tám pháp Phật bất cộng xa lìa, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng xa lìa. Phật mười lực cho đến mười tám pháp Phật bất cộng vắng lặng, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vắng lặng. Phật mười lực cho đến mười tám pháp Phật bất cộng vô giác tri, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vô giác tri.

Xá Lợi Tử! Tất cả tam ma địa môn, tất cả đà la ni môn phi hữu, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng phi hữu. Tất cả tam ma địa môn, tất cả đà la ni môn vô thật, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vô thật. Tất cả tam ma địa môn, tất cả đà la ni môn vô tánh, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vô tánh. Tất cả tam ma địa môn, tất cả đà la ni môn không, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng không. Tất cả tam ma địa môn, tất cả đà la ni môn xa lìa, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng xa lìa.

Tất cả tam ma địa môn, tất cả đà la ni môn vắng lặng, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vắng lặng. Tất cả tam ma địa môn, tất cả đà la ni môn vô giác tri, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vô giác tri.

Xá Lợi Tử! Nhất thiết trí, đạo tướng trí, nhất thiết tướng trí phi hữu, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng phi hữu. Nhất thiết trí, đạo tướng trí, nhất thiết tướng trí vô thật, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vô thật. Nhất thiết trí, đạo tướng trí, nhất thiết tướng trí vô tánh, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vô tánh. Nhất thiết trí, đạo tướng trí, nhất thiết tướng trí không, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng không. Nhất thiết trí, đạo tướng trí, nhất thiết tướng trí xa lìa, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng xa lìa. Nhất thiết trí, đạo tướng trí, nhất thiết tướng trí vắng lặng, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vắng lặng. Nhất thiết trí, đạo tướng trí, nhất thiết tướng trí vô giác tri, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vô giác tri.

Xá Lợi Tử! Thanh văn Bồ đề, Độc giác Bồ đề, Vô thượng Bồ đề phi hữu, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng phi hữu. Thanh văn Bồ đề, Độc giác Bồ đề, Vô thượng Bồ đề vô thật, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vô thật. Thanh văn Bồ đề, Độc giác Bồ đề, Vô thượng Bồ đề vô tánh, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vô tánh. Thanh văn Bồ đề, Độc giác Bồ đề, Vô thượng Bồ đề không, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng không. Thanh văn Bồ đề, Độc giác Bồ đề, Vô thượng Bồ đề xa lìa, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng xa lìa. Thanh văn Bồ đề, Độc giác Bồ đề, Vô thượng Bồ đề vắng lặng, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vắng lặng. Thanh văn Bồ đề, Độc giác Bồ đề, Vô thượng Bồ đề vô giác tri, nên phải biết trụ và tác ý như thế cũng vô giác tri.

Xá Lợi Tử! Bởi nhân duyên đây, các Bồ tát Ma ha tát với trụ như thế và tác ý này thường chẳng bỏ lìa, cùng các hữu tình cũng không sai khác, vì tất cả pháp không sai khác vậy.

Bấy giờ, Thế Tôn khen Thiện Hiện rằng: Hay thay, hay thay! Ngươi khéo giỏi vì các Bồ tát Ma ha tát tuyên nói Bát nhã Ba la mật đa. Đây đều sức oai thần Như Lai. Nếu có kẻ muốn vì các Bồ tát Ma ha tát tuyên nói Bát nhã Ba la mật đa đều nên như ngươi đã tuyên nói. Nếu Bồ tát Ma ha tát muốn học Bát nhã Ba la mật đa cũng đều nên theo ngươi đã thuyết mà học. Nếu Bồ tát Ma ha tát theo ngươi đã thuyết mà học Bát nhã Ba la mật đa, Bồ tát Ma ha tát này mau chứng Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, quay xe diệu pháp độ vô lượng chúng.

Khi cụ thọ Thiện Hiện vì các chúng Bồ tát Ma ha tát tuyên nói Bát nhã Ba la mật đa thẳm sâu như thế, ở thế giới Tam thiên đại thiên đây sáu thứ biến động là: Động rất động, đẳng rất động; vọt rất vọt, đẳng rất vọt; rung rất rung, đẳng rất rung; kích rất kích, đẳng rất kích; rống rất rống, đẳng rất rống; bạo rất bạo, đẳng rất bạo. Lại thế giới Tam thiên Đại thiên đây: Đông vọt Tây lặn, Tây vọt Đông lặn, Nam vọt Bắc lặn, Bắc vọt Nam lặn, giữa vọt bìa lặn, bìa vọt giữa lặn.

Bây giờ, Thế Tôn liền bèn mỉm cười. Cụ thọ Thiện Hiện thưa Phật rằng: Nhân gì duyên gì hiệm mỉm cười đây? Phật bảo: Thiện Hiện! Như Ta nay đây ở thế giới Tam thiên đại thiên này vì chúng các Bồ tát Ma ha tát tuyên nói Bát nhã Ba la mật đa, nay ở phương Đông vô lượng vô số vô biên thế giới đều có Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác cũng vì chúng các Bồ tát Ma ha tát tuyên nói Bát nhã Ba la mật đa. Phương Nam Tây Bắc bốn phía trên dưới vô lượng vô số vô biên thế giới cũng đều có Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác vì chúng các Bồ tát Ma ha tát tuyên nói Bát nhã Ba la mật đa. Như Ta nay đây ở thế giới Tam thiên đại thiên này tuyên nói Bát nhã Ba la mật đa, nên có mười hai vạn ức trời, người, a tố lạc thảy được vô sanh pháp nhẫn. Nay ở mười phương vô lượng vô số vô biên thế giới cũng đều có Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác tuyên nói Bát nhã Ba la mật đa, nên cũng đều vô lượng vô số vô biên hữu tình đều phát tâm Vô thượng Chánh Đẳng Giác được vui đại lợi.

Xem Mục Lục

Top Book

Top Book Mp3

Top Music Album

 
© Copyright 2013 - 2019 PHATAM.ORG - Chịu trách nhiệm nội dung: Thị Đức bienman0811@yahoo.com - Hỗ trợ kỹ thuật votamthoai@gmail.com